Người thì được ơn làm phép lạ, người thì được ơn nói tiên tri; kẻ thì được ơn phân định thần khí; kẻ khác thì được ơn nói các thứ tiếng lạ; kẻ khác nữa lại được ơn giải thích các tiếng lạ (1 Cor. 12:10).
1. Linh Đạo Mới
Thật là phấn khởi khi chúng ta biết cuộc sống đạo mỗi ngày một phát triển và kiên vững trong niềm tin. Từ khoảng trên 15 năm qua tại nhiều nhóm trong Cộng Đoàn và Giáo Xứ của người Việt tại Hoa Kỳ đã có lối sống đạo mới. Gọi linh đạo này là Canh Tân Đặc Sủng. Nhiều người liên kết với nhau qua sự thành tâm cầu nguyện, ca hát và suy niệm lời Chúa. Một thực hành sống đạo thật tốt lành và đạo đức. Nhiều người say sưa cầu nguyện và nhiệt tâm sống đạo. Có nhiều người vui mừng vì tâm hồn được giải thoát khỏi u mê lầm lạc và bản năng không còn bị ràng buộc vào những thói hư tật xấu. Chúng ta cùng dâng lời tạ ơn Thiên Chúa.
Chúng ta biết rằng cuộc sống đạo là một cuộc chạy đua không ngừng nghỉ. Mỗi giây phút chúng ta sống là một giây phút mới hoàn toàn. Mỗi ngày chúng ta cần ăn uống và hít thở để sống. Nếu chúng ta ngưng ăn, ngưng uống và ngưng thở chúng ta sẽ chết. Đời sống đức tin cũng thế, mỗi giây phút chúng ta phải cầu nguyện và gắn bó với sự hiện diện của Chúa trong đời. Chúng ta cần cầu nguyện liên lỉ không ngừng. Nhưng cầu nguyện không phải là ký giao kèo với Chúa một lần, mà luôn là sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa là Đấng Vô Hình.
2. Ngôn Ngữ Lạ
Sau đây tôi muốn trích nguyên văn đoạn nói về sự cầu nguyện trong Canh Tân Đặc Sủng để tìm hiểu về sự kiện nói tiếng lạ. Ông Tom Brown viết về “Speaking in Tongues” (Pentecostalism). Phần Heavenly Language ông viết: Many people inaccurately define speaking in tongues as "speaking gibberish" or "talking nonsense." The truth is, speaking in tongues is the most intelligent, perfect language in the universe. It is God's language. What language do you suppose people speak in heaven? Languages are given their name based on the countries they come from. For example, English comes from England. Spanish comes from Spain. Italian comes from Italy. Well, where does tongue come from? It comes from Heaven! Tongue is the heavenly language. It is what is spoken in heaven; the only difference is that the people in heaven understand what they are saying. Here on earth Paul says, " Thật vậy, kẻ nói tiếng lạ thì không nói với người ta, nhưng là nói với Thiên Chúa, bởi vì chẳng ai hiểu được: nhờ Thần Khí, kẻ ấy nói ra những điều nhiệm mầu (1Cor 14: 2).
Jesus says that those who believe in Him will "speak in new tongues" (Mark 16:17). The word "new" means appearing for the first time. No one had spoken these languages before. Contrary to bad theology tongues is not an ability given to preach the gospel in the language of foreigners. This would make tongues "old" languages. It is only appropriate that "new tongues" should be spoken by those of the "new birth." It is natural and normal to speak in the language of your birth. We are born again from above, therefore we should speak the language from above that language is called "new tongues." (Tom Brown, thuộc Tin lành Phái Ngũ Tuần).
3. Thánh Phaolô Viết Về Tiếng Lạ
Xin mọi người chúng ta đọc thật kỹ chương 14, thơ thứ nhất của thánh Phaolô Tông đồ gởi tín hữu thành Côrintô (1Cor 14:1-40). Để tìm hiểu ý nghĩa và nguồn ngọn của sự kiện nói tiếng lạ. Tôi không giải thích hay suy diễn thêm, vì tôi không được ơn nói tiếng lạ. Tôi chỉ xin trích lời Thánh Phaolô để chúng ta cùng tìm hiểu và học hỏi. Thơ này được thánh Phaolô bắt đầu viết cho giáo đoàn ở Côrintô khoảng năm 55, các bản thảo viết trên da thuộc và papyrus được góp nhặt thành thơ thứ nhất vào khoảng năm 90 A.D.
a. Thứ bậc các đặc sủng để mưu cầu ích chung
1 Anh em hãy cố đạt cho được đức mến, hãy khao khát những ơn của Thần Khí, nhất là ơn nói tiên tri.2 Thật vậy, kẻ nói tiếng lạ thì không nói với người ta, nhưng là nói với Thiên Chúa, bởi vì chẳng ai hiểu được: nhờ Thần Khí, kẻ ấy nói ra những điều nhiệm mầu.3 Còn người nói tiên tri thì nói với người ta để xây dựng, để khích lệ và an ủi.4 Kẻ nói tiếng lạ thì tự xây dựng chính mình; người nói tiên tri thì xây dựng Hội Thánh.5 Tôi muốn cho tất cả anh em nói các tiếng lạ, và nhất là tôi muốn cho anh em nói tiên tri. Người nói tiên tri thì cao trọng hơn người nói các tiếng lạ, trừ phi người này giải thích để xây dựng Hội Thánh.
6 Thưa anh em, giờ đây, giả như tôi đến cùng anh em mà chỉ nói các tiếng lạ, giả như lời nói của tôi không đem lại cho anh em một mặc khải, một sự hiểu biết, hay không phải là một lời tiên tri, một lời giáo huấn, thì nào có ích gì cho anh em?7 Như thế, có khác chi những nhạc cụ không hồn, như sáo như đàn: nếu âm thanh không rõ, thì làm sao nhận ra được cung nhạc tiếng đàn?8 Thật vậy, giả như kèn chỉ phát ra một tiếng vu vơ, thì ai sẽ chuẩn bị chiến đấu?9 Anh em cũng thế: nếu miệng lưỡi anh em chẳng nói những lời có thể hiểu được, thì làm sao người ta biết điều anh em nói? Anh em chỉ nói bông lông thôi!10 Trong thiên hạ, có rất nhiều thứ ngôn ngữ, nhưng không có thứ nào là vô nghĩa.11 Vậy nếu tôi không biết giá trị của ngôn ngữ, thì tôi sẽ là kẻ man dã đối với người nói, và người nói là kẻ man dã đối với tôi.12 Anh em cũng vậy: vì khao khát những ơn của Thần Khí, anh em hãy tìm kiếm để được dồi dào các ân huệ đó, nhằm xây dựng Hội Thánh.
13 Vì thế, kẻ nói tiếng lạ thì phải xin cho được ơn giải thích.14 Thật vậy, nếu tôi cầu nguyện bằng tiếng lạ thì lòng tôi cầu nguyện, nhưng trí tôi chẳng thu được kết quả gì.15 Vậy, phải làm sao? Tôi sẽ cầu nguyện với tấm lòng, nhưng cũng cầu nguyện với trí khôn nữa. Tôi sẽ ca hát với tấm lòng, nhưng cũng ca hát với trí khôn nữa.16 Quả thế, nếu bạn chỉ chúc tụng với tấm lòng thôi, thì làm sao hạng người ngoài cuộc có thể thưa "A-men" lúc bạn dâng lời tạ ơn, vì người đó không biết bạn nói gì?17 Đã hẳn, lời tạ ơn của bạn tốt đẹp thật, nhưng không xây dựng cho người khác.18 Tôi cảm tạ Thiên Chúa vì tôi nói các tiếng lạ nhiều hơn tất cả anh em,19 nhưng trong cộng đoàn, thà tôi nói năm ba tiếng có thể hiểu được để dạy dỗ kẻ khác, còn hơn là nói hàng vạn lời bằng tiếng lạ.
20 Thưa anh em, về mặt phán đoán thì đừng sống như trẻ con; về đàng dữ, sống như trẻ con thì được, nhưng về mặt phán đoán thì phải là người trưởng thành.21 Trong Lề Luật có chép: Chúa phán rằng: Ta sẽ dùng những người nói tiếng khác lạ và môi miệng người ngoại quốc mà nói với dân này; dù thế, chúng cũng chẳng nghe Ta.22 Vì thế, các tiếng lạ được dùng làm dấu hiệu, không phải cho những người tin, mà cho những kẻ không tin; còn lời ngôn sứ thì không phải là cho những kẻ không tin, mà cho những người tin.23 Vậy giả như cả cộng đoàn họp lại một nơi và mọi người đều nói các tiếng lạ, mà khi đó có người ngoài cuộc hay người không tin đi vào, thì họ chẳng bảo là anh em điên sao?24 Còn nếu mọi người đều nói tiên tri, mà có người không tin hoặc người ngoài cuộc đi vào, người đó sẽ thấy mình bị mọi người khiển trách, mọi người xét xử.25 Những điều bí ẩn trong lòng người đó sẽ bị lộ, và như thế, người đó sẽ sấp mình xuống mà thờ lạy Thiên Chúa, tuyên bố rằng: "Hẳn thật, Thiên Chúa ở giữa anh em."
b. Các đặc sủng. Quy luật thực tiễn
26 Vậy, thưa anh em, phải kết luận thế nào? Khi anh em hội họp, người thì hát thánh ca, người thì giảng dạy, người thì nói lời mặc khải, người thì nói tiếng lạ, người thì giải nghĩa: tất cả những điều ấy đều phải nhằm xây dựng Hội Thánh.27 Nếu có nói tiếng lạ, thì chỉ hai hoặc tối đa ba người nói thôi, mỗi người cứ theo phiên mà nói, và phải có một người giải thích.28 Nếu không có người giải thích, thì phải giữ thinh lặng trong cộng đoàn, mỗi người chỉ nói với mình và với Thiên Chúa thôi.29 Về các ngôn sứ, chỉ nên có hai hoặc ba người lên tiếng thôi, còn những người khác thì phân định.30 Nếu có ai ngồi đó được ơn mặc khải, thì người đang nói phải im đi.31 Mọi người có thể lần lượt nói tiên tri, để ai nấy đều được học hỏi và khích lệ.32 Ngôn sứ thì làm chủ những cảm hứng tiên tri của mình,33 bởi vì Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa gây hỗn loạn, nhưng là Thiên Chúa tạo bình an. Như thói quen trong mọi cộng đoàn dân thánh,34 phụ nữ phải làm thinh trong các buổi họp, vì họ không được phép lên tiếng; trái lại, họ phải sống phục tùng như chính Lề Luật dạy.35 Nếu họ muốn tìm hiểu điều gì, thì cứ về nhà hỏi chồng, bởi vì phụ nữ mà lên tiếng trong cộng đoàn thì không còn thể thống gì.
36 Lời Thiên Chúa có phát xuất từ anh em không? Hay lời ấy chỉ đến với một mình anh em mà thôi?37 Nếu ai tưởng mình là ngôn sứ hoặc được Thần Khí linh hứng, thì hãy nhìn nhận rằng các điều tôi viết đây là mệnh lệnh của Chúa.38 Ai không nhận biết điều ấy, thì cũng không được Chúa biết đến.39 Cho nên, thưa anh em, anh em hãy khao khát ơn nói tiên tri và đừng ngăn cấm nói các tiếng lạ.40 Nhưng hãy làm mọi sự cách trang nghiêm và có trật tự.
4. Đặc Sủng Tiếng Lạ
Trên đây là trích toàn chương 14 trong thơ của Thánh Phaolô gởi cho giáo đoàn Côrintô. Đặc Sủng nói tiếng lạ đã bị quên lãng qua gần 20 thế kỷ. Cho đến khi Phái Ngũ Tuần xuất hiện sau năm 1906, chủ trương khơi dậy ơn đặc sủng này. Gắn liền với hiện tượng nói các tiếng lạ và với kinh nghiệm được thanh tẩy trong Thánh Thần. Vào giữa thế kỷ 20, kinh nghiệm đoàn sủng bắt đầu được chia sẻ bởi một số thành viên của các giáo hội cổ điển, gồm cả một số thành phần trong Giáo Hội Công Giáo. Và cho tới cuối thập niên 60, năm 1967, phong trào Canh Tân Đặc Sủng thấy xuất hiện nơi một số nhóm và cộng đoàn trong Giáo Hội Công Giáo. Và đặc biệt, phong trào Canh Tân Đặc Sủng xuất hiện tại một số nhóm nơi các cộng đoàn công giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ và một số cộng đoàn ở các nước lân cận. Đã có nhiều người cho biết rằng họ đã lãnh nhận đặc sủng nói tiếng lạ trong khi cầu nguyện.
Dựa vào lời của Thánh Phaolô, đã có rất nhiều lời giải thích, loại suy, suy tư thần học, nguyện gẫm và áp dụng vào cuộc sống đạo. Chúng ta phải rất trân trọng các ơn đặc sủng. Nhận lãnh ơn đặc sủng là để xây dựng Giáo Hội trong tình yêu và hiệp nhất. Vậy tất cả những ai thật sự được lãnh nhận những đặc sủng ơn lạ này, hãy hết sức chuyên cần sống tốt, thánh thiện và hãy trở nên khí cụ của đức ái và lòng chân thành. Đây là một hồng ân cao cả vượt trên hết mọi sự, trên cả thần thánh và con người, vì họ nói tiếng của trời cao và nói với Thiên Chúa. Những ai nhận được hồng phúc này, hãy trân trọng vì miệng lưỡi của chính mình đã được nói tiếng lạ với Thiên Chúa. Nhưng chúng ta cũng biết Thiên Chúa của tình yêu, chẳng nhẽ Thiên Chúa chỉ có nghe, mà không có đáp lời. Hỏi có ai đã nghe được Thiên Chúa nói ngôn ngữ nào chưa? Nếu con người trần thế dùng ngôn ngữ của trời cao để nói với Thiên Chúa, vậy là con người đã bước thật gần đến Thiên Chúa vô hình rồi đó!!!
5. Ơn Nói Tiếng Lạ
Khi Thiên Chúa ban ơn đặc sủng riêng cho ai, thì Thiên Chúa cũng đã trao cho họ một sứ mệnh. Sứ mệnh giống như các tông đồ ngày xưa, đi tiên phong làm nhân chứng cho Chúa. Đây là sứ mệnh trực tiếp từ trời cao, chứ không phải do con người, như xưa thánh Phaolô tông đồ đã nhận lãnh sứ mệnh trực tiếp từ Chúa Giêsu Phục Sinh. Vậy đang khi ông đi đường và đến gần Đamát, thì bỗng nhiên có một luồng ánh sáng từ trời chiếu xuống bao phủ lấy ông. Ông ngã xuống đất và nghe có tiếng nói với ông: "Saun, Saun, tại sao ngươi bắt bớ Ta?" Ông nói: "Thưa Ngài, Ngài là ai?" Người đáp: "Ta là Giêsu mà ngươi đang bắt bớ (TĐCV 9:3-5). Phaolô đã trở nên tông đồ nhiệt thành rao giảng tin mừng và dám hy sinh mạng sống vì Chúa Kitô. Chúng ta biết rằng lãnh nhận ân sủng là để trao ban và sinh lợi cho toàn thân thể mầu nhiệm của Chúa Kitô. Đây là ơn thiêng rất cao trọng và nhiệm mầu. Một số người đã tự nhận là được ơn đụng chạm và nói tiếng lạ với Thiên Chúa Cao Cả Vô Hình. Như vậy ai nhận mình đã lãnh nhận những đặc sủng trên, thì hãy tự thánh hóa và sống nhân chứng cho Chúa để nên thánh thiện.
Những ai đã lãnh nhận được đặc sủng từ trời cao như ơn nói tiếng lạ thì phải sống ơn lạ này với lòng khiêm nhượng. Đây là ơn đặc sủng, Chúa không ban ơn lạ cho chúng ta để khoe khoang hay đùa dỡn. Khi nói về ơn lạ, chúng ta phải hết sức trân quý và kính trọng. Khi môi miệng của chúng ta đã được nói tiếng lạ và nói trực tiếp với Thiên Chúa thì môi miệng đó đã được thánh hiến. Đừng bao giờ chúng ta để những lời dơ bẩn, dối trá, điêu ngoa, lừa đảo hay bất ngôn trong môi miệng mình, kẻo miệng lưỡi hóa ra ô uế. Hạnh phúc biết bao khi con người tội lỗi, yếu đuối và thấp hèn đã lãnh nhận được một thứ ngôn ngữ từ trên trời cao. Chúng ta biết rằng Chúa ban cho mỗi người một khả năng, cũng như một ân sủng riêng, như thánh Phaolô đã viết: Trong Hội Thánh, Thiên Chúa đã đặt một số người, thứ nhất là các Tông Đồ, thứ hai là các ngôn sứ, thứ ba là các thầy dạy, rồi đến những người được ơn làm phép lạ, được những đặc sủng để chữa bệnh, để giúp đỡ người khác, để quản trị, để nói các thứ tiếng lạ (1Cor 12:28).
6. Ngôn Ngữ Tình Yêu
Thiên Chúa đã yêu thương thế gian, Ngài ban chính Con Một của Ngài để mặc khải về tình yêu của Thiên Chúa. Chúa Giêsu chính là Ngôi Lời. Ngôi Lời là Lời của Thiên Chúa. Ngôi Lời đã nhập thể và ở giữa chúng ta. Thơ gởi Do-thái diễn tả: Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử. Thiên Chúa đã nhờ Người mà dựng nên vũ trụ, đã đặt Người làm Đấng thừa hưởng muôn vật muôn loài (Dt. 1, 1). Lời Thiên Chúa là lời của yêu thương. Lời Chúa có uy quyền biến đổi và chữa lành mọi sự. Lời đó chính là Ngôi Hai Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã dùng tiếng Do-thái để chia sẻ mầu nhiệm nước trời với con người. Đây là Lời hằng sống được ghi chép và truyền đạt cho chúng ta. Chúng ta có thể dùng để cầu nguyện, ca ngợi và dâng lời tạ ơn Thiên Chúa.
Đại đa số các tín hữu thuộc Giáo Hội Công giáo và Tin lành, có trên 2 tỷ tín đồ chưa được ơn đặc sủng nói tiếng lạ, trừ một số những tín hữu thuộc Phái Ngũ Tuần và một số những ông bà và anh chị em trong nhóm Canh Tân Đặc Sủng. Phần chúng ta, chúng ta cứ đặt niềm tin nơi Chúa, vì Chúa phán rằng: Thế nên Thầy bảo anh em: anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho. Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở cho (Lc. 11:9-10). Chúa Giêsu đã dạy chúng ta nhiều cách cầu nguyện: Cầu nguyện đừng lải nhải nhiều lời, cầu nguyện nơi kín đáo vào phòng đóng cửa lại, cầu nguyện liên lỉ và bền tâm, cầu nguyện với lòng khiêm tốn và lòng chân thành. Chúa Giêsu đã dạy các tông đồ cầu nguyện qua Kinh Lạy Cha. Đây là một Lời Kinh tuyệt vời nhất. Ai trong chúng ta cũng có thể đọc, học và thuộc lòng. Chúng ta có thể hiểu lời kinh, có thể thực hành và có thể gắn bó mật thiết với Thiên Chúa là Cha chúng ta. Như vậy chúng ta cũng hạnh phúc lắm lắm rồi.
Nói tóm lại, thánh Phaolô tiếp tục dạy dỗ chúng ta: Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm choẹ xoang xoảng (1Cor 13:1).Đức Tin, Đức Cậy và Đức Mến, cả ba đều tồn tại nhưng đức mến là cao trọng hơn cả. Đức mến bao gồm đức yêu thương, đức bác ái và là giới răn trọng nhất. Mến Chúa và yêu người qui tóm tất cả lề luật. Thiên Chúa là tình yêu, xin Chúa dạy chúng con biết yêu thương và mở lòng chúng con đón nhận mọi người như Chúa đã đón nhận chúng con.
1. Linh Đạo Mới
Thật là phấn khởi khi chúng ta biết cuộc sống đạo mỗi ngày một phát triển và kiên vững trong niềm tin. Từ khoảng trên 15 năm qua tại nhiều nhóm trong Cộng Đoàn và Giáo Xứ của người Việt tại Hoa Kỳ đã có lối sống đạo mới. Gọi linh đạo này là Canh Tân Đặc Sủng. Nhiều người liên kết với nhau qua sự thành tâm cầu nguyện, ca hát và suy niệm lời Chúa. Một thực hành sống đạo thật tốt lành và đạo đức. Nhiều người say sưa cầu nguyện và nhiệt tâm sống đạo. Có nhiều người vui mừng vì tâm hồn được giải thoát khỏi u mê lầm lạc và bản năng không còn bị ràng buộc vào những thói hư tật xấu. Chúng ta cùng dâng lời tạ ơn Thiên Chúa.
Chúng ta biết rằng cuộc sống đạo là một cuộc chạy đua không ngừng nghỉ. Mỗi giây phút chúng ta sống là một giây phút mới hoàn toàn. Mỗi ngày chúng ta cần ăn uống và hít thở để sống. Nếu chúng ta ngưng ăn, ngưng uống và ngưng thở chúng ta sẽ chết. Đời sống đức tin cũng thế, mỗi giây phút chúng ta phải cầu nguyện và gắn bó với sự hiện diện của Chúa trong đời. Chúng ta cần cầu nguyện liên lỉ không ngừng. Nhưng cầu nguyện không phải là ký giao kèo với Chúa một lần, mà luôn là sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa là Đấng Vô Hình.
2. Ngôn Ngữ Lạ
Sau đây tôi muốn trích nguyên văn đoạn nói về sự cầu nguyện trong Canh Tân Đặc Sủng để tìm hiểu về sự kiện nói tiếng lạ. Ông Tom Brown viết về “Speaking in Tongues” (Pentecostalism). Phần Heavenly Language ông viết: Many people inaccurately define speaking in tongues as "speaking gibberish" or "talking nonsense." The truth is, speaking in tongues is the most intelligent, perfect language in the universe. It is God's language. What language do you suppose people speak in heaven? Languages are given their name based on the countries they come from. For example, English comes from England. Spanish comes from Spain. Italian comes from Italy. Well, where does tongue come from? It comes from Heaven! Tongue is the heavenly language. It is what is spoken in heaven; the only difference is that the people in heaven understand what they are saying. Here on earth Paul says, " Thật vậy, kẻ nói tiếng lạ thì không nói với người ta, nhưng là nói với Thiên Chúa, bởi vì chẳng ai hiểu được: nhờ Thần Khí, kẻ ấy nói ra những điều nhiệm mầu (1Cor 14: 2).
Jesus says that those who believe in Him will "speak in new tongues" (Mark 16:17). The word "new" means appearing for the first time. No one had spoken these languages before. Contrary to bad theology tongues is not an ability given to preach the gospel in the language of foreigners. This would make tongues "old" languages. It is only appropriate that "new tongues" should be spoken by those of the "new birth." It is natural and normal to speak in the language of your birth. We are born again from above, therefore we should speak the language from above that language is called "new tongues." (Tom Brown, thuộc Tin lành Phái Ngũ Tuần).
3. Thánh Phaolô Viết Về Tiếng Lạ
Xin mọi người chúng ta đọc thật kỹ chương 14, thơ thứ nhất của thánh Phaolô Tông đồ gởi tín hữu thành Côrintô (1Cor 14:1-40). Để tìm hiểu ý nghĩa và nguồn ngọn của sự kiện nói tiếng lạ. Tôi không giải thích hay suy diễn thêm, vì tôi không được ơn nói tiếng lạ. Tôi chỉ xin trích lời Thánh Phaolô để chúng ta cùng tìm hiểu và học hỏi. Thơ này được thánh Phaolô bắt đầu viết cho giáo đoàn ở Côrintô khoảng năm 55, các bản thảo viết trên da thuộc và papyrus được góp nhặt thành thơ thứ nhất vào khoảng năm 90 A.D.
a. Thứ bậc các đặc sủng để mưu cầu ích chung
1 Anh em hãy cố đạt cho được đức mến, hãy khao khát những ơn của Thần Khí, nhất là ơn nói tiên tri.2 Thật vậy, kẻ nói tiếng lạ thì không nói với người ta, nhưng là nói với Thiên Chúa, bởi vì chẳng ai hiểu được: nhờ Thần Khí, kẻ ấy nói ra những điều nhiệm mầu.3 Còn người nói tiên tri thì nói với người ta để xây dựng, để khích lệ và an ủi.4 Kẻ nói tiếng lạ thì tự xây dựng chính mình; người nói tiên tri thì xây dựng Hội Thánh.5 Tôi muốn cho tất cả anh em nói các tiếng lạ, và nhất là tôi muốn cho anh em nói tiên tri. Người nói tiên tri thì cao trọng hơn người nói các tiếng lạ, trừ phi người này giải thích để xây dựng Hội Thánh.
6 Thưa anh em, giờ đây, giả như tôi đến cùng anh em mà chỉ nói các tiếng lạ, giả như lời nói của tôi không đem lại cho anh em một mặc khải, một sự hiểu biết, hay không phải là một lời tiên tri, một lời giáo huấn, thì nào có ích gì cho anh em?7 Như thế, có khác chi những nhạc cụ không hồn, như sáo như đàn: nếu âm thanh không rõ, thì làm sao nhận ra được cung nhạc tiếng đàn?8 Thật vậy, giả như kèn chỉ phát ra một tiếng vu vơ, thì ai sẽ chuẩn bị chiến đấu?9 Anh em cũng thế: nếu miệng lưỡi anh em chẳng nói những lời có thể hiểu được, thì làm sao người ta biết điều anh em nói? Anh em chỉ nói bông lông thôi!10 Trong thiên hạ, có rất nhiều thứ ngôn ngữ, nhưng không có thứ nào là vô nghĩa.11 Vậy nếu tôi không biết giá trị của ngôn ngữ, thì tôi sẽ là kẻ man dã đối với người nói, và người nói là kẻ man dã đối với tôi.12 Anh em cũng vậy: vì khao khát những ơn của Thần Khí, anh em hãy tìm kiếm để được dồi dào các ân huệ đó, nhằm xây dựng Hội Thánh.
13 Vì thế, kẻ nói tiếng lạ thì phải xin cho được ơn giải thích.14 Thật vậy, nếu tôi cầu nguyện bằng tiếng lạ thì lòng tôi cầu nguyện, nhưng trí tôi chẳng thu được kết quả gì.15 Vậy, phải làm sao? Tôi sẽ cầu nguyện với tấm lòng, nhưng cũng cầu nguyện với trí khôn nữa. Tôi sẽ ca hát với tấm lòng, nhưng cũng ca hát với trí khôn nữa.16 Quả thế, nếu bạn chỉ chúc tụng với tấm lòng thôi, thì làm sao hạng người ngoài cuộc có thể thưa "A-men" lúc bạn dâng lời tạ ơn, vì người đó không biết bạn nói gì?17 Đã hẳn, lời tạ ơn của bạn tốt đẹp thật, nhưng không xây dựng cho người khác.18 Tôi cảm tạ Thiên Chúa vì tôi nói các tiếng lạ nhiều hơn tất cả anh em,19 nhưng trong cộng đoàn, thà tôi nói năm ba tiếng có thể hiểu được để dạy dỗ kẻ khác, còn hơn là nói hàng vạn lời bằng tiếng lạ.
20 Thưa anh em, về mặt phán đoán thì đừng sống như trẻ con; về đàng dữ, sống như trẻ con thì được, nhưng về mặt phán đoán thì phải là người trưởng thành.21 Trong Lề Luật có chép: Chúa phán rằng: Ta sẽ dùng những người nói tiếng khác lạ và môi miệng người ngoại quốc mà nói với dân này; dù thế, chúng cũng chẳng nghe Ta.22 Vì thế, các tiếng lạ được dùng làm dấu hiệu, không phải cho những người tin, mà cho những kẻ không tin; còn lời ngôn sứ thì không phải là cho những kẻ không tin, mà cho những người tin.23 Vậy giả như cả cộng đoàn họp lại một nơi và mọi người đều nói các tiếng lạ, mà khi đó có người ngoài cuộc hay người không tin đi vào, thì họ chẳng bảo là anh em điên sao?24 Còn nếu mọi người đều nói tiên tri, mà có người không tin hoặc người ngoài cuộc đi vào, người đó sẽ thấy mình bị mọi người khiển trách, mọi người xét xử.25 Những điều bí ẩn trong lòng người đó sẽ bị lộ, và như thế, người đó sẽ sấp mình xuống mà thờ lạy Thiên Chúa, tuyên bố rằng: "Hẳn thật, Thiên Chúa ở giữa anh em."
b. Các đặc sủng. Quy luật thực tiễn
26 Vậy, thưa anh em, phải kết luận thế nào? Khi anh em hội họp, người thì hát thánh ca, người thì giảng dạy, người thì nói lời mặc khải, người thì nói tiếng lạ, người thì giải nghĩa: tất cả những điều ấy đều phải nhằm xây dựng Hội Thánh.27 Nếu có nói tiếng lạ, thì chỉ hai hoặc tối đa ba người nói thôi, mỗi người cứ theo phiên mà nói, và phải có một người giải thích.28 Nếu không có người giải thích, thì phải giữ thinh lặng trong cộng đoàn, mỗi người chỉ nói với mình và với Thiên Chúa thôi.29 Về các ngôn sứ, chỉ nên có hai hoặc ba người lên tiếng thôi, còn những người khác thì phân định.30 Nếu có ai ngồi đó được ơn mặc khải, thì người đang nói phải im đi.31 Mọi người có thể lần lượt nói tiên tri, để ai nấy đều được học hỏi và khích lệ.32 Ngôn sứ thì làm chủ những cảm hứng tiên tri của mình,33 bởi vì Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa gây hỗn loạn, nhưng là Thiên Chúa tạo bình an. Như thói quen trong mọi cộng đoàn dân thánh,34 phụ nữ phải làm thinh trong các buổi họp, vì họ không được phép lên tiếng; trái lại, họ phải sống phục tùng như chính Lề Luật dạy.35 Nếu họ muốn tìm hiểu điều gì, thì cứ về nhà hỏi chồng, bởi vì phụ nữ mà lên tiếng trong cộng đoàn thì không còn thể thống gì.
36 Lời Thiên Chúa có phát xuất từ anh em không? Hay lời ấy chỉ đến với một mình anh em mà thôi?37 Nếu ai tưởng mình là ngôn sứ hoặc được Thần Khí linh hứng, thì hãy nhìn nhận rằng các điều tôi viết đây là mệnh lệnh của Chúa.38 Ai không nhận biết điều ấy, thì cũng không được Chúa biết đến.39 Cho nên, thưa anh em, anh em hãy khao khát ơn nói tiên tri và đừng ngăn cấm nói các tiếng lạ.40 Nhưng hãy làm mọi sự cách trang nghiêm và có trật tự.
4. Đặc Sủng Tiếng Lạ
Trên đây là trích toàn chương 14 trong thơ của Thánh Phaolô gởi cho giáo đoàn Côrintô. Đặc Sủng nói tiếng lạ đã bị quên lãng qua gần 20 thế kỷ. Cho đến khi Phái Ngũ Tuần xuất hiện sau năm 1906, chủ trương khơi dậy ơn đặc sủng này. Gắn liền với hiện tượng nói các tiếng lạ và với kinh nghiệm được thanh tẩy trong Thánh Thần. Vào giữa thế kỷ 20, kinh nghiệm đoàn sủng bắt đầu được chia sẻ bởi một số thành viên của các giáo hội cổ điển, gồm cả một số thành phần trong Giáo Hội Công Giáo. Và cho tới cuối thập niên 60, năm 1967, phong trào Canh Tân Đặc Sủng thấy xuất hiện nơi một số nhóm và cộng đoàn trong Giáo Hội Công Giáo. Và đặc biệt, phong trào Canh Tân Đặc Sủng xuất hiện tại một số nhóm nơi các cộng đoàn công giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ và một số cộng đoàn ở các nước lân cận. Đã có nhiều người cho biết rằng họ đã lãnh nhận đặc sủng nói tiếng lạ trong khi cầu nguyện.
Dựa vào lời của Thánh Phaolô, đã có rất nhiều lời giải thích, loại suy, suy tư thần học, nguyện gẫm và áp dụng vào cuộc sống đạo. Chúng ta phải rất trân trọng các ơn đặc sủng. Nhận lãnh ơn đặc sủng là để xây dựng Giáo Hội trong tình yêu và hiệp nhất. Vậy tất cả những ai thật sự được lãnh nhận những đặc sủng ơn lạ này, hãy hết sức chuyên cần sống tốt, thánh thiện và hãy trở nên khí cụ của đức ái và lòng chân thành. Đây là một hồng ân cao cả vượt trên hết mọi sự, trên cả thần thánh và con người, vì họ nói tiếng của trời cao và nói với Thiên Chúa. Những ai nhận được hồng phúc này, hãy trân trọng vì miệng lưỡi của chính mình đã được nói tiếng lạ với Thiên Chúa. Nhưng chúng ta cũng biết Thiên Chúa của tình yêu, chẳng nhẽ Thiên Chúa chỉ có nghe, mà không có đáp lời. Hỏi có ai đã nghe được Thiên Chúa nói ngôn ngữ nào chưa? Nếu con người trần thế dùng ngôn ngữ của trời cao để nói với Thiên Chúa, vậy là con người đã bước thật gần đến Thiên Chúa vô hình rồi đó!!!
5. Ơn Nói Tiếng Lạ
Khi Thiên Chúa ban ơn đặc sủng riêng cho ai, thì Thiên Chúa cũng đã trao cho họ một sứ mệnh. Sứ mệnh giống như các tông đồ ngày xưa, đi tiên phong làm nhân chứng cho Chúa. Đây là sứ mệnh trực tiếp từ trời cao, chứ không phải do con người, như xưa thánh Phaolô tông đồ đã nhận lãnh sứ mệnh trực tiếp từ Chúa Giêsu Phục Sinh. Vậy đang khi ông đi đường và đến gần Đamát, thì bỗng nhiên có một luồng ánh sáng từ trời chiếu xuống bao phủ lấy ông. Ông ngã xuống đất và nghe có tiếng nói với ông: "Saun, Saun, tại sao ngươi bắt bớ Ta?" Ông nói: "Thưa Ngài, Ngài là ai?" Người đáp: "Ta là Giêsu mà ngươi đang bắt bớ (TĐCV 9:3-5). Phaolô đã trở nên tông đồ nhiệt thành rao giảng tin mừng và dám hy sinh mạng sống vì Chúa Kitô. Chúng ta biết rằng lãnh nhận ân sủng là để trao ban và sinh lợi cho toàn thân thể mầu nhiệm của Chúa Kitô. Đây là ơn thiêng rất cao trọng và nhiệm mầu. Một số người đã tự nhận là được ơn đụng chạm và nói tiếng lạ với Thiên Chúa Cao Cả Vô Hình. Như vậy ai nhận mình đã lãnh nhận những đặc sủng trên, thì hãy tự thánh hóa và sống nhân chứng cho Chúa để nên thánh thiện.
Những ai đã lãnh nhận được đặc sủng từ trời cao như ơn nói tiếng lạ thì phải sống ơn lạ này với lòng khiêm nhượng. Đây là ơn đặc sủng, Chúa không ban ơn lạ cho chúng ta để khoe khoang hay đùa dỡn. Khi nói về ơn lạ, chúng ta phải hết sức trân quý và kính trọng. Khi môi miệng của chúng ta đã được nói tiếng lạ và nói trực tiếp với Thiên Chúa thì môi miệng đó đã được thánh hiến. Đừng bao giờ chúng ta để những lời dơ bẩn, dối trá, điêu ngoa, lừa đảo hay bất ngôn trong môi miệng mình, kẻo miệng lưỡi hóa ra ô uế. Hạnh phúc biết bao khi con người tội lỗi, yếu đuối và thấp hèn đã lãnh nhận được một thứ ngôn ngữ từ trên trời cao. Chúng ta biết rằng Chúa ban cho mỗi người một khả năng, cũng như một ân sủng riêng, như thánh Phaolô đã viết: Trong Hội Thánh, Thiên Chúa đã đặt một số người, thứ nhất là các Tông Đồ, thứ hai là các ngôn sứ, thứ ba là các thầy dạy, rồi đến những người được ơn làm phép lạ, được những đặc sủng để chữa bệnh, để giúp đỡ người khác, để quản trị, để nói các thứ tiếng lạ (1Cor 12:28).
6. Ngôn Ngữ Tình Yêu
Thiên Chúa đã yêu thương thế gian, Ngài ban chính Con Một của Ngài để mặc khải về tình yêu của Thiên Chúa. Chúa Giêsu chính là Ngôi Lời. Ngôi Lời là Lời của Thiên Chúa. Ngôi Lời đã nhập thể và ở giữa chúng ta. Thơ gởi Do-thái diễn tả: Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử. Thiên Chúa đã nhờ Người mà dựng nên vũ trụ, đã đặt Người làm Đấng thừa hưởng muôn vật muôn loài (Dt. 1, 1). Lời Thiên Chúa là lời của yêu thương. Lời Chúa có uy quyền biến đổi và chữa lành mọi sự. Lời đó chính là Ngôi Hai Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã dùng tiếng Do-thái để chia sẻ mầu nhiệm nước trời với con người. Đây là Lời hằng sống được ghi chép và truyền đạt cho chúng ta. Chúng ta có thể dùng để cầu nguyện, ca ngợi và dâng lời tạ ơn Thiên Chúa.
Đại đa số các tín hữu thuộc Giáo Hội Công giáo và Tin lành, có trên 2 tỷ tín đồ chưa được ơn đặc sủng nói tiếng lạ, trừ một số những tín hữu thuộc Phái Ngũ Tuần và một số những ông bà và anh chị em trong nhóm Canh Tân Đặc Sủng. Phần chúng ta, chúng ta cứ đặt niềm tin nơi Chúa, vì Chúa phán rằng: Thế nên Thầy bảo anh em: anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho. Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở cho (Lc. 11:9-10). Chúa Giêsu đã dạy chúng ta nhiều cách cầu nguyện: Cầu nguyện đừng lải nhải nhiều lời, cầu nguyện nơi kín đáo vào phòng đóng cửa lại, cầu nguyện liên lỉ và bền tâm, cầu nguyện với lòng khiêm tốn và lòng chân thành. Chúa Giêsu đã dạy các tông đồ cầu nguyện qua Kinh Lạy Cha. Đây là một Lời Kinh tuyệt vời nhất. Ai trong chúng ta cũng có thể đọc, học và thuộc lòng. Chúng ta có thể hiểu lời kinh, có thể thực hành và có thể gắn bó mật thiết với Thiên Chúa là Cha chúng ta. Như vậy chúng ta cũng hạnh phúc lắm lắm rồi.
Nói tóm lại, thánh Phaolô tiếp tục dạy dỗ chúng ta: Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm choẹ xoang xoảng (1Cor 13:1).Đức Tin, Đức Cậy và Đức Mến, cả ba đều tồn tại nhưng đức mến là cao trọng hơn cả. Đức mến bao gồm đức yêu thương, đức bác ái và là giới răn trọng nhất. Mến Chúa và yêu người qui tóm tất cả lề luật. Thiên Chúa là tình yêu, xin Chúa dạy chúng con biết yêu thương và mở lòng chúng con đón nhận mọi người như Chúa đã đón nhận chúng con.