Vấn Đề Hôn Nhân Đồng Phái
Chúng ta đã nhìn vấn đề đồng phái (đồng giới) qua lăng kính THXT của ĐGH Gioan Phaolô II cũng như dưới góc cạnh luân lý. Hôm nay, xin giới thiệu cùng bạn đọc một cái nhìn khác, nặng về mặt truyền thống, xã hội, giáo dục và gia đình về một vấn đề ngày càng trở nên nóng hổi: đó là hôn nhân đồng phái. Quan điểm này rất phù hợp với tinh thần Công Giáo và đã được đăng dưới tựa đề “The Case Against Same-Sex Marriage” trên Tạp Chí “Crisis”, số tháng Giêng 2004, đúng trong thời điểm Ông Tân Thị Truởng Thành Phố San Francisco đang lập kỷ lục thế giới là chỉ trong một thời gian ngắn đã ký cả hàng ngàn tờ “Công Nhận Kết Hôn Đồng Phái” cho hàng hàng lớp lớp những cặp đồng phái nườm nượp đổ về từ khắp mọi miền trên đất nước Hoa Kỳ này. Xin lược dịch bài báo này của tác giả Tim Leslie, Dân Biểu Tiểu bang California, đại diện cho các quận hạt Placer, El Dorado, Alpine và một phần Sacramento.
Đôi Hàng về Dân Biểu Tim Leslie
Sinh năm 1942 tại Ashland, Oregon, Dân Biểu Tim Leslie di chuyển xuống miền nam California từ khi còn nhỏ. Sau khi tốt nghiệp Cử Nhân Khoa Chính Trị tại California State University, Long Beach, ông tiếp tục theo học tại USC và ra trường với bằng Cao Học Quản Trị.
Trước khi đi vào chính trường, ông đã thành lập cơ quan “Lực Lượng Đặc Nhiệm Chống Lạm Dụng Ma Túy.” Năm 1985, ông được Thống Đốc Deukmejian chỉ định làm Cố Vấn Tiểu Bang về các Chương Trình Phòng Chống Ma Túy. Ông bước vào toà nhà Quốc Hội Tiểu Bang từ năm 1986. Ông chủ trương thăng tiến giáo dục và chăm sóc sức khỏe, tăng cường an toàn công cộng, xây dựng một nền kinh tế vững mạnh, bảo vệ gia đình và bênh vực cho các nhu cầu và quyền lợi dân cư vùng nông thôn. Riêng về mặt giáo dục, ông chủ xướng đạo luật được ủng hộ mạnh mẽ là “School Accountability Act năm 1997” và là đồng tác giả đạo luật hạn chế số lượng 20 học sinh cho mỗi lớp từ Mẫu Giáo đến lớp 3. Nhờ đó ông được Ủy Ban Giám Thị Học Đường tôn phong danh hiệu “Nhà làm luật xuất sắc trong năm 1998.” Ông còn đoạt giải thưởng “Nhà Lãnh Đạo An Toàn” do Hội Bảo Vệ An Toàn Xe Cộ và Giao Thông ban tặng. Ông hiện sống với vợ là Clydene, và hai người con là Debbie và Scott cùng hai người cháu tại Tahoe City.
Luận cứ phi bác hôn nhân đồng phái
Ngoại trừ những ai sống trong hang trong hốc, chẳng ai mà không biết các mũi tấn công đang gia tăng cường độ hướng thẳng đến hôn nhân truyền thống. Tại Vermont, Canada và Massachusetts-và hôm nay tại California, khi dự luật hôn nhân đồng phái được phê chuẩn, thì những tiếng trống khai chiến chống lại hôn nhân truyền thống đã vang lên ầm ĩ hơn bao giờ hết.
Cuộc công kích sẽ không ngưng lại nếu công chúng không được xác tín về những luận cứ vững chắc và nhất quán hơn để phản bác lại những cuộc hôn phối đồng phái. Trong cuộc tranh cãi, mặc dù tôn giáo đóng một vai trò quan trọng, thế nhưng, các luận cứ xây dựng trên niềm tin thì chỉ có hiệu năng hạn hẹp, bởi lẽ thiên hạ đâu có quan tâm gì đến Thánh Kinh hoặc điều các thần học gia thường tuyên bố. Lấy tôn giáo làm điểm tựa cho luận cứ thì cùng lắm chỉ giúp cho người đã xác tín càng thâm tín hơn chứ chẳng lay chuyển được những kẻ khác.
Nhưng làm sao để gom góp được những luận cứ nhất quán và đầy nét thuyết phục? Xin thưa, bằng cách tiếp tục quy hướng về cách thấu hiểu mang tính lịch sử về hôn nhân và cùng đích cao cả nhất của nó.
Vào thời gian gần đây, ta thấy manh nha xu hướng cho rằng mục tiêu chính của hôn nhân là để lứa đôi đem lại khoái lạc lẫn cho nhau. Đây là điều khiến cho vị đồng sự của tôi là Sally Lieber (D-San Jose) đã tuyên bố rằng: “So với sự phối hợp đồng giới của những đôi lứa đồng phái mà tôi biết, tôi chẳng hề thấy hôn nhân của chính mình mang nặng yếu tố luân lý nhiều hơn chút nào.” Hẳn nhiên câu tuyên bố này chỉ có ý nghĩa nếu mục đích tối cao của hôn nhân chính là để kết bầu kết bạn và đem lại khoái lạc dục vọng cho nhau.
Nếu hiểu thế thì hoàn toàn sai trệch so với điều mọi nền văn hoá trong lịch sử thừa nhận như là trọng tâm của hôn nhân: là sinh con đẻ cái và giáo dục cho chúng nên người. Hẳn nhiên, hạnh phúc lứa đôi là điều cực kỳ quan trọng, nhưng đó không phải, và không bao giờ phải, là mục tiêu duy nhất hay chính yếu. Tại sao? Bởi vì “hạnh phúc” không tất nhiên sản sinh ra thiện ích xã hội, trong khi việc dưỡng dục con cái thì rõ ràng là đem lại các thiện ích xã hội. Như Vaticăng mới đây ghi nhận rằng: “Xã hội tồn tại được cho tới hôm nay là do gia đình, vốn được xây dựng trên hôn nhân.”
Do đó, việc xã hội chỉ ủng hộ hôn nhân truyền thống mà thôi là điều hợp lý. Trái lại, công nhận hôn phối đồng phái là điều vô nghĩa. Quả thế, ta chỉ có thể công nhận hôn phối đồng phái nếu trọng tâm của hôn nhân là hạnh phúc lứa đôi. Và nếu đúng như thế, thì quả là kỳ thị nếu ta chỉ công nhân hôn nhân dị phái mà thôi. Nhưng nếu hôn nhân còn có một mục đích cao cả hơn, thì bất kỳ điều gì làm suy hoại cơ cấu truyền thống thì cũng đe doạ làm suy hoại luôn cả cái kết quả đáng mong ước của nó: đó là việc dưỡng dục các công dân lành mạnh, đa năng và đa hiệu.
Thăng tiến phúc lợi chung
Nếu trọng tâm của chính quyền là làm thăng tiến phúc lợi chung, thì tiểu bang luôn luôn phải làm tăng triển những gì tốt đẹp cho sức khỏe, an ninh và thành tựu của xã hội. Điều này đòi hỏi tiểu bang phải có những phán quyết khôn ngoan về mỗi tầng lớp dân cư, tỉ như: Ai chưa đủ 16 tuổi thì không được lái xe; ai dưới 21 tuổi thì không đuợc uống rượu; phải tốt nghiệp trung học mới được gia nhập quân đội; thông tin về những thành phần có lý lịch hay sờ mó trẻ em phải được tiết lộ hầu giúp phụ huynh bảo vệ con em mình.
Một số người cho rằng những biện pháp khôn ngoan này mang tính “kỳ thị,” thế nhưng kỳ thị kiểu này chính là làm thăng tiến phúc lợi chung. Việc công nhận duy nhất dành cho hôn nhân dị phái cũng vận hành theo cùng một nguyên tắc như thế. Hôn nhân truyền thống là nền tảng xã hội, và xã hội không nên cổ võ hoặc nhìn nhận bất cứ điều gì làm cho ra vẻ giống với nó. Một lần nữa, lý do nằm ở chỗ liên quan đến mục đích chính yếu của hôn nhân. Sự phối hợp vợ chồng tạo ra gia đình, và gia đình là những viên gạch xây dựng nên xã hội.
Hẳn nhiên, không phải gia đình nào cũng có con có cái. Cũng như đâu phải người lính nào cũng phải ra tuyến đầu để chiến đấu, thế nhưng cứ đi lính là được hưởng phúc lợi của cựu chiến binh. Tuy nhiên, tiểu bang tặng thưởng cho mỗi cơ chế dựa trên khả năng nó cống hiến cho xã hội những lợi ích giá trị. Các chính phủ hỗ trợ hôn nhân lịch sử và dùng các chính sách để củng cố cơ chế này, bởi vì hầu như mọi sự xẩy ra ngoài xã hội, dù tốt hay xấu, đều có thể tìm ra manh mối từ nơi gia đình và đời sống gia đình.
Cuộc cách mạng hôn nhân không chỉ làm suy hoại hôn nhân và xã hội, mà còn phá hủy hôn nhân rất hữu hiệu nữa là khác. Mark Leno, vị đồng sự đồng giới nam, trong một buổi tranh luận về dự luật hôn nhân đồng phái, đã nêu câu hỏi là: “Hôn nhân liệu có mỏng dòn chăng?” Câu trả lời là đúng. Chưa bao giờ tỉ lệ hôn nhân xuống thấp như hiện nay. Năm mươi phần trăm hôn nhân kết thúc bằng ly dị [1]. Hằng năm, có hơn một triệu trẻ em trải qua kinh nghiệm ly dị của cha mẹ chúng, và do đó, chúng còn phải chịu nhiều cảnh khổ nữa [2]. Hơn bao giờ hết, nhiều đôi lứa sống chung không cần hôn phối, mà nhiều nghiên cứu cho thấy rằng điều này sẽ đưa đến một mức ly dị còn cao hơn nữa [3].
Khi đặt phối hợp đồng phái ngang tầm với hôn nhân, thái độ của xã hội đối với hôn nhân sẽ còn bị coi rẻ nhiều hơn nữa. Michael Coren, trùm sô truyền hình Canada, ghi nhận rằng: “Nếu bất chợt mà hôn nhân bị thay đổi tận căn để bao gồm cả các quý vị đồng giới nữa, thì nó sẽ mất đi cái ý nghĩa chân chính của nó. Cũng y như khi ta kể loài sâu bọ vào họ hàng nhà mèo. Như thế có phải sẽ biến sâu bọ thành mèo được chăng? Hẳn là không. Mà làm như thế chính là hủy bỏ đi cái định nghĩa về loài mèo.”Thay vì được nhìn nhận như là viên gạch then chốt và cần thiết để xây dựng nên xã hội-qua đó phần lớn mọi phúc lợi phát xuất ra-hôn nhân chỉ còn là một chọn lựa trong số hàng trăm cách lựa chọn. “Như thế hôn nhân mà chi?” con cháu chúng ta sẽ đặt câu hỏi như vậy. Hồi thập niên 60, đó chỉ là một tình cảm bên lề mà thôi. Nhưng nếu hôn nhân đồng phái mà được thông qua, nó sẽ trở thành quy luật ngay lập tức.
Và nếu điều đó xẩy ra, xã hội chúng ta sẽ còn tuột dốc với tốc độ chóng mặt hơn nữa để đi vào hỗn mang. Taị sao thế? Bởi vì sẽ chỉ còn có mỗi một việc là cổ võ sự mau tàn của hôn nhân và khuyến khích những mái gia đình vỡ đổ, để rồi trẻ em sinh ra từ trong hoàn cảnh ấy sẽ biểu lộ hằng hà sa số những động thái chống lại xã hội [4].
Ngược lại, trẻ em sinh ra từ những mái gia đình truyền thống, nếu gặp phải những vấn đề như thế, thì cũng chỉ trong một mức độ khá hạn hẹp [5]. Chúng sẽ có sức khỏe cảm xúc tốt hơn, ít phiêu lưu thực hiện những hành vi liều lĩnh, ít dấn thân vào những thói dục tình tiền hôn nhân, đồng thời khá hơn xét về mặt giáo dục và kinh tế [6]. Sau cùng, một nghiên cứu mới đây ở Utah cho thấy ly dị gây tốn phí cho liên bang, tiểu bang và chính quyền địa phương 33 tỉ đồng mỗi năm. Vì những lý do này, tiểu bang có lý để thăng tiến những hôn nhân truyền thống bền vững.
Hơn nữa, hôn nhân truyền thống đem lại sự bổ khuyết tự nhiên giữa hai phái tính, điều sẽ làm lợi cho trẻ em. Nghiên cứu cho thấy các bà mẹ đặc biệt quan tâm đến nhu cầu thể lý và cảm xúc của con cái, trong khi các người cha thì dành nỗ lực đào tạo tính khí. David Popenoe, người chủ xướng Dự Án Hôn Nhân Quốc Gia thuộc trường đại học Rutgers viết rằng: “Cả hai chiều kích đều quan yếu cho một chế độ nuôi dậy trẻ “hữu hiệu, quân bình, và nhân bản. Trong khi đó, các cặp đồng giới không bao giờ có thể cung cấp được sự bổ khuyết này, và vì thế, không thể đem lại được một “chế độ nuôi dậy trẻ hữu hiệu, quân bình và nhân bản.”
Nhưng vẫn có người lập luận rằng vì các người đồng giới nam sẽ tiếp tục xin nhận con nuôi, do đó, tại sao lại không cổ võ hôn nhân đồng phái? Làm thế có phải là cho trẻ em sự bền vững căn bản cần thiết chăng? Thưa không, là bởi vì ngay cả những nghiên cứu về đồng phái cũng cho thấy rằng các cặp đồng giới thì khác biệt một cách căn bản với những đối tác của mình. Họ lăng nhăng hơn, có nhiều vấn đề về sức khỏe thể lý và tâm thần, cũng như yểu mệnh hơn và mối quan hệ của họ có độ lâu bền vắn vỏi hơn [7].
Những khác biệt này không hề đem lại một hoàn cảnh lành mạnh để nuôi dậy con trẻ [8]. Mọi chỉ số đều chứng minh rằng những khác biệt này thực sự tai hại và còn nguy hiểm nữa [9]. Tỉ như, báo ‘Thanh Niên’ tường trình rằng các nhà nghiên cứu thấy có một “tỉ lệ bất cân xứng-29 phần trăm-các thanh niên lớn lên trong gia đình đồng phái trở thành nạn nhân những cuộc sờ mó tình dục do chính ‘cha mẹ’ họ gây nên, so với chỉ 0.6 phần trăm thanh niên lớn lên từ gia đình cha mẹ bình thường (dị phái)…Có cha/mẹ đồng phái dường như gia tăng nguy cơ loạn luân với người cha/mẹ ấy lên đến 50 phần trăm [10].
Do đó, có thể hôn nhân đồng phái giúp thăng tiến một thứ phúc lợi nào đó-phúc lợi của chính cặp đồng giới-nó không hề giúp thăng tiến phúc lợi chung, vốn nẩy sinh từ việc nuôi dậy các con em khỏe mạnh, quân bình, sở hữu các nguồn tài nguyên nội tâm cần thiết để trở thành những công dân hữu dụng cho xã hội.
Bất Trung và Lăng Nhăng
“Hôn nhân đồng phái” rồi sẽ còn tái định nghĩa hôn nhân theo cách thức mà nó đối xử với sự chung thủy trong hôn nhân.
Trong cuốn sách nhan đề “The Male Couple: How Relationships Develop” (Cặp đồng giới nam: các mối quan hệ phát triển ra sao), David McWhirter và Andrew Mattison khám phá ra rằng trong số 156 cặp mà họ nghiên cứu, chỉ trong vòng 5 năm, 75 phần trăm kinh nghiệm rằng để quan hệ được tồn tại, phải biết chấp nhận lọc lừa dối trá, miễn là người này hay người kia không vướng bận về mặt cảm xúc với người bạn tình. Trong cuốn “The Mendola Report” (Phúc trình của Mendola), Mary Mendola (đồng giới nữ) đã làm một cuộc thăm dò cấp quốc gia cho khoảng 400 cặp đồng giới. Chính bà cũng khám phá ra rằng các qúy vị đồng giới thường phân biệt độc chiếm tình dục với độc chiếm cảm xúc. Chỉ 26 phần trăm qúy vị đồng giới tin rằng cam kết là yếu tố quan trọng nhất trong quan hệ hôn nhân.
Điều này nói lên một mức độ “ngủ lang” hầu như không thể lường được. Một nghiên cứu mới đây ở Amsterdam cho thấy rằng qúy vị đồng giới nam trung bình ‘xé lẻ’ với 8 bạn tình khác nhau mỗi năm. Các nghiên cứu khác cho thấy rằng một quý vị đồng giới có trung bình từ 100 đến 500 bạn tình trong suốt đời người. Một nghiên cứu nữa cho thấy 28 phần trăm có cả 1,000 bạn tình hoặc hơn nữa; có nghiên cứu cho thấy số phần trăm là từ 10 tới 16.
Trong khi ngoại tình là một yếu tố trong các hôn nhân truyền thống, nhưng so ra vẫn tương đối hiếm hoi. Các nghiên cứu về hôn nhân cho thấy tỉ lệ chung thủy của các ông ở vào khoảng 75 đến 80 phần trăm, trong khi các bà chung tình hơn, khoảng từ 85 đến 90 phần trăm. Lý do thì đơn giản thôi: không như quan hệ đồng giới, sự thủy chung về cảm xúc và tình dục trong hôn nhân thì liên kết nhau chặt chẽ, vả lại tự định nghĩa đã phải như thế rồi. Đem áp dụng khái niệm hôn nhân cho một tình huống trong đó chung thủy không phải là quy tắc thì không chỉ là coi rẻ thể chế ấy, mà còn gây ra những hậu quả tai hại cho con trẻ nữa. Nói đơn giản, hôn nhân không còn là hôn nhân nếu không có tính cách độc chiếm.
Qúy vị đồng giới lập luận rằng hôn nhân sẽ làm cho quan hệ của họ bền vững hơn. Tuy nhiên, cứ xem mức độ lăng nhăng như vừa nói, thì thật khó mà tin nổi. Anne Peplau, nhà xã hội học thuộc Đại Học UCLA ghi nhận: “Có bằng chứng hiển nhiên là qúy vị đồng giới nam ít có quan hệ độc chiếm tình dục hơn so với người khác.”
Lập luận của họ cũng không quan tâm đến các thể chế ít cấm kỵ đối với qúy vị đồng giới. Thí dụ điển hình là chức linh mục Công Giáo La Mã. Trong thập niên 60, có lập luận cho rằng việc cho phép qúy vị đồng giới nam gia nhập hàng giáo sĩ sẽ đem lại cho họ sự tự chế tình dục và sống độc thân. Điều trái ngược đã xẩy ra. Các qúy vị này hầu hết đã cố tình làm đảo điên quy luật lịch sử của độc thân linh mục. Hơn nữa, vụ xì căng đan tình dục chấn động gây ra phần lớn do các vị đồng giới mà 90 phần trăm nạn nhân là thanh niên nay đã trưởng thành. Một nghiên cứu về 50 vị linh mục đồng giới cho thấy rằng chỉ có hai vị là “giữ mình”được. Nhiều vị rất “cởi mở” về những thói quen có nhiều tính xác thịt của mình. Do đó, ta cần nghiêm chỉnh đặt câu hỏi về những lời lẽ mật ngọt của cộng đồng đồng giới về các hậu quả của hôn nhân đồng phái.
Đáp lại, các ủng hộ viên cho giới đồng phái hướng về Vermont nơi công nhận hôn phối đồng phái về mặt dân sự, và bảo rằng trời đã sập đâu. Tuy nhiên, thiên hạ đã nói y như thế ngay sau khi có thay đổi trong luật ly dị, điều mà mãi 40 năm sau mới rõ trắng đen (Luật ly dị được công nhận khoảng thập niên 60. Phải mất nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu mới thu thập được những con số thống kê và phân tích về những hậu quả tiêu cực của ly dị đối với trẻ em, với thu nhập, vv.) Một vị nghiên cứu đồng giới nhưng chống lại hôn nhân đồng phái đã nói rằng: “Kinh nghiệm mới này vô tiền khoáng hậu trong lịch sử nhân loại, thế mà ta vẫn chưa chịu nghĩ đến các hậu quả khả hữu. Trái lại, ta đã để cho cảm xúc quét sạch hết những xem xét suy tư.”
Tái Định Nghĩa Hôn Nhân
Lý do cuối cùng cho thấy hôn nhân đồng phái gây ra hậu quả tai hại cho xã hội đến từ chính qúy vị đồng giới. Nhiều người thừa nhận rằng họ muốn định nghĩa lại hôn nhân, không chỉ để bao gồm các cặp đồng giới, mà còn muốn thay đổi luôn cả tầm mức và ý nghĩa của hôn nhân nữa.
Patti Ettelbrick, cựu giám đốc Qũy Giáo Dục và Bảo Vệ Pháp Lý Lambda, có lần đã nói: “Tình dục đồng phái không chỉ là xây nhà, ăn ngủ với người đồng giới, và vận động làm sao để tiểu bang tán thành lối sống ấy…Tình dục đồng giới có nghĩa là khuyếch trương tối đa phái tính và dục tính, cũng như cố gắng làm biến đổi chính cấu trúc của xã hội.”
Michelangelo Signorile, một nhà hoạt động và một cây viết đồng giới, nói rằng mục tiêu của qúy vị đồng giới là “tranh đấu cho hôn nhân và cho các quyền lợi đồng phái, và rồi, khi đã đạt được, thì sẽ tái định nghĩa thể chế hôn nhân một cách toàn diện, đòi cho bằng được quyền kết hôn, không như một phương cách để tuân thủ quy luật của xã hội, mà để hạ bệ một huyền thoại và biến đổi triệt để một thể chế cổ truyền…Hành động cách mạng của giới đồng phái chính là biến đổi khái niệm ‘gia đình’ một cách toàn diện.”
Cho dù giới đồng phái tỏ ra thận trọng về các ý đồ, nhưng mục tiêu của họ rất rõ ràng. Andrew Sullivan, một bình luận gia đồng giới nam, nói rằng sự “cởi mở” trong các quan hệ đồng giới nam thực ra sẽ củng cố hôn nhân dị phái bằng cách cho thấy rằng ngoại tình không tất yếu hủy hoại hôn nhân. Hơn nữa, khi “hôn nhân đồng giới nam” được cho phép, thì tính cách thủy chung của phối hợp truyền thống sẽ theo đó mà bị biến đổi. Ông cho đó là một điều tốt.
Không ai trong chúng ta ghét bỏ qúy vị có xu hướng đồng giới. Tuy nhiên, khi coi họ như những con người được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa, ta cũng vẫn phải minh định rằng chương trình hành động của họ là có vấn đề bởi vì nó đi ngược lại kế hoạch của Thiên Chúa và sẽ gây ra nguy hại nghiêm trọng cho nền văn hoá chúng ta cũng như đe dọa tương lai của nó. Đây là những luận cứ phức tạp không thể chỉ đọc lên như một thứ tin tức sốt dẻo là xong. Do đó, ta cần nói rõ tầm quan trọng then chốt của hôn nhân đối với xã hội. Nếu không, như bài học lịch sử đã cho thấy về sự tan rã của các nền văn hóa lớn, nguy cơ sẽ là sự sụp đổ cơ chế xã hội tai hại khôn lường.
_____________________________________________________________________
[1] The State of Our Unions 2003, What are your chances of divorce? National Marriage Project, Rutgers University, http:/marriage.rutgers.edu/Publications/SOOU/TEXTSOOU003.htm#ChancesofDivorce
[2] Donna Kato, “Children suffer more from divorce than previously thought,” San Jose Mercury News, 1997, http:/infidelity.com/the-kids/articles/children-suffer.htm, et al.
[3] Katherine Kertent, “We should work to save kids from divorce,” Minneapolis Star-Tribune, July 26, 2000, et al.
[4] Patrick F. Fargan and Robert Rector, “The Effects of Divorce,” The Heritage Joundation, June 5, 2000, http:/heritage.org/Research/Family/BG1373.cfm, et al.
[5] Linda J. Waite and Maggie Gallagher, The Case of Marriage, New York: Doubleday, 2000
[6]The State of Our Unions 2003 (above)
[7] Bridget Maher, “Why Marriage Should Be Privileged in Public Policy, “Family Research Council, 2003; Mary Mendola, The Mendola Report, Crown, 1980; David P. McWhirter and Andrew M. Mattison, The Male Couple: How Relationships Develop, Prentice Hall, 1984; Katherine Young and Paul Nathanson, “Answering Advocates of Gay Marriage,” presented at Emory University, Atlanta, Georgia, May 14, 2003.
[8] Tim Dailey, Ph.D., “Homosexual parenting: Placing Children at Risk,” Family Research Council, 2003.
[9] Ibid.
[10] P. Cameron and K. Cameron, “Homosexual Parents,” Adolescence 31 (1996): 772.
Chúng ta đã nhìn vấn đề đồng phái (đồng giới) qua lăng kính THXT của ĐGH Gioan Phaolô II cũng như dưới góc cạnh luân lý. Hôm nay, xin giới thiệu cùng bạn đọc một cái nhìn khác, nặng về mặt truyền thống, xã hội, giáo dục và gia đình về một vấn đề ngày càng trở nên nóng hổi: đó là hôn nhân đồng phái. Quan điểm này rất phù hợp với tinh thần Công Giáo và đã được đăng dưới tựa đề “The Case Against Same-Sex Marriage” trên Tạp Chí “Crisis”, số tháng Giêng 2004, đúng trong thời điểm Ông Tân Thị Truởng Thành Phố San Francisco đang lập kỷ lục thế giới là chỉ trong một thời gian ngắn đã ký cả hàng ngàn tờ “Công Nhận Kết Hôn Đồng Phái” cho hàng hàng lớp lớp những cặp đồng phái nườm nượp đổ về từ khắp mọi miền trên đất nước Hoa Kỳ này. Xin lược dịch bài báo này của tác giả Tim Leslie, Dân Biểu Tiểu bang California, đại diện cho các quận hạt Placer, El Dorado, Alpine và một phần Sacramento.
Đôi Hàng về Dân Biểu Tim Leslie
Sinh năm 1942 tại Ashland, Oregon, Dân Biểu Tim Leslie di chuyển xuống miền nam California từ khi còn nhỏ. Sau khi tốt nghiệp Cử Nhân Khoa Chính Trị tại California State University, Long Beach, ông tiếp tục theo học tại USC và ra trường với bằng Cao Học Quản Trị.
Trước khi đi vào chính trường, ông đã thành lập cơ quan “Lực Lượng Đặc Nhiệm Chống Lạm Dụng Ma Túy.” Năm 1985, ông được Thống Đốc Deukmejian chỉ định làm Cố Vấn Tiểu Bang về các Chương Trình Phòng Chống Ma Túy. Ông bước vào toà nhà Quốc Hội Tiểu Bang từ năm 1986. Ông chủ trương thăng tiến giáo dục và chăm sóc sức khỏe, tăng cường an toàn công cộng, xây dựng một nền kinh tế vững mạnh, bảo vệ gia đình và bênh vực cho các nhu cầu và quyền lợi dân cư vùng nông thôn. Riêng về mặt giáo dục, ông chủ xướng đạo luật được ủng hộ mạnh mẽ là “School Accountability Act năm 1997” và là đồng tác giả đạo luật hạn chế số lượng 20 học sinh cho mỗi lớp từ Mẫu Giáo đến lớp 3. Nhờ đó ông được Ủy Ban Giám Thị Học Đường tôn phong danh hiệu “Nhà làm luật xuất sắc trong năm 1998.” Ông còn đoạt giải thưởng “Nhà Lãnh Đạo An Toàn” do Hội Bảo Vệ An Toàn Xe Cộ và Giao Thông ban tặng. Ông hiện sống với vợ là Clydene, và hai người con là Debbie và Scott cùng hai người cháu tại Tahoe City.
Luận cứ phi bác hôn nhân đồng phái
Ngoại trừ những ai sống trong hang trong hốc, chẳng ai mà không biết các mũi tấn công đang gia tăng cường độ hướng thẳng đến hôn nhân truyền thống. Tại Vermont, Canada và Massachusetts-và hôm nay tại California, khi dự luật hôn nhân đồng phái được phê chuẩn, thì những tiếng trống khai chiến chống lại hôn nhân truyền thống đã vang lên ầm ĩ hơn bao giờ hết.
Cuộc công kích sẽ không ngưng lại nếu công chúng không được xác tín về những luận cứ vững chắc và nhất quán hơn để phản bác lại những cuộc hôn phối đồng phái. Trong cuộc tranh cãi, mặc dù tôn giáo đóng một vai trò quan trọng, thế nhưng, các luận cứ xây dựng trên niềm tin thì chỉ có hiệu năng hạn hẹp, bởi lẽ thiên hạ đâu có quan tâm gì đến Thánh Kinh hoặc điều các thần học gia thường tuyên bố. Lấy tôn giáo làm điểm tựa cho luận cứ thì cùng lắm chỉ giúp cho người đã xác tín càng thâm tín hơn chứ chẳng lay chuyển được những kẻ khác.
Nhưng làm sao để gom góp được những luận cứ nhất quán và đầy nét thuyết phục? Xin thưa, bằng cách tiếp tục quy hướng về cách thấu hiểu mang tính lịch sử về hôn nhân và cùng đích cao cả nhất của nó.
Vào thời gian gần đây, ta thấy manh nha xu hướng cho rằng mục tiêu chính của hôn nhân là để lứa đôi đem lại khoái lạc lẫn cho nhau. Đây là điều khiến cho vị đồng sự của tôi là Sally Lieber (D-San Jose) đã tuyên bố rằng: “So với sự phối hợp đồng giới của những đôi lứa đồng phái mà tôi biết, tôi chẳng hề thấy hôn nhân của chính mình mang nặng yếu tố luân lý nhiều hơn chút nào.” Hẳn nhiên câu tuyên bố này chỉ có ý nghĩa nếu mục đích tối cao của hôn nhân chính là để kết bầu kết bạn và đem lại khoái lạc dục vọng cho nhau.
Nếu hiểu thế thì hoàn toàn sai trệch so với điều mọi nền văn hoá trong lịch sử thừa nhận như là trọng tâm của hôn nhân: là sinh con đẻ cái và giáo dục cho chúng nên người. Hẳn nhiên, hạnh phúc lứa đôi là điều cực kỳ quan trọng, nhưng đó không phải, và không bao giờ phải, là mục tiêu duy nhất hay chính yếu. Tại sao? Bởi vì “hạnh phúc” không tất nhiên sản sinh ra thiện ích xã hội, trong khi việc dưỡng dục con cái thì rõ ràng là đem lại các thiện ích xã hội. Như Vaticăng mới đây ghi nhận rằng: “Xã hội tồn tại được cho tới hôm nay là do gia đình, vốn được xây dựng trên hôn nhân.”
Do đó, việc xã hội chỉ ủng hộ hôn nhân truyền thống mà thôi là điều hợp lý. Trái lại, công nhận hôn phối đồng phái là điều vô nghĩa. Quả thế, ta chỉ có thể công nhận hôn phối đồng phái nếu trọng tâm của hôn nhân là hạnh phúc lứa đôi. Và nếu đúng như thế, thì quả là kỳ thị nếu ta chỉ công nhân hôn nhân dị phái mà thôi. Nhưng nếu hôn nhân còn có một mục đích cao cả hơn, thì bất kỳ điều gì làm suy hoại cơ cấu truyền thống thì cũng đe doạ làm suy hoại luôn cả cái kết quả đáng mong ước của nó: đó là việc dưỡng dục các công dân lành mạnh, đa năng và đa hiệu.
Thăng tiến phúc lợi chung
Nếu trọng tâm của chính quyền là làm thăng tiến phúc lợi chung, thì tiểu bang luôn luôn phải làm tăng triển những gì tốt đẹp cho sức khỏe, an ninh và thành tựu của xã hội. Điều này đòi hỏi tiểu bang phải có những phán quyết khôn ngoan về mỗi tầng lớp dân cư, tỉ như: Ai chưa đủ 16 tuổi thì không được lái xe; ai dưới 21 tuổi thì không đuợc uống rượu; phải tốt nghiệp trung học mới được gia nhập quân đội; thông tin về những thành phần có lý lịch hay sờ mó trẻ em phải được tiết lộ hầu giúp phụ huynh bảo vệ con em mình.
Một số người cho rằng những biện pháp khôn ngoan này mang tính “kỳ thị,” thế nhưng kỳ thị kiểu này chính là làm thăng tiến phúc lợi chung. Việc công nhận duy nhất dành cho hôn nhân dị phái cũng vận hành theo cùng một nguyên tắc như thế. Hôn nhân truyền thống là nền tảng xã hội, và xã hội không nên cổ võ hoặc nhìn nhận bất cứ điều gì làm cho ra vẻ giống với nó. Một lần nữa, lý do nằm ở chỗ liên quan đến mục đích chính yếu của hôn nhân. Sự phối hợp vợ chồng tạo ra gia đình, và gia đình là những viên gạch xây dựng nên xã hội.
Hẳn nhiên, không phải gia đình nào cũng có con có cái. Cũng như đâu phải người lính nào cũng phải ra tuyến đầu để chiến đấu, thế nhưng cứ đi lính là được hưởng phúc lợi của cựu chiến binh. Tuy nhiên, tiểu bang tặng thưởng cho mỗi cơ chế dựa trên khả năng nó cống hiến cho xã hội những lợi ích giá trị. Các chính phủ hỗ trợ hôn nhân lịch sử và dùng các chính sách để củng cố cơ chế này, bởi vì hầu như mọi sự xẩy ra ngoài xã hội, dù tốt hay xấu, đều có thể tìm ra manh mối từ nơi gia đình và đời sống gia đình.
Cuộc cách mạng hôn nhân không chỉ làm suy hoại hôn nhân và xã hội, mà còn phá hủy hôn nhân rất hữu hiệu nữa là khác. Mark Leno, vị đồng sự đồng giới nam, trong một buổi tranh luận về dự luật hôn nhân đồng phái, đã nêu câu hỏi là: “Hôn nhân liệu có mỏng dòn chăng?” Câu trả lời là đúng. Chưa bao giờ tỉ lệ hôn nhân xuống thấp như hiện nay. Năm mươi phần trăm hôn nhân kết thúc bằng ly dị [1]. Hằng năm, có hơn một triệu trẻ em trải qua kinh nghiệm ly dị của cha mẹ chúng, và do đó, chúng còn phải chịu nhiều cảnh khổ nữa [2]. Hơn bao giờ hết, nhiều đôi lứa sống chung không cần hôn phối, mà nhiều nghiên cứu cho thấy rằng điều này sẽ đưa đến một mức ly dị còn cao hơn nữa [3].
Khi đặt phối hợp đồng phái ngang tầm với hôn nhân, thái độ của xã hội đối với hôn nhân sẽ còn bị coi rẻ nhiều hơn nữa. Michael Coren, trùm sô truyền hình Canada, ghi nhận rằng: “Nếu bất chợt mà hôn nhân bị thay đổi tận căn để bao gồm cả các quý vị đồng giới nữa, thì nó sẽ mất đi cái ý nghĩa chân chính của nó. Cũng y như khi ta kể loài sâu bọ vào họ hàng nhà mèo. Như thế có phải sẽ biến sâu bọ thành mèo được chăng? Hẳn là không. Mà làm như thế chính là hủy bỏ đi cái định nghĩa về loài mèo.”Thay vì được nhìn nhận như là viên gạch then chốt và cần thiết để xây dựng nên xã hội-qua đó phần lớn mọi phúc lợi phát xuất ra-hôn nhân chỉ còn là một chọn lựa trong số hàng trăm cách lựa chọn. “Như thế hôn nhân mà chi?” con cháu chúng ta sẽ đặt câu hỏi như vậy. Hồi thập niên 60, đó chỉ là một tình cảm bên lề mà thôi. Nhưng nếu hôn nhân đồng phái mà được thông qua, nó sẽ trở thành quy luật ngay lập tức.
Và nếu điều đó xẩy ra, xã hội chúng ta sẽ còn tuột dốc với tốc độ chóng mặt hơn nữa để đi vào hỗn mang. Taị sao thế? Bởi vì sẽ chỉ còn có mỗi một việc là cổ võ sự mau tàn của hôn nhân và khuyến khích những mái gia đình vỡ đổ, để rồi trẻ em sinh ra từ trong hoàn cảnh ấy sẽ biểu lộ hằng hà sa số những động thái chống lại xã hội [4].
Ngược lại, trẻ em sinh ra từ những mái gia đình truyền thống, nếu gặp phải những vấn đề như thế, thì cũng chỉ trong một mức độ khá hạn hẹp [5]. Chúng sẽ có sức khỏe cảm xúc tốt hơn, ít phiêu lưu thực hiện những hành vi liều lĩnh, ít dấn thân vào những thói dục tình tiền hôn nhân, đồng thời khá hơn xét về mặt giáo dục và kinh tế [6]. Sau cùng, một nghiên cứu mới đây ở Utah cho thấy ly dị gây tốn phí cho liên bang, tiểu bang và chính quyền địa phương 33 tỉ đồng mỗi năm. Vì những lý do này, tiểu bang có lý để thăng tiến những hôn nhân truyền thống bền vững.
Hơn nữa, hôn nhân truyền thống đem lại sự bổ khuyết tự nhiên giữa hai phái tính, điều sẽ làm lợi cho trẻ em. Nghiên cứu cho thấy các bà mẹ đặc biệt quan tâm đến nhu cầu thể lý và cảm xúc của con cái, trong khi các người cha thì dành nỗ lực đào tạo tính khí. David Popenoe, người chủ xướng Dự Án Hôn Nhân Quốc Gia thuộc trường đại học Rutgers viết rằng: “Cả hai chiều kích đều quan yếu cho một chế độ nuôi dậy trẻ “hữu hiệu, quân bình, và nhân bản. Trong khi đó, các cặp đồng giới không bao giờ có thể cung cấp được sự bổ khuyết này, và vì thế, không thể đem lại được một “chế độ nuôi dậy trẻ hữu hiệu, quân bình và nhân bản.”
Nhưng vẫn có người lập luận rằng vì các người đồng giới nam sẽ tiếp tục xin nhận con nuôi, do đó, tại sao lại không cổ võ hôn nhân đồng phái? Làm thế có phải là cho trẻ em sự bền vững căn bản cần thiết chăng? Thưa không, là bởi vì ngay cả những nghiên cứu về đồng phái cũng cho thấy rằng các cặp đồng giới thì khác biệt một cách căn bản với những đối tác của mình. Họ lăng nhăng hơn, có nhiều vấn đề về sức khỏe thể lý và tâm thần, cũng như yểu mệnh hơn và mối quan hệ của họ có độ lâu bền vắn vỏi hơn [7].
Những khác biệt này không hề đem lại một hoàn cảnh lành mạnh để nuôi dậy con trẻ [8]. Mọi chỉ số đều chứng minh rằng những khác biệt này thực sự tai hại và còn nguy hiểm nữa [9]. Tỉ như, báo ‘Thanh Niên’ tường trình rằng các nhà nghiên cứu thấy có một “tỉ lệ bất cân xứng-29 phần trăm-các thanh niên lớn lên trong gia đình đồng phái trở thành nạn nhân những cuộc sờ mó tình dục do chính ‘cha mẹ’ họ gây nên, so với chỉ 0.6 phần trăm thanh niên lớn lên từ gia đình cha mẹ bình thường (dị phái)…Có cha/mẹ đồng phái dường như gia tăng nguy cơ loạn luân với người cha/mẹ ấy lên đến 50 phần trăm [10].
Do đó, có thể hôn nhân đồng phái giúp thăng tiến một thứ phúc lợi nào đó-phúc lợi của chính cặp đồng giới-nó không hề giúp thăng tiến phúc lợi chung, vốn nẩy sinh từ việc nuôi dậy các con em khỏe mạnh, quân bình, sở hữu các nguồn tài nguyên nội tâm cần thiết để trở thành những công dân hữu dụng cho xã hội.
Bất Trung và Lăng Nhăng
“Hôn nhân đồng phái” rồi sẽ còn tái định nghĩa hôn nhân theo cách thức mà nó đối xử với sự chung thủy trong hôn nhân.
Trong cuốn sách nhan đề “The Male Couple: How Relationships Develop” (Cặp đồng giới nam: các mối quan hệ phát triển ra sao), David McWhirter và Andrew Mattison khám phá ra rằng trong số 156 cặp mà họ nghiên cứu, chỉ trong vòng 5 năm, 75 phần trăm kinh nghiệm rằng để quan hệ được tồn tại, phải biết chấp nhận lọc lừa dối trá, miễn là người này hay người kia không vướng bận về mặt cảm xúc với người bạn tình. Trong cuốn “The Mendola Report” (Phúc trình của Mendola), Mary Mendola (đồng giới nữ) đã làm một cuộc thăm dò cấp quốc gia cho khoảng 400 cặp đồng giới. Chính bà cũng khám phá ra rằng các qúy vị đồng giới thường phân biệt độc chiếm tình dục với độc chiếm cảm xúc. Chỉ 26 phần trăm qúy vị đồng giới tin rằng cam kết là yếu tố quan trọng nhất trong quan hệ hôn nhân.
Điều này nói lên một mức độ “ngủ lang” hầu như không thể lường được. Một nghiên cứu mới đây ở Amsterdam cho thấy rằng qúy vị đồng giới nam trung bình ‘xé lẻ’ với 8 bạn tình khác nhau mỗi năm. Các nghiên cứu khác cho thấy rằng một quý vị đồng giới có trung bình từ 100 đến 500 bạn tình trong suốt đời người. Một nghiên cứu nữa cho thấy 28 phần trăm có cả 1,000 bạn tình hoặc hơn nữa; có nghiên cứu cho thấy số phần trăm là từ 10 tới 16.
Trong khi ngoại tình là một yếu tố trong các hôn nhân truyền thống, nhưng so ra vẫn tương đối hiếm hoi. Các nghiên cứu về hôn nhân cho thấy tỉ lệ chung thủy của các ông ở vào khoảng 75 đến 80 phần trăm, trong khi các bà chung tình hơn, khoảng từ 85 đến 90 phần trăm. Lý do thì đơn giản thôi: không như quan hệ đồng giới, sự thủy chung về cảm xúc và tình dục trong hôn nhân thì liên kết nhau chặt chẽ, vả lại tự định nghĩa đã phải như thế rồi. Đem áp dụng khái niệm hôn nhân cho một tình huống trong đó chung thủy không phải là quy tắc thì không chỉ là coi rẻ thể chế ấy, mà còn gây ra những hậu quả tai hại cho con trẻ nữa. Nói đơn giản, hôn nhân không còn là hôn nhân nếu không có tính cách độc chiếm.
Qúy vị đồng giới lập luận rằng hôn nhân sẽ làm cho quan hệ của họ bền vững hơn. Tuy nhiên, cứ xem mức độ lăng nhăng như vừa nói, thì thật khó mà tin nổi. Anne Peplau, nhà xã hội học thuộc Đại Học UCLA ghi nhận: “Có bằng chứng hiển nhiên là qúy vị đồng giới nam ít có quan hệ độc chiếm tình dục hơn so với người khác.”
Lập luận của họ cũng không quan tâm đến các thể chế ít cấm kỵ đối với qúy vị đồng giới. Thí dụ điển hình là chức linh mục Công Giáo La Mã. Trong thập niên 60, có lập luận cho rằng việc cho phép qúy vị đồng giới nam gia nhập hàng giáo sĩ sẽ đem lại cho họ sự tự chế tình dục và sống độc thân. Điều trái ngược đã xẩy ra. Các qúy vị này hầu hết đã cố tình làm đảo điên quy luật lịch sử của độc thân linh mục. Hơn nữa, vụ xì căng đan tình dục chấn động gây ra phần lớn do các vị đồng giới mà 90 phần trăm nạn nhân là thanh niên nay đã trưởng thành. Một nghiên cứu về 50 vị linh mục đồng giới cho thấy rằng chỉ có hai vị là “giữ mình”được. Nhiều vị rất “cởi mở” về những thói quen có nhiều tính xác thịt của mình. Do đó, ta cần nghiêm chỉnh đặt câu hỏi về những lời lẽ mật ngọt của cộng đồng đồng giới về các hậu quả của hôn nhân đồng phái.
Đáp lại, các ủng hộ viên cho giới đồng phái hướng về Vermont nơi công nhận hôn phối đồng phái về mặt dân sự, và bảo rằng trời đã sập đâu. Tuy nhiên, thiên hạ đã nói y như thế ngay sau khi có thay đổi trong luật ly dị, điều mà mãi 40 năm sau mới rõ trắng đen (Luật ly dị được công nhận khoảng thập niên 60. Phải mất nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu mới thu thập được những con số thống kê và phân tích về những hậu quả tiêu cực của ly dị đối với trẻ em, với thu nhập, vv.) Một vị nghiên cứu đồng giới nhưng chống lại hôn nhân đồng phái đã nói rằng: “Kinh nghiệm mới này vô tiền khoáng hậu trong lịch sử nhân loại, thế mà ta vẫn chưa chịu nghĩ đến các hậu quả khả hữu. Trái lại, ta đã để cho cảm xúc quét sạch hết những xem xét suy tư.”
Tái Định Nghĩa Hôn Nhân
Lý do cuối cùng cho thấy hôn nhân đồng phái gây ra hậu quả tai hại cho xã hội đến từ chính qúy vị đồng giới. Nhiều người thừa nhận rằng họ muốn định nghĩa lại hôn nhân, không chỉ để bao gồm các cặp đồng giới, mà còn muốn thay đổi luôn cả tầm mức và ý nghĩa của hôn nhân nữa.
Patti Ettelbrick, cựu giám đốc Qũy Giáo Dục và Bảo Vệ Pháp Lý Lambda, có lần đã nói: “Tình dục đồng phái không chỉ là xây nhà, ăn ngủ với người đồng giới, và vận động làm sao để tiểu bang tán thành lối sống ấy…Tình dục đồng giới có nghĩa là khuyếch trương tối đa phái tính và dục tính, cũng như cố gắng làm biến đổi chính cấu trúc của xã hội.”
Michelangelo Signorile, một nhà hoạt động và một cây viết đồng giới, nói rằng mục tiêu của qúy vị đồng giới là “tranh đấu cho hôn nhân và cho các quyền lợi đồng phái, và rồi, khi đã đạt được, thì sẽ tái định nghĩa thể chế hôn nhân một cách toàn diện, đòi cho bằng được quyền kết hôn, không như một phương cách để tuân thủ quy luật của xã hội, mà để hạ bệ một huyền thoại và biến đổi triệt để một thể chế cổ truyền…Hành động cách mạng của giới đồng phái chính là biến đổi khái niệm ‘gia đình’ một cách toàn diện.”
Cho dù giới đồng phái tỏ ra thận trọng về các ý đồ, nhưng mục tiêu của họ rất rõ ràng. Andrew Sullivan, một bình luận gia đồng giới nam, nói rằng sự “cởi mở” trong các quan hệ đồng giới nam thực ra sẽ củng cố hôn nhân dị phái bằng cách cho thấy rằng ngoại tình không tất yếu hủy hoại hôn nhân. Hơn nữa, khi “hôn nhân đồng giới nam” được cho phép, thì tính cách thủy chung của phối hợp truyền thống sẽ theo đó mà bị biến đổi. Ông cho đó là một điều tốt.
Không ai trong chúng ta ghét bỏ qúy vị có xu hướng đồng giới. Tuy nhiên, khi coi họ như những con người được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa, ta cũng vẫn phải minh định rằng chương trình hành động của họ là có vấn đề bởi vì nó đi ngược lại kế hoạch của Thiên Chúa và sẽ gây ra nguy hại nghiêm trọng cho nền văn hoá chúng ta cũng như đe dọa tương lai của nó. Đây là những luận cứ phức tạp không thể chỉ đọc lên như một thứ tin tức sốt dẻo là xong. Do đó, ta cần nói rõ tầm quan trọng then chốt của hôn nhân đối với xã hội. Nếu không, như bài học lịch sử đã cho thấy về sự tan rã của các nền văn hóa lớn, nguy cơ sẽ là sự sụp đổ cơ chế xã hội tai hại khôn lường.
_____________________________________________________________________
[1] The State of Our Unions 2003, What are your chances of divorce? National Marriage Project, Rutgers University, http:/marriage.rutgers.edu/Publications/SOOU/TEXTSOOU003.htm#ChancesofDivorce
[2] Donna Kato, “Children suffer more from divorce than previously thought,” San Jose Mercury News, 1997, http:/infidelity.com/the-kids/articles/children-suffer.htm, et al.
[3] Katherine Kertent, “We should work to save kids from divorce,” Minneapolis Star-Tribune, July 26, 2000, et al.
[4] Patrick F. Fargan and Robert Rector, “The Effects of Divorce,” The Heritage Joundation, June 5, 2000, http:/heritage.org/Research/Family/BG1373.cfm, et al.
[5] Linda J. Waite and Maggie Gallagher, The Case of Marriage, New York: Doubleday, 2000
[6]The State of Our Unions 2003 (above)
[7] Bridget Maher, “Why Marriage Should Be Privileged in Public Policy, “Family Research Council, 2003; Mary Mendola, The Mendola Report, Crown, 1980; David P. McWhirter and Andrew M. Mattison, The Male Couple: How Relationships Develop, Prentice Hall, 1984; Katherine Young and Paul Nathanson, “Answering Advocates of Gay Marriage,” presented at Emory University, Atlanta, Georgia, May 14, 2003.
[8] Tim Dailey, Ph.D., “Homosexual parenting: Placing Children at Risk,” Family Research Council, 2003.
[9] Ibid.
[10] P. Cameron and K. Cameron, “Homosexual Parents,” Adolescence 31 (1996): 772.