HÔN NHÂN ĐỒNG PHÁI VÀ NGỪA THAI
Tiến Sĩ Janet E. Smith nối kết việc phủ nhận ‘Humanae Vitae’ [Luân thư Mạng Sống Con Người (MSCN) do ĐGH Phaolô VI ban hành] với việc chấp nhận Đồng Tính Luyến Ái.
Detroit, Michigan, ngày 17 tháng 10 năm 2003 (Zenit.org) - Hình thức dục tính duy nhất mang tính luân lý chính là tình-dục-phát-sinh-mầm-sống trong vòng hôn nhân. Chối bỏ nguyên lý căn bản này sẽ tất nhiên đưa đến việc chấp nhận sinh hoạt đồng giới. Đó là nội dung bài phỏng vấn của Cơ Quan Thông Tấn ZENIT với Nữ Tiến Sĩ Janet E. Smith, Giáo Sư Đại Chủng Viện Thánh Tâm Detroit, cũng là Cố Vấn cho Ủy Ban Giáo Hoàng về Gia Đình, một học giả “chuyên trị” vấn đề ngừa thai, vốn là chủ đề của luân thư MSCN.
Hỏi: Thưa Tiến Sĩ, giữa việc chối bỏ giáo huấn Hội Thánh về ngừa thai và sự cuồng nhiệt ủng hộ hôn nhân đồng phái, Bà có nhìn thấy một mối dây liên kết nào chăng?
Đáp: Mấy năm trước đây, trong một hội nghị về đồng tính luyến ái, Russell Hittinger lập luận rằng có rất ít căn bản để chống lại hôn nhân đồng phái trong một nền văn hóa mà mọi cuộc phối hợp đều mang tính ngừa thai. Ông ta nói rằng thực ra chúng ta đã “chúc lành” cho những cuộc phối hợp vốn coi khoái lạc tình dục là lẽ hiện hữu tối cao.
Quả vậy, nhiều năm trước đây, khi bắt đầu nổ ra phong trào chống lại giáo huấn Hội Thánh về ngừa thai, một số người bênh vực giáo huấn ấy đã nói rằng, nếu ta tán thành ngừa thai, thì chẳng bao lâu người ta sẽ nhao nhao lên rằng: như vậy thủ dâm, thông dâm và đồng tính luyến ái cũng phải được phép, xét về mặt luân lý. Một số người nghĩ rằng nói thế thì vô lý quá, (có khi ngày nay cũng vẫn có người còn nghĩ như vậy), thế nhưng, cả trong Hội Thánh lẫn ngoài xã hội, rõ ràng là việc chấp nhận ngừa thai đã làm biến đổi triệt để cách chúng ta hiểu về dục tính.
Thay vì đón nhận quan điểm Kitô giáo, cũng là quan điểm bình thường cho rằng tình dục là để dành cho hôn nhân giữa một người nam và một người nữ cam kết trọn đời với nhau và mở rộng đón chào con cái, thì nền văn hóa chúng ta lại cho rằng tình dục là chỉ để cho khoái lạc, bởi thế các cá nhân nào đồng tình đồng thuận thì cứ việc tìm kiếm khoái lạc, một cách có luân lý, mà chẳng cần cam kết, chẳng cần mở rộng chào đón ai cả.
Tôi là một trong số những người tin rằng rất có thể hầu hết những vị nào có khuynh hướng đồng giới thì đều mang trong mình một mức độ thác loạn tâm lý nào đó, không hẳn là do sự cố ý chọn lựa của mình; có thể trong thời niên thiếu đã có một cái gì đổ vỡ thua thiệt xẩy đến với họ. Tôi không có ý bảo rằng qúy vị nào ngừa thai thì sớm muộn cũng đi đến chỗ có những sinh hoạt đồng giới, mặc dù tôi thực sự tin rằng họ có thể phát triển những bản năng hướng đến đủ kiểu đủ loại sinh hoạt tình dục suy đồi.
Điều tôi muốn nói là nền văn hoá chúng ta ngày càng trở nên dễ dãi hơn với sinh hoạt đồng giới bởi vì nó đã chối bỏ cái nguyên tắc căn bản là: hình thức dục tính duy nhất có tính luân lý chính là dục tính dị phái mang thái độ tôn trọng quyền lực sinh sản nằm sẵn trong chính hành vi ấy.
Hỏi: Bất đồng với giáo huấn Hội Thánh về ngừa thai vẫn còn tràn lan khắp nơi. Theo Tiến sĩ, điều đó đã làm biến đổi thế nào trong cách trai gái ve vãn tán tỉnh nhau trong vòng 40 năm qua?
Đáp: Thực ra chẳng còn có cái gọi là trai gái ve vãn tán tỉnh nhau, ngoại trừ trong phạm vi nhỏ hẹp nhất của vòng lễ giáo. Bây giờ trai gái nào là “cụp lạc”, “móc ngoặc”, và “ghép hộ,” chẳng mấy ai quan tâm đến việc tuyển chọn ý trung nhân, kế đó là qua một tiến trình chậm rãi và thận trọng làm quen với nhau và tỏ tình cho nhau.
Hiển nhiên là ngừa thai đã làm tăng số đáng kể những vụ nam nữ ăn nằm với nhau ngoài vòng hôn nhân. Hẳn là rất ít người còn đồng trinh khi lên xe hoa. Trái lại, quen nhau chưa được bao lâu là đã đi kiếm chỗ ngủ với nhau rồi.
Kiểu mẫu hôn nhân tại Hoa Kỳ thường có dạng thức như sau: có thật nhiều bồ bịch trước khi kết hôn; thử sống chung độ hai ba năm, trong khi đó ngừa thai cho kỹ; sau khi kết hôn, tiếp tục ngừa thai cho kỹ độ vài ba năm; tạm ngưng ngừa thai trong thời hạn ngắn để có con đầu lòng; lại trở về thời kỳ ngừa thai; rồi lại tạm ngưng để sinh đứa con thứ hai; kế đến là vợ hay chồng tuyệt sinh; để rồi dứt điểm bằng ly dị.
Đây không hề là kiểu mẫu tán tỉnh hay hôn phối mà Thiên Chúa đã trù định.
Tiết dục trước khi kết hôn cho phép đôi lứa tìm hiểu nhau mà không bị nhầm lẫn và ràng buộc quá sớm do vướng víu vào vòng tình dục; họ có thể bước ra khỏi vòng quan hệ vốn không dẫn đến hôn nhân mà không bị tan vỡ ‘con tim mù loà’, cũng như không bị gián đoạn cuộc đòi. Họ phát huy được nhiều phương cách biểu lộ tình yêu cho nhau, và khi họ mở đầu quan hệ tình dục sau khi kết hôn, thì đó mới thực sự là một thứ “ấn tín” đánh dấu cho mối tương quan họ đã kiến tạo cho nhau và có ý nuôi dưỡng cho đến trọn đời.
Hỏi: Trong kinh nghiệm làm việc với giới trẻ, Tiến Sĩ thấy ảnh hưởng của ‘Humanae Vitae’ tác động như thế nào?
Đáp: Trẻ hay không trẻ, thực sự vẫn có ít người Công giáo đọc và sống theo giáo huấn của luân thư. Đã mấy thập niên rồi, các chủng sinh được bảo là không được dậy giáo huấn của “Humanae Vitae.” Lập trường của LM Charles Curran rất nổi bật: “Hội Thánh đã sai, và rồi sẽ phải thay đổi thôi.”
Chính vì thế mà đã mấy thập niên rồi, ngay cả người Công giáo đã theo học tại các trường Đại Học và Trung Học Công giáo, hoặc đã trải qua những khóa dự bị hôn nhân, vẫn không được nghe giải thích hoặc bênh vực giáo huấn Hội Thánh. Văn kiện này hoặc bị lờ đi hoặc bi mang ra bêu riếu.
Hỏi: Đâu là điểm gai góc nhất mà giới trẻ gặp phải khi tìm hiểu giáo huấn Hội Thánh? Tiến Sĩ nhận thấy có thay đổi gì trong cách nghĩ suy của giới trẻ trong những năm qua không?
Đáp: Thực ra, nếu được giải thích tường tận thì giới trẻ sẽ không thấy quá khó khăn để thấu hiểu sứ điệp. Trẻ hay không trẻ cũng vậy, khi đã am hiểu đâu là ý nghĩa và mục đích của dục tính, họ sẽ mở rộng và tiếp nhận một cách đáng ngạc nhiên.
Họ có ý thức sâu xa rằng nền văn hóa hôm nay đã làm cho dục tính mang nhiều nét rối rắm; và điều đó khiến cho nhiều người bị thiệt hại rất nặng nề do những chọn lựa tình dục của mình. Khi họ nghe rõ được lời giáo huấn Hội Thánh về dục tính, họ thấy nó thực sự có ý nghĩa.
Một điều tôi có thể an tâm là: giới trẻ ghét ly dị; có thể vì họ lớn lên trong những mái gia đình đổ vỡ vì ly dị và do đó trải nghiệm được hay chứng kiến được những thảm trạng đau thương và bầm dập của cảnh ly dị. Họ muốn những cuộc hôn nhân lâu bền.
Khi tôi bảo họ rằng ai sống theo giáo huấn Hội Thánh-nghĩa là không làm tình trước khi kết hôn, không ngừa thai khi đã kết hôn, sử dụng phương pháp kế hoạch hoá gia đình tự nhiên khi cần có ít con hơn, và nhất là không ly dị--thì họ sẵn sàng lắng nghe ngay.
Phải, đã và đang có những chuyển biến lớn. Thế hệ của tôi đã không muốn nghe ai ở vào lứa tuổi 30 trở lên, và chúng tôi đã phải trả một cái giá rất đắt cho tính tự phụ này, kể cả con cháu và nền văn hoá đương thời của chúng ta cũng thế. Thành thật mà nói, giới trẻ không muốn bị rối rắm như chúng ta bây giờ, họ đang đi tìm một nẻo đường tươi đẹp hơn.
Hội Thánh đang có nẻo đường tươi sáng và tốt đẹp hơn ấy. Nhiều phong trào trong Hội Thánh đang theo nhau ra đời để làm triển nở niềm tin nơi giới trẻ và đang chuẩn bị rao truyền lời giáo huấn Hội Thánh cho được vang rộng xa hơn.
Hỏi: Xét riêng về luân lý tính dục, xã hội đương thời và phương tiện truyền thông lúc nào cũng gửi ra một thông điệp rất khác biệt với giáo huấn Công giáo. Hội Thánh phải làm gì để thông truyền một cách hữu hiệu hơn cho giới trẻ sự khôn ngoan của “MSCN”?
Đáp: Thực ra, có rất nhiều tài liệu qúy giá về vấn đề này. Các bậc làm cha mẹ cần theo dõi, đọc, xem, nghe và bàn luận với con cái. Trong số các tài liệu này, tôi xin giới thiệu các tác phẩm của Mary Beth Bonacci, Jason Everett, Chris West, Colleen Kelly Mast và Molly Kelly, cũng như các chương trình huấn luyện của phong trào Family Honor, của các hội như ‘Couple to Couple League,’ ‘Teen Star’ và ‘Family of the Americas’.
Hỏi: Thế còn những giáo huấn của ĐGH Gioan Phaolô II về vấn đề này thì sao?
Đáp: Rất hữu dụng và tác động rất mạnh. Thần Học Xác Thân thu hút giới trẻ thật mãnh liệt, nhất là khi được trình bầy một cách hấp dẫn bởi một nhân vật như Chris West chẳng hạn. Những chủ đề như “ý nghĩa hôn phối của thân xác”, “sự cần thiết của tự chế” và “dục tính xét như một món quà của sự tự hiến” thật ăn khách đối với giới trẻ. Nền thần học này được giảng dậy tại nhiều chủng viện, hôi nghị giáo dân trên khắp Hoa Kỳ. Hạt giống đang được gieo vãi và chắc chắn sẽ nẩy mầm để sinh nhiều hoa trái.
Hỏi: Đâu là những điểm sáng Tiến Sĩ đang nhìn thấy?
Đáp: Trong thế hệ sắp tới, ta sẽ nhìn thấy một Hội Thánh rất khác. Linh Mục và chủng sinh sẽ đẩy đưa giáo huấn Hội Thánh về dục tính trở thành một trong những chủ đề lớn nhất trong mục vụ, qua các phương tiện giáo dục tại các xứ đạo cũng như qua việc chuẩn bị hôn nhân. Các chương trình giáo dục về đức thanh tịnh đặt nền trên tiết dục đang gây nhiều ảnh hưởng lớn.
Nếu có khả năng làm cho mọi người biết xây dựng hôn nhân của mình trên nền tảng giáo huấn của Hội Thánh, ta sẽ tạo thêm được nhiều gia đình hạnh phúc và lành mạnh. Đã có nhiều gia đình như thế và các gia đình ấy đang sản sinh ra những ơn gọi vững chắc cho đời sống tu trì, độc thân và hôn nhân. Về phương diện này, tôi là một người rất lạc quan.
Tiến Sĩ Janet E. Smith nối kết việc phủ nhận ‘Humanae Vitae’ [Luân thư Mạng Sống Con Người (MSCN) do ĐGH Phaolô VI ban hành] với việc chấp nhận Đồng Tính Luyến Ái.
Detroit, Michigan, ngày 17 tháng 10 năm 2003 (Zenit.org) - Hình thức dục tính duy nhất mang tính luân lý chính là tình-dục-phát-sinh-mầm-sống trong vòng hôn nhân. Chối bỏ nguyên lý căn bản này sẽ tất nhiên đưa đến việc chấp nhận sinh hoạt đồng giới. Đó là nội dung bài phỏng vấn của Cơ Quan Thông Tấn ZENIT với Nữ Tiến Sĩ Janet E. Smith, Giáo Sư Đại Chủng Viện Thánh Tâm Detroit, cũng là Cố Vấn cho Ủy Ban Giáo Hoàng về Gia Đình, một học giả “chuyên trị” vấn đề ngừa thai, vốn là chủ đề của luân thư MSCN.
Hỏi: Thưa Tiến Sĩ, giữa việc chối bỏ giáo huấn Hội Thánh về ngừa thai và sự cuồng nhiệt ủng hộ hôn nhân đồng phái, Bà có nhìn thấy một mối dây liên kết nào chăng?
Đáp: Mấy năm trước đây, trong một hội nghị về đồng tính luyến ái, Russell Hittinger lập luận rằng có rất ít căn bản để chống lại hôn nhân đồng phái trong một nền văn hóa mà mọi cuộc phối hợp đều mang tính ngừa thai. Ông ta nói rằng thực ra chúng ta đã “chúc lành” cho những cuộc phối hợp vốn coi khoái lạc tình dục là lẽ hiện hữu tối cao.
Quả vậy, nhiều năm trước đây, khi bắt đầu nổ ra phong trào chống lại giáo huấn Hội Thánh về ngừa thai, một số người bênh vực giáo huấn ấy đã nói rằng, nếu ta tán thành ngừa thai, thì chẳng bao lâu người ta sẽ nhao nhao lên rằng: như vậy thủ dâm, thông dâm và đồng tính luyến ái cũng phải được phép, xét về mặt luân lý. Một số người nghĩ rằng nói thế thì vô lý quá, (có khi ngày nay cũng vẫn có người còn nghĩ như vậy), thế nhưng, cả trong Hội Thánh lẫn ngoài xã hội, rõ ràng là việc chấp nhận ngừa thai đã làm biến đổi triệt để cách chúng ta hiểu về dục tính.
Thay vì đón nhận quan điểm Kitô giáo, cũng là quan điểm bình thường cho rằng tình dục là để dành cho hôn nhân giữa một người nam và một người nữ cam kết trọn đời với nhau và mở rộng đón chào con cái, thì nền văn hóa chúng ta lại cho rằng tình dục là chỉ để cho khoái lạc, bởi thế các cá nhân nào đồng tình đồng thuận thì cứ việc tìm kiếm khoái lạc, một cách có luân lý, mà chẳng cần cam kết, chẳng cần mở rộng chào đón ai cả.
Tôi là một trong số những người tin rằng rất có thể hầu hết những vị nào có khuynh hướng đồng giới thì đều mang trong mình một mức độ thác loạn tâm lý nào đó, không hẳn là do sự cố ý chọn lựa của mình; có thể trong thời niên thiếu đã có một cái gì đổ vỡ thua thiệt xẩy đến với họ. Tôi không có ý bảo rằng qúy vị nào ngừa thai thì sớm muộn cũng đi đến chỗ có những sinh hoạt đồng giới, mặc dù tôi thực sự tin rằng họ có thể phát triển những bản năng hướng đến đủ kiểu đủ loại sinh hoạt tình dục suy đồi.
Điều tôi muốn nói là nền văn hoá chúng ta ngày càng trở nên dễ dãi hơn với sinh hoạt đồng giới bởi vì nó đã chối bỏ cái nguyên tắc căn bản là: hình thức dục tính duy nhất có tính luân lý chính là dục tính dị phái mang thái độ tôn trọng quyền lực sinh sản nằm sẵn trong chính hành vi ấy.
Hỏi: Bất đồng với giáo huấn Hội Thánh về ngừa thai vẫn còn tràn lan khắp nơi. Theo Tiến sĩ, điều đó đã làm biến đổi thế nào trong cách trai gái ve vãn tán tỉnh nhau trong vòng 40 năm qua?
Đáp: Thực ra chẳng còn có cái gọi là trai gái ve vãn tán tỉnh nhau, ngoại trừ trong phạm vi nhỏ hẹp nhất của vòng lễ giáo. Bây giờ trai gái nào là “cụp lạc”, “móc ngoặc”, và “ghép hộ,” chẳng mấy ai quan tâm đến việc tuyển chọn ý trung nhân, kế đó là qua một tiến trình chậm rãi và thận trọng làm quen với nhau và tỏ tình cho nhau.
Hiển nhiên là ngừa thai đã làm tăng số đáng kể những vụ nam nữ ăn nằm với nhau ngoài vòng hôn nhân. Hẳn là rất ít người còn đồng trinh khi lên xe hoa. Trái lại, quen nhau chưa được bao lâu là đã đi kiếm chỗ ngủ với nhau rồi.
Kiểu mẫu hôn nhân tại Hoa Kỳ thường có dạng thức như sau: có thật nhiều bồ bịch trước khi kết hôn; thử sống chung độ hai ba năm, trong khi đó ngừa thai cho kỹ; sau khi kết hôn, tiếp tục ngừa thai cho kỹ độ vài ba năm; tạm ngưng ngừa thai trong thời hạn ngắn để có con đầu lòng; lại trở về thời kỳ ngừa thai; rồi lại tạm ngưng để sinh đứa con thứ hai; kế đến là vợ hay chồng tuyệt sinh; để rồi dứt điểm bằng ly dị.
Đây không hề là kiểu mẫu tán tỉnh hay hôn phối mà Thiên Chúa đã trù định.
Tiết dục trước khi kết hôn cho phép đôi lứa tìm hiểu nhau mà không bị nhầm lẫn và ràng buộc quá sớm do vướng víu vào vòng tình dục; họ có thể bước ra khỏi vòng quan hệ vốn không dẫn đến hôn nhân mà không bị tan vỡ ‘con tim mù loà’, cũng như không bị gián đoạn cuộc đòi. Họ phát huy được nhiều phương cách biểu lộ tình yêu cho nhau, và khi họ mở đầu quan hệ tình dục sau khi kết hôn, thì đó mới thực sự là một thứ “ấn tín” đánh dấu cho mối tương quan họ đã kiến tạo cho nhau và có ý nuôi dưỡng cho đến trọn đời.
Hỏi: Trong kinh nghiệm làm việc với giới trẻ, Tiến Sĩ thấy ảnh hưởng của ‘Humanae Vitae’ tác động như thế nào?
Đáp: Trẻ hay không trẻ, thực sự vẫn có ít người Công giáo đọc và sống theo giáo huấn của luân thư. Đã mấy thập niên rồi, các chủng sinh được bảo là không được dậy giáo huấn của “Humanae Vitae.” Lập trường của LM Charles Curran rất nổi bật: “Hội Thánh đã sai, và rồi sẽ phải thay đổi thôi.”
Chính vì thế mà đã mấy thập niên rồi, ngay cả người Công giáo đã theo học tại các trường Đại Học và Trung Học Công giáo, hoặc đã trải qua những khóa dự bị hôn nhân, vẫn không được nghe giải thích hoặc bênh vực giáo huấn Hội Thánh. Văn kiện này hoặc bị lờ đi hoặc bi mang ra bêu riếu.
Hỏi: Đâu là điểm gai góc nhất mà giới trẻ gặp phải khi tìm hiểu giáo huấn Hội Thánh? Tiến Sĩ nhận thấy có thay đổi gì trong cách nghĩ suy của giới trẻ trong những năm qua không?
Đáp: Thực ra, nếu được giải thích tường tận thì giới trẻ sẽ không thấy quá khó khăn để thấu hiểu sứ điệp. Trẻ hay không trẻ cũng vậy, khi đã am hiểu đâu là ý nghĩa và mục đích của dục tính, họ sẽ mở rộng và tiếp nhận một cách đáng ngạc nhiên.
Họ có ý thức sâu xa rằng nền văn hóa hôm nay đã làm cho dục tính mang nhiều nét rối rắm; và điều đó khiến cho nhiều người bị thiệt hại rất nặng nề do những chọn lựa tình dục của mình. Khi họ nghe rõ được lời giáo huấn Hội Thánh về dục tính, họ thấy nó thực sự có ý nghĩa.
Một điều tôi có thể an tâm là: giới trẻ ghét ly dị; có thể vì họ lớn lên trong những mái gia đình đổ vỡ vì ly dị và do đó trải nghiệm được hay chứng kiến được những thảm trạng đau thương và bầm dập của cảnh ly dị. Họ muốn những cuộc hôn nhân lâu bền.
Khi tôi bảo họ rằng ai sống theo giáo huấn Hội Thánh-nghĩa là không làm tình trước khi kết hôn, không ngừa thai khi đã kết hôn, sử dụng phương pháp kế hoạch hoá gia đình tự nhiên khi cần có ít con hơn, và nhất là không ly dị--thì họ sẵn sàng lắng nghe ngay.
Phải, đã và đang có những chuyển biến lớn. Thế hệ của tôi đã không muốn nghe ai ở vào lứa tuổi 30 trở lên, và chúng tôi đã phải trả một cái giá rất đắt cho tính tự phụ này, kể cả con cháu và nền văn hoá đương thời của chúng ta cũng thế. Thành thật mà nói, giới trẻ không muốn bị rối rắm như chúng ta bây giờ, họ đang đi tìm một nẻo đường tươi đẹp hơn.
Hội Thánh đang có nẻo đường tươi sáng và tốt đẹp hơn ấy. Nhiều phong trào trong Hội Thánh đang theo nhau ra đời để làm triển nở niềm tin nơi giới trẻ và đang chuẩn bị rao truyền lời giáo huấn Hội Thánh cho được vang rộng xa hơn.
Hỏi: Xét riêng về luân lý tính dục, xã hội đương thời và phương tiện truyền thông lúc nào cũng gửi ra một thông điệp rất khác biệt với giáo huấn Công giáo. Hội Thánh phải làm gì để thông truyền một cách hữu hiệu hơn cho giới trẻ sự khôn ngoan của “MSCN”?
Đáp: Thực ra, có rất nhiều tài liệu qúy giá về vấn đề này. Các bậc làm cha mẹ cần theo dõi, đọc, xem, nghe và bàn luận với con cái. Trong số các tài liệu này, tôi xin giới thiệu các tác phẩm của Mary Beth Bonacci, Jason Everett, Chris West, Colleen Kelly Mast và Molly Kelly, cũng như các chương trình huấn luyện của phong trào Family Honor, của các hội như ‘Couple to Couple League,’ ‘Teen Star’ và ‘Family of the Americas’.
Hỏi: Thế còn những giáo huấn của ĐGH Gioan Phaolô II về vấn đề này thì sao?
Đáp: Rất hữu dụng và tác động rất mạnh. Thần Học Xác Thân thu hút giới trẻ thật mãnh liệt, nhất là khi được trình bầy một cách hấp dẫn bởi một nhân vật như Chris West chẳng hạn. Những chủ đề như “ý nghĩa hôn phối của thân xác”, “sự cần thiết của tự chế” và “dục tính xét như một món quà của sự tự hiến” thật ăn khách đối với giới trẻ. Nền thần học này được giảng dậy tại nhiều chủng viện, hôi nghị giáo dân trên khắp Hoa Kỳ. Hạt giống đang được gieo vãi và chắc chắn sẽ nẩy mầm để sinh nhiều hoa trái.
Hỏi: Đâu là những điểm sáng Tiến Sĩ đang nhìn thấy?
Đáp: Trong thế hệ sắp tới, ta sẽ nhìn thấy một Hội Thánh rất khác. Linh Mục và chủng sinh sẽ đẩy đưa giáo huấn Hội Thánh về dục tính trở thành một trong những chủ đề lớn nhất trong mục vụ, qua các phương tiện giáo dục tại các xứ đạo cũng như qua việc chuẩn bị hôn nhân. Các chương trình giáo dục về đức thanh tịnh đặt nền trên tiết dục đang gây nhiều ảnh hưởng lớn.
Nếu có khả năng làm cho mọi người biết xây dựng hôn nhân của mình trên nền tảng giáo huấn của Hội Thánh, ta sẽ tạo thêm được nhiều gia đình hạnh phúc và lành mạnh. Đã có nhiều gia đình như thế và các gia đình ấy đang sản sinh ra những ơn gọi vững chắc cho đời sống tu trì, độc thân và hôn nhân. Về phương diện này, tôi là một người rất lạc quan.