Lời Giới Thiệu


Nhận thấy bài viết dưới đây của Linh mục Ansgar Phạm Tĩnh, ở Vancouver, Canada dựa trên bài viết của Gs Trần Ngọc Đỉnh liên quan đến “Đời Sống Linh Mục” với những phân tích sâu sắc có nền tảng dựa trên những nguồn tài liệu quý báu trong Giáo Hội, với sự đồng ý của Cha Ansgar Phạm Tĩnh, chúng tôi xin trích đăng lại bài phần tích nầy trên trang News của Vietcatholic.net.

Bài phân tích nầy khá dài và xúc tích, chúng tôi sẽ lần lượt trích đăng trong 3 ngày liên tiếp. Thay mặt Ban Biên Tập của Vietcatholic, tôi xin chân thành cám ơn Cha An-cha Phạm Tĩnh đã cho phép chúng tôi được trích đăng lại tài liệu quý giá mà Cha đã dầy công nghiên cứu như Cha đã viết trong một email….”Đây là bài viết đã sửa chữa… càng đọc càng thấy cần sửa chữa nhiều hơn nữa…” Hy vọng chúng tôi sẽ tiếp tục nhận thêm được những bài viết quý báu của Cha trong tương lai.

Xin Chúa chúc lành cho những công việc mục vụ của Cha.


Linh mục Francis Lý văn Ca.

Anh chị em thân mến,

Sau khi bài viết “Những Nan Đề Với Tân Giáo Hoàng Trong Thiên Niên Kỷ Thứ III” của Giáo sư Xuân Vũ Trần Đình Ngọc được đăng trên Oregon Thời Báo, tôi đã nhận được rất nhiều câu hỏi cũng như những băn khoăn của anh chị em. Hôm nay, tôi xin gửi đến anh chị em những chia sẻ của riêng cá nhân tôi về bài viết của tác giả Trần Đình Ngọc. Hy vọng qúy anh chị em sẽ tìm được những câu trả lời qua bài chia sẻ này. Nguyên văn của Giáo sư Xuân Vũ Trần Ðình Ngọc tôi xin được trích nguyên văn (Italic) và bỏ ở trong ngoặc kép.

Gs Trần Ðình Ngọc: “Kể từ thứ bảy 2-4-2005, sau khi Giáo Chủ Gio-an Phao-lô Đệ Nhị qua đời...”

Lm. Phạm Tĩnh: Vấn đề đầu tiên tôi muốn đề cập đến là danh xưng của Ðức Giáo Hoàng (the Pope). Dựa theo tài liệu của Vietcatholic.net, những danh xưng của vị lãnh đạo tối cao (the Pope) trong Giáo Hội Công Giáo là:

· Đức Thánh Cha - Holy Father

· Giám Mục Roma - Bishop of Rome

· Vị Đại Diện Chúa Giêsu Kitô - Vicar of Jesus Christ

· Người Kế Vị Thánh Phêrô - Successor of St. Peter

· Hoàng Tử của Các Tông Đồ - Prince of the Apostles

· Giáo Hoàng Tối Cao của Giáo Hội Hoàn Vũ - Supreme Pontiff of the Universal Church

· Vị Thủ Lãnh của Nước Ý- Primate of Italy

· Thượng Phụ Giáo Chủ Phương Tây - Patriarch of the West

· Tôi Tớ của Các Tôi Tớ Thiên Chúa - Servant of the Servants of God

· Tổng Giám Mục và Tổng Trấn Tỉnh Miền Roma - Archbishop and Metropolitan of the Province of Rome

· Quốc Vương của Quốc Gia Thành Vatican- Sovereign of the State of Vatican City.

Như vậy danh xưng Thượng Phụ Giáo Chủ Phương Tây thì chính xác hơn là Giáo Chủ.

Gs Trần Ðình Ngọc: Có nhiều ý kiến về nhiều vấn đề. Chúng tôi không thể nhớ hết tên và hết ý kiến của họ. Cũng trong tâm tình đó và theo ý kiến riêng của chúng tôi, chúng tôi thấy vị Tân Giáo chủ phải đáp ứng được nhiều vấn nạn sau đây...”

Lm. Phạm Tĩnh: “Có nhiều ý kiến và nhiều vấn đề” thế nhưng nếu tác giả chỉ cần đưa ra một hoặc hai tên tuổi ví dụ như sơ Juan Chisttins, hay cha John Morris và một hai ý kiến của họ (sơ Juan thì ủng hộ chủ trương cho phụ nữ làm linh mục, cha Morris ủng hộ việc cho linh mục có sự chọn lựa trong việc sống độc thân...) thì quý hóa biết mấy. Rất tiếc tác giả chỉ nói trống không làm cho tôi thắc mắc là không biết nhiều vấn đề là bao nhiêu mà tác giả không thể nhớ hết được???

Gs Trần Ðình Ngọc: “Ý kiến riêng của chúng tôi, chúng tôi thấy vị Tân Giáo chủ phải đáp ứng được nhiều vấn nạn sau đây”

Lm. Phạm Tĩnh: Tôi nghĩ rằng trên cương vị là một vị thủ lãnh của Giáo Hội hoàn cầu, là một người cha trong một đại gia đình, Ðức Tân Giáo Hoàng chắc chắn sẽ chú ý lắng nghe những ý kiến và những thao thức của con cái trong Giáo Hội, thế nhưng điều đó không có nghĩa là “vị Tân Giáo chủ phải đáp ứng được nhiều vấn nạn.”

Gs Trần Ðình Ngọc: “Kể từ Giáo Hoàng Gregorio VII, hàng Linh mục phải sống độc thân, còn trước đó giáo sĩ vẫn có gia đình. Tự đó đến nay, theo báo chí Mỹ, là hơn 800 năm... ”

Lm. Phạm Tĩnh: Xin thưa với quý độc giả 2 vấn đề:

Thứ nhất: Hàng giáo sĩ trong Giáo Hội Công Giáo: giám mục, linh mục và phó tế chuyển tiếp (transitional deacons) không hề PHẢI SỐNG ÐỘC THÂN! Trong suốt thời gian huấn luyện (formation period), tất cả các chủng sinh trong các chủng viện và các nam tu sĩ trong các hội dòng có từ 8 đến 12 năm để suy nghĩ, chịu thử thách và cầu nguyện rất kỹ lưỡng rồi sau đó họ mới tuyên bố trước mặt vị Giám Mục chủ phong và trước toàn thể cộng đoàn dân Chúa rằng họ TỰ NGUYỆN sống KHIẾT TỊNH vì nước Trời với sự trợ giúp của ơn thánh Chúa.

Sắc lệnh Optatam Totius của Công Ðồng Vatican II dạy như thế này: “Các chủng sinh theo truyền thống đáng kính sống độc thân linh mục đúng với quy luật thánh thiện bền bỉ của lễ chế mình, phải được cẩn thận hướng dẫn bậc sống ấy.... Họ cần thâm tín rằng: bậc sống [độc thân] đáng hân hoan đón nhận không phải chỉ như một mệnh lệnh do Giáo Luật, nhưng như là một ân huệ quý giá của Thiên Chúa mà họ phải khiêm tốn cầu xin, và phải mau mắn đáp ứng với tự do và quảng đại, nhờ ơn Chúa Thánh Thần thúc đẩy và giúp đỡ” (# 10).

Thứ hai: Tác giả nói đúng khi nói rằng “trước đó giáo sĩ vẫn có gia đình” nhưng không có nghĩa là thiếu vắng những quy định và những đòi hỏi các giáo sĩ sống đời sống độc thân. Trong thực tế, đời sống độc thân trong Giáo Hội thì đã có từ thế kỷ thứ 4 rồi chứ không phải chỉ mới có “hơn 800 năm.” Thiết tưởng khi nói đến luật độc thân của hàng giáo sĩ trong Giáo Hội Công Giáo thì tác giả nên tham khảo và nghiên cứu một cách rất kỹ lưỡng về giáo luật (canon laws), những giáo huấn (magisterium), và những văn kiện (documents) của Giáo Hội Công Giáo thì mới xác thực và đáng tin cậy, chứ nếu chỉ dựa “theo báo chí Mỹ” thì e rằng không ổn cho lắm.

Có không biết là bao nhiêu báo chí Mỹ đã, đang và sẽ còn có những thái độ thù nghịch với Giáo Hội Công Giáo và cố tình bóp méo sự thật, thì chắc quý độc giả không lạ lẫm gì! Tôi đoán vậy! Sau đây là những dữ kiện có liên quan đến vấn đề kỷ luật sống độc thân (a disciplinary rule of celibacy) của các giáo sĩ trong Giáo Hội Công Giáo:

· Công Ðồng Elvira (c. 305-306) đã ra sắc lệnh nghiêm cấm các giáo sĩ lập gia đình... “It is decided that marriage be altogether prohibited to bishops, priests, and deacons...” và cấm các giáo sĩ đã lập gia đình chung sống với vợ và sinh con cái "... or to all clerics placed in the ministry, and that they keep away from their wives and not beget children...” Bất cứ ai vi phạm thì sẽ lập tức bị truất phế và huyền chức “...whoever does this, shall be deprived of the honor of the clerical office" (Canon 33, Council of Elvira; Denzinger, The Sources of Catholic Dogma, pg. 25; c 1957 B. Herder Book Co.). Xin lưu ý, luật độc thân do Công Ðồng Elvira chưa được áp dụng triệt để trên Giáo Hội hoàn vũ (universal church).

· Công đồng Aries (314) canon # 29 ghi rõ rằng những linh mục và phó tế nào đi ngược lại với quyết định của Công Ðồng thì sẽ bị loại ra khỏi hàng ngũ giáo sĩ “Moreover, (concerned with) what is worthy, pure, and honest, we exhort our brothers (in the episcopate) to make sure that priests and deacons have no (sexual) relations with their wives, since they are serving the ministry every day. Whoever will act against this decision, will be deposed from the honour of the clergy (Corpus Christianorum. Series Latina, from now on CC 148, 25).

· Công đồng Nicaea (325) canon # 3 cấm chỉ tất cả giáo sĩ sống cùng nhà với phụ nữ ngoại trừ mẹ, em gái ruột, cô ruột: “The great Council has absolutely forbidden bishops, priests and deacons - in other words, all the members of the clergy - to have with them a sister-companion (syneisaktos) with the exception of a mother, a sister, an aunt, or, lastly, only those persons who are beyond any suspicion” .

· Luật sống độc thân của hàng giáo sĩ cũng được tìm thấy trong lá thư của thánh Giáo Hoàng Lêo Cả (440-461) gửi cho Ðức Giám Mục Rusticus of Narbonne vào năm 458, ngài viết rằng: “Luật sống khiết tịnh được áp dụng cho tất cả các thừa tác viên trên bàn thờ như giám mục, và linh mục,...” The law of continence is the same for the ministers of the altar, for the bishops and for the priests” (Epist. ad Rusticum Narbonensem episcopum, Inquis, III., Resp. PL 54, 1 204a.)

· Từ thế kỷ thứ 4 cho đến thế kỷ thứ 11, nhiều Công Ðồng Gerona (517), Toledo (589), Carthage (419) đã ra những sắc lệnh liên quan đến đời sống độc thân của hàng giáo sĩ. Thế nhưng xin lưu ý, những Công Ðồng này chỉ nhắc lại (repeated) những kỷ luật sống độc thân của hàng giáo sĩ chứ không đưa ra điều gì mới lạ.

· Năm 1059, Ðức Giáo Hoàng Nicholas II (1059-1062) huyền chức tất cả các linh mục có vợ và nghiêm cấm giáo dân không được tham dự các thánh lễ do các linh mục này chủ sự.

· Dưới triều đại của thánh Giáo Hoàng Gregory VII (1073-1085) luật độc thân của giáo sĩ đã được phổ biến rộng rãi trong Giáo Hội hoàn vũ chứ không phải linh mục mới phải sống độc thân từ thời điểm này.

Tôi không biết rõ Giáo Sư Xuân Vũ Trần Ðình Ngọc là một người hay là hai người và ông viết bài này nói lên quan điểm của cá nhân hay đại diện cho ai khác? Lý do là vì Giáo sư hay dùng những đại chủ từ “chúng tôi,” “chúng ta” và những cụm từ tiêu biểu cho số đông trong bài này. Nếu tác giả chỉ dùng danh xưng “TÔI” để nói lên ý kiến riêng của mình thôi thì chắc chắn tác giả sẽ không xúc phạm đến người đọc, bởi vì đâu phải ai cũng có cùng quan điểm như tác giả. Sau đây là những ví dụ điển hình:

- “Chúng ta nên nhớ số thanh niên gia nhập chủng viện, dòng tu theo ơn gọi đã giảm sút tệ hại từ 3, 4 thập kỉ nay...” Hy vọng tác giả không có ý nói ơn gọi giảm sút tệ hại trong 300-400 năm nay! (1 thập kỉ = 10 thế kỷ).

- Cùng là con người, chúng ta hiểu sự chiến đấu dai dẳng và gay go của họ, càng ngày chúng ta càng hiểu không thể triệt tiêu bất cứ khả năng nào thượng đế ban cho loài người mà trong đó (trích nguyên văn)

- Nó rất khó nghe nhưng nó là cốt lõi của sự việc chúng ta đang nhìn vào.

- Khi có vụ việc bùng nổ, giáo dân và cả giáo sĩ đều nói: "Bản năng sinh tồn âm dương, trai gái, trống mái...là bản năng do Thượng Đế phú cho con người, con người sinh ra là có. Giáo dân thế nào thì giáo sĩ như thế. Không nên trách các vị đó làm chi."

- Nếu ta nhìn vào đời sống của các Mục Sư Tin Lành, ta thấy với gia đình, Mục sư sống rất thoải mái; những chuyện lăng nhăng về xâm hại tình dục không thấy và Mục Sư, với nhiệm vụ rao giảng là chính, lo cho gia đình riêng của mình là phụ; họ cũng có một cuộc sống thoải mái không bị dồn nén, nhất là trong khoảng tuổi từ 20-60.

- Cũng như khi xưa, -cầu cho người chết, chúng ta thường đọc kinh "Phục dĩ chí tôn, Chân Chúa cửu trùng, Cao ngự chi thiên" và "Kinh cầu chữ Hán" Nhưng nay chúng ta không đọc nữa vì nhiều người không hiểu ý nghĩa câu chữ Hán, đọc nghêu ngao cái miệng mà lòng trống rỗng.

- Chúng ta đã có những kinh khác cũng không kém ý nghĩa và sốt sắng...

- Li dị, li thân là một khủng hoảng lớn trong hai thế kỉ hiện tại. Ngay từ thời Chúa Jésus, người ta đã hỏi Ngài:"Người đàn ông có được phép bỏ vợ mình không?" đủ biết việc hai vợ chồng không muốn chung sống với nhau nữa đã xẩy ra từ khi có loài người.

- Chúng tôi rất đồng ý khi đã thành thai nhi, phá là mang tội giết người. Nhưng cho dùng các thứ thuốc ngừa thai làm cho phụ nữ không thể thụ thai, giải pháp đó có lẽ đắc dụng hơn hết mà không phạm tội giết người. Giáo hội CG trước giờ không cho dùng thuốc ngừa, còn hơn là "pro-choice" ma phụ nữ Hoa kỳ rất hưởng ứng.

- Những quí vị đang đọc bài này và cả người viết thì không chịu ảnh hưởng nhưng cháu chắt chúng ta sẽ lãnh đủ những gì chúng ta không tiên liệu.

- Ngày nay, người đồng tính lan tràn mọi nơi, mọi lãnh vực và chúng ta, tất cả xã hội không thể dè bỉu khinh khi họ mà phải giải quyết thỏa đáng cho họ... đúng ra chúng ta - những người bình thường - phải thương họ và nâng đỡ họ vì chúng ta không thể "vứt" họ đi đâu được..

- Nhìn hai người đồng tính, hai đàn ông hoặc hai đàn bà, ôm hôn nhau, chúng ta cảm thấy ngượng ngùng, xấu hổ cho con người (nói chung), chúng ta cảm thấy một sự tội lỗi, một sự xúc phạm hay quá đáng hơn như nhiều người nói, nột sự dơ bẩn, băng hoại. Nhưng biết sao khi những bản năng đó không do họ tạo ra mà đã tiềm ẩn trong "linh hồn" họ từ khi họ hoài thai làm một con người.

- Cũng như chúng ta, Giáo Chủ Gio-an Phao-lô II đã nhìn thấy cái chướng mắt đó nên Ngài cực lực chống đồng tính, coi như một sự sa đọa của thế kỉ. Nhưng thực tế buộc chúng ta phải giải quyết vì hạnh phúc của những kẻ đồng tính cũng phải được coi trọng như hạnh phúc của những kẻ không-đồng-tính.

- Nhiều nhà Thần học, trong đó có các LM, nhiều nhà Tâm lí học và nhiều giáo dân đã than phiền Giáo hội CG đã bảo thủ, không theo kịp trào lưu thế giới mà những nan đề trên đã hiện diện từ lâu.

- Nếu chúng ta coi TV đài 18 ở Cali, do một Mục sư Nhật giảng đạo Chúa thì ta thấy vị Mục sư này đã khéo dùng những sự việc ngoài đạo để giảng đạo làm người nghe nhẹ nhàng, thoải mái và ích lợi hơn là chỉ lúc nào cũng nói về Phúc Âm. "Ý tại ngôn ngoại" có thể dùng cho vị Mục sư nhiệt thành này.

- Chúng ta cũng nên quan sát, Phật tử làm việc thờ cúng (worship) rất dung dị, rất tự nhiên và tự do. Đức Phật cho mình là một con người đã "ngộ" đạo mà thôi và ai học tập theo Ngài cũng có thể trở nên Phật.

Gs Trần Ðình Ngọc: “Chúng ta phải thành thực nhận rằng luật độc thân Linh mục là điều luật khó nhất trong ba điều Giáo hội đòi hỏi nơi một Linh mục... . ”

Lm. Phạm Tĩnh: Là một linh mục, nếu tôi tuyên bố với anh chị em giáo dân rằng “Chúng ta phải thành thực nhận rằng trong đời sống hôn nhân các bà là người phải chịu nhiều đau đớn nhất bời vì các bà phải sinh con!” thì bạn nghĩ sao? Chắc chắn những họ sẽ cười khẩy và xem thường tôi vì lời nói quá hồ đồ và vô căn cứ này. Tại sao vậy? bởi vì tôi không có một tí kinh nghiệm gì về chuyện sinh nở, làm sao tôi dám nói rằng chúng ta phải thành thực nhận rằng đó là chuyện đau khổ nhất của các bà? Còn bao nhiêu chuyện đau khổ hơn là chuyện sinh con trong đời sống hôn nhân như nuôi dưỡng con cái, tiền bạc, nhà cửa, công việc làm ăn, bịnh tật...

Cũng vậy, nếu có ai đó chưa từng giữ ba điều (có lẽ Giáo sư Trần Ðình Ngọc muốn nói đến khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục, tôi đoán vậy)? mà lại “thành thực nhận rằng luật độc thân linh mục là điều luật khó nhất” thì quý độc giả nghĩ sao?

Theo kinh nghiệm bản thân, tôi thấy cả ba điều đều KHÓ như nhau nếu không có ơn Chúa trợ giúp. Thật đấy! Bạn nghĩ thử xem, có cái gì hấp dẫn và trên thế gian này cho bằng sự TỰ DO CÁ NHÂN, mình muốn làm gì thì làm, CỦA CẢI VẬT CHẤT, muốn mua gì thì mua, và NHỤC DỤC.

Chẳng có cái nào gọi là KHÓ NHẤT cả, cả BA LỜI KHẤN: VÂNG LỜI-KHIẾT TỊNH-KHÓ NGHÈO đều KHÓ CẢ nếu không có ơn Chúa, thưa bạn. Nếu một linh mục đang sống đời sống độc thân nói: “thành thực nhận rằng luật độc thân linh mục là điều luật khó nhất” thì chắc chắn tôi sẽ không thắc mắc!

Gs Trần Ðình Ngọc: “Từ sự khó giữ đó, hàng giáo sĩ đã gây ra rất nhiều tai tiếng cho Giáo hội, không kể những vụ xâm hại tình dục trẻ nhỏ ở Mỹ mới đây... Tác giả bài này đã nhiều lần ngồi đàm đạo với cố TGM Nguyễn văn Bình và cố Giám mục Trần thanh Khâm, Giám mục Phó Sài gòn. Khi đề cập đến một số Linh mục tại một số giáo xứ, Giám mục Trần thanh Khâm cũng đồng ý là đã có những hành động tai hại cho tiếng tăm của hàng LM nói chung và cho cá nhân LM đó nói riêng. Nhưng Giám mục Phó Sàigòn bảo tôi rằng: "Nếu lọc đãi hết thì chẳng còn ai làm việc.” Nghe Ngài nói, tôi cảm nhận sự khó khăn mà các tòa Giám Mục đang gặp phải ”

Lm. Phạm Tĩnh: Trước tiên, tôi rất đồng ý với Ðức Giám Mục Trần Thanh Khâm là “Nếu lọc đãi hết thì chẳng còn ai làm việc!” bởi vì có ai sanh ra trên cõi đòi này là hoàn hảo đâu? Nhân vô thập toàn mà! Ai cũng biết điều ấy. Ngoài Thiên Chúa ra không ai là người thánh thiện và hoàn hảo cả (Mt 19:17). Như vậy, nếu có những giáo sĩ yếu đuối, lỗi lầm thì cũng là điều rất dễ hiểu bởi vì họ được tuyển chọn giữa thế gian, giữa những con người yếu hèn và tội lỗi.

· Các giáo sĩ được Thiên Chúa gọi và chọn giữa thế gian nhưng không thuộc về thế gian (Ga. 17:16).

· Các giáo sĩ là những người được Thiên Chúa tuyển chọn chứ không phải họ chọn Thiên Chúa (Ga. 15:16).

· Các giáo sĩ là những con người yếu đuối và mỏng manh lắm cho nên thánh Phaolô mới gọi họ là những bình sành, mà trong đó Thiên Chúa dám trao gởi những món báu vật là các Bí Tích cho dân Ngài và như vậy, thế gian sẽ thấy được “quyền năng phi thường phát xuất từ Thiên Chúa, chứ không phải từ [họ]” (2 Cor. 4:7).

· Các giáo sĩ là những người, hơn ai hết cần đến lòng thương xót của Thiên Chúa vì họ nhận thức được trách nhiệm nặng nề mà họ đang lãnh nhận. Giống như thánh Phaolô Tông Ðồ, các giáo sĩ rất yếu hèn: “Tôi tạ ơn Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng ta, Đấng đã ban sức mạnh cho tôi, vì Người đã tín nhiệm mà gọi tôi đến phục vụ Người. Trước kia, tôi là kẻ nói lộng ngôn, bắt đạo và ngạo ngược, nhưng tôi đã được Người thương xót... Đây là lời đáng tin cậy và đáng mọi người đón nhận: Đức Ki-tô Giê-su đã đến thế gian, để cứu những người tội lỗi, mà kẻ đầu tiên là tôi” (1 Tim. 1:12-15).

· Các giáo sĩ là những người được Thiên Chúa tuyển chọn nhưng họ không bao giờ quên rằng họ là cũng là những người tội lỗi, yếu hèn như thánh Phaolô nói: “Đức Giê-su không như các vị thượng tế khác: mỗi ngày họ phải dâng lễ tế hy sinh, trước là để đền tội của mình, sau là để đền thay cho dân; phần Người, Người đã dâng chính mình và chỉ dâng một lần là đủ” (Dt. 7:27).

Vì thế cho nên bất cứ ai qua đời thì cũng cần phải dâng lễ cầu nguyện xin Chúa thương xót và tha thứ những yếu đuối, lỗi lầm của linh hồn ấy đã phạm khi còn sống. Anh chị em thấy Ðức Cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô Ðệ Nhị, hay Mẹ Teresa thành Canculta, những người có những nhân đức nổi bật, những mẫu gương sáng và được xem như là những vị Thánh sống mà Giáo Hội vẫn không ngừng cầu nguyện cho linh hồn của các ngài được mau về hưởng thánh nhan Chúa.

Gs Trần Ðình Ngọc: “Trước sự khó giữ đó (sống đời sống độc thân) hàng giáo sĩ đã gây ra rất nhiều tai tiếng cho Giáo Hội, không kể những vụ xâm hại tình dục trẻ nhỏ ở Mỹ mới đây.”

Lm. Phạm Tĩnh: Tôi xin thưa với độc giả hai điều:

Thứ nhất: Những vụ tai tiếng, bê bối, lăng nhăng, lôi thôi về nhiều khía cạnh cả về luân lý lẫn đạo đức của hàng giáo sĩ đã, đang và sẽ còn xảy ra trong Giáo Hội trong suốt 20 thế kỷ qua. Ðiều này không có gì mới lạ! Đọc lịch sử của giáo hội, người ta thấy có những vị giáo hoàng lem nhem, lôi thôi trong vấn đề tình dục, có con rơi, rồi các giám mục, linh mục tham lam chức quyền, buôn thần bán thánh, lợi dụng danh nghĩa của Giáo Hội để trục lợi cá nhân... Nhưng những scandals ấy xảy ra không phải là vì lý do họ không chịu nổi đời sống độc thân.

Thứ hai: Những vụ tai tiếng về tình dục (sexual abuse) không phải chỉ xảy ra trong Giáo Hội Công Giáo do một số giáo sĩ tha hóa, bất trung với lời hứa độc thân, nhưng cũng đã xảy ra trong các tôn giáo khác nữa.

Một vị Giám Mục của Giáo Phái Tin Lành lớn tại Hoa Kỳ, Ðức Giám Mục William Persell nhắc nhở giáo dân của ngài rằng đừng tưởng những vụ bê bối của các giáo sĩ trong việc lạm dụng tình dục chỉ xảy ra trong Giáo Hội Công Giáo và không có ở trong các giáo phái Tin Lành nơi mà các linh mục được phép lấy vợ và phụ nữ được làm linh mục. “We would be naïve and dishonest were we to say this is a Roman Catholic problem and has nothing to do with us because we have married and female priests in our church. Sin and abusive behavior know no ecclesial or other boundaries." (Rt. Rev. William Persell, Bishop of the Episcopal Diocese of Chicago, Good Friday Sermon, 2002)

Một ký giả khác, Raymond Arroyo, ông chẳng phải là người công giáo, nói rằng phần lớn những vụ kiện cáo những giáo sĩ lạm dụng tính dục xảy ra trong các giáo phái Tin Lành. Có chừng 3,500 vụ một năm, trung bình khoảng 70 vụ trong một tuần. Xin lưu ý những giáo phái này có những giáo sĩ lập gia đình (married priests). Raymond Arroyo says “Putting aside the media fixation with the Catholic Church it is important to point out, as the Christian Science Monitor recently did, that the majority of sexual-abuse allegations in America occur in Protestant churches. There are 3,500 sex-abuse allegations a year - roughly 70 a week in Protestant churches according to the Christian Ministry Resource Survey. Remember, these are churches where married clergy and volunteers predominate”

Philip Jenkins, một giáo sư giảng dạy môn lịch sử và nghiên cứu các tôn giáo tại Pennsylvania State University, ông cũng không phải là người công giáo, nhưng đứng trước những thông tin thiếu trung thực, phóng đại và bất công cũng như trước những thái độ thù nghịch của những thế lực ngấm ngầm chống lại Giáo Hội Công Giáo, ông đã viết những bài viết để nói lên sự thật và một cách nào đó lên tiếng khuyên người ta không nên vơ đũa cả nắm để tấn công các giáo sĩ vô tội khác.

Trong bài Những Huyền Thoại Về Các Linh Mục Lạm Dụng Tính Dục Trẻ Em “The Myth of the Pedophile Priest” Philip Jenkins nói rằng ông ta không hề có ý định bênh vực cho những hành động ghê tởm, tội lỗi của một số giáo sĩ lạm dụng tình dục và những sai lầm của một số giám mục trong Giáo Hội, nhưng ông rất quan tâm đến những thái độ thù nghịch bịnh hoạn nhằm tấn công những giáo sĩ vô tội khác. “I am in no sense soft on the issue of child abuse. My concern over the "pedophile priest" issue is not to defend evil clergy, or a sinful church, but I am worried that justified anger over a few awful cases might be turned into ill-focused attacks against innocent clergy.”

Sau đây là những dữ kiện mà tôi nghĩ đáng cho Giáo sư Xuân Vũ Trần Đình Ngọc và bạn đọc suy nghĩ. Philip Jenkins sau nhiều nghiên cứu, ông cho hay những vụ lạm dụng tính dục không phải chỉ xảy ra trong hàng ngũ giáo sĩ trong Giáo Hội Công Giáo hay nơi những giáo sĩ sống đời độc thân nhưng những vụ thưa kiện về lạm dụng tính dục cũng xảy ra trong hàng ngũ những người lập gia đình như mục sư, giáo sư, bác sĩ, những người sống đời sống hôn nhân.... và trong các giáo phái lớn của Tin Lành và trong các tôn giáo khác như Mormons, Jehovah's Witnesses, Jews, Buddhists, Hare Krishnas... “My research of cases over the past twenty years indicates no evidence whatever that Catholic or other celibate clergy are any more likely to be involved in misconduct or abuse than clergy of any other denomination - or indeed, than non-clergy. However determined the news media may be to see this whole affair as a crisis of celibacy, the charge is just unsupported. Literally every denomination and faith tradition has its share of abuse cases, and some of the worst involve non-Catholics. Every mainline Protestant denomination has had scandals aplenty, as have Pentecostals, Mormons, Jehovah's Witnesses, Jews, Buddhists, Hare Krishnas, and the list goes on. One Canadian Anglican (Episcopalian) diocese is currently on the verge of bankruptcy as a result of massive lawsuits caused by decades of systematic abuse, yet the Anglican church does not demand celibacy of its clergy. However much this statement contradicts conventional wisdom, the "pedophile priest" is not a Catholic specialty; yet when did we ever hear about "pedophile pastors"?



Xin quý độc giả nghiên cứu kỹ hơn về từng vụ lạm dụng tính dục trong các giáo phái Tin lành trong năm 2002 tại trang website này

Gs Trần Ðình Ngọc: “Vậy vị Tân Giáo Hoàng, ở đầu thế kỉ 21 này, có đặt ra vấn đề LM độc thân như một câu hỏi lớn để giải quyết? Chúng ta nên nhớ số thanh niên gia nhập chủng viện, dòng tu theo ơn gọi đã giảm sút tệ hại từ 3, 4 thập kỉ nay. Những dòng tu ở Pháp, Ý, Đức, Tây Ban Nha... có khi cả năm không có người gõ cửa. Ở Hoa kỳ khá hơn nhưng cũng đã giảm sút trông thấy. Mà giả sử có nhiều ơn gọi tận hiến, khi đào luyện họ ra, cứ lo ngay ngáy không biết họ sẽ ‘yếu linh hồn’ lúc nào.”

Lm. Phạm Tĩnh: Giáo sư Trần Ðình Ngọc khá đúng khi đưa ra nhận xét “số thanh niên gia nhập [các] chủng viện, và [các] dòng tu đã giảm sút” nhưng không phải là “tệ hại từ 3, 4 thập kỷ nay.” Khách quan mà nói, con số linh mục trong Giáo Hội lúc nào cũng thiếu, bởi vì Chúa Giêsu đã nói: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy các con hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về” (Mt. 9:37).

Nhìn trên bình diện hoàn cầu, số thanh niên, thiếu nữ dâng mình cho Chúa trong các chủng viện và trong các dòng tu tại các nước Châu Âu như Anh, Pháp, Ðức, Ý... thì sút giảm; thế nhưng tại các nước như Ấn Ðộ, Việt Nam, Ðại Hàn, Phi Luật Tân và ngay cả ở Hoa Kỳ thì lại có rất nhiều thanh niên, thiếu nữ đáp trả lại lời mời gọi của Chúa trong ơn gọi làm linh mục và tu sĩ. Thế thì chẳng có gì đáng để tôi bi quan và chán nản. Sự thăng trầm về ơn gọi là chuyện bình thường đã và đang xảy ra trong Giáo Hội.

Trong thực tế, con số thanh niên nam nữ đi tu ở các dòng tu và các chủng viện ở Africa, India, Việt Nam, Ðại Hàn... còn rất cao và rất lạc quan. Có những dòng tu ở các nước này phải tạm ngưng không thâu nhận ứng sinh vì không đủ nhân sự cũng như tài chánh trong công việc đào tạo và huấn luyện. Ngay tại Hoa Kỳ, Dòng Ðạo Binh Chúa Kitô (Legion of Christ) hiện có 2,500 chủng sinh và đang càng ngày càng phát triển mạnh mẽ. (

).

Hiện nay, những địa phận có con số thanh niên đi tu rất khả quan là: Atlanta; Denver; Peoria, IL; Kansas City, KA.; Fall River, MA.; Arlington, VA.; Newark, NY; Bridgeport, CN.; Charlotte, NC.; Lansing, MC.; Lincoln, NB. and Rockford, IL. Gần chúng ta nhất là chủng viện Mt. Angel hiện tại không có đủ chỗ cho các chủng sinh học hành và cư ngụ, ban giám đốc của chủng viện Mt. Angel đang chuẩn bị xây thêm phòng học và cư xá để huấn luyện các chủng sinh trong tương lai. Rồi còn các chủng viện như Mount St. Mary's in Emmitsburg, MD; the Pontifical College Josephinum in Columbus, OH... Số chủng sinh vẫn đang gia tăng rất đáng kể. Thế nhưng ít người nhận ra lắm!

Là một người Kitô hữu, tôi nghĩ là tôi phải cầu nguyện, nâng đỡ và cổ võ cho ơn gọi tu trì cũng như luôn tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa hơn là sống bi quan yếm thế.

Một vấn đề khác mà người ta cũng “nên nhớ” nên biết và nên nghiên cứu cho tường tận là sự khan hiếm ơn gọi trong xã hội ngày nay có rất nhiều lý do và những nguyên nhân gây ra sự khủng hoảng thì rất đa dạng, chứ không phải chỉ vì lý do là các thanh niên sợ “phải sống độc thân” như người ta tưởng. Thật vậy, ngừa thai, phá thai, ly dị, chủ nghĩa tiêu thụ, chủ nghĩa cá nhân, đồng tình luyến ái, cuộc sống tự do, phóng túng... là những nguyên nhân ảnh hưởng rất lớn đến ơn gọi tu trì trong tất cả các tôn giáo chứ không riêng chỉ có trong Giáo Hội Công Giáo.

Thật vậy! Làm sao một thanh niên dám hiến dâng cả cuộc đời phục vụ cho tha nhân, cho Giáo Hội nếu anh sống trong một gia đình thiếu vắng tình yêu của cha mẹ vì cảnh tự do ly dị? Khó lắm!

Còn nữa, làm sao một thanh niên có thể dấn thân vì lý tưởng phục vụ khi bố mẹ của anh coi thường giá trị của Bí Tích Hôn Phối, khi bố mẹ của anh hô hào và chủ trương rằng “Giải trừ phép hôn phối cho [chúng tôi] để [chúng tôi] tái lập cuộc đời [và đó] chính là giải pháp hay nhất, bớt thêm tội nhất và bớt đày đọa con người nhất, không phải chỉ hai người mà cả một gia đình...” (Những Nan Đề... GS. Trần Đình Ngọc).

Làm sao một thanh niên có ý hướng dâng mình cho Chúa khi anh sống trong một môi trường của sex, mà nơi đó người ta tin rằng thoả mãn những đòi hỏi của tính dục là chuyện rất bình thường và tự nhiên?

Tôi bảo đảm, nếu một thanh niên được giáo dục và tin chắc rằng “Thượng Đế sinh ra con người với đầy đủ tâm, sinh lí, với lục dục, thất tình: hỉ, nộ, ai, lạc, ái, ố, dục- con người không muốn cũng không được. Những tình cảm yêu, ghét, thích, muốn... đó chính là cái bản năng tự nhiên Thượng đế sinh ra để con người sinh sôi nảy nở làm đầy mặt đất... bản năng sinh tồn âm dương trai gái, trống mái... là bản năng do Thượng Ðế phú cho con người...” (Những Nan Đề... GS. Trần Đình Ngọc) thì khó có thể anh ta dám đáp trả lại lời mời gọi của Chúa sống đời sống tu trì.

Gs Trần Ðình Ngọc: “Nếu ta nhìn vào đời sống của các Mục Sư Tin Lành, ta thấy với gia đình, Mục sư sống rất thoải mái; những chuyện lăng nhăng về xâm hại tình dục không thấy... Nói chung, khi một nhà tu có gia đình, tất nhiên họ sẽ có quân bình về tâm sinh lý, họ sẽ yên tâm và hăng hái phục vụ Cộng đoàn nhiều hơn là phải sống với sự cưỡng chế tình dục mỗi giây, mỗi phút... và Mục Sư, với nhiệm vụ rao giảng là chính, lo cho gia đình riêng của mình là phụ; họ cũng có một cuộc sống thoải mái không bị dồn nén, nhất là trong khoảng tuổi từ 20-60...”

Lm. Phạm Tĩnh: Nếu Giáo Sư Trần Ðình Ngọc không thấy hay chưa thấy “những chuyện lăng nhăng về xâm hại tình dục” của các Mục Sư của các giáo phái Tin Lành thì tôi xin mời ông đọc đoạn trích trong bài: “Sexual Abuse in Churches Not Limited to Clergy” của ký giả Mary Cagney sau đây:

“The problem of inappropriate sexual behavior among clergy is not new. A 1984 Fuller Seminary survey of ministers in four denominations-Presbyterian, Methodist, Episcopal, and Assemblies of God-showed that 12.7 percent had engaged in sexual intercourse with a church member. The study reported that 38.6 percent had made "sexual contact" with a church member. And in a 1993 survey of Southern Baptist pastors, 14.1 percent confessed to "sexual behavior inappropriate to a minister."



Và còn những con số thống kê nói về những vụ bê bối của các Mục sư do chính các giáo phái trong Giáo Hôi Tin Lành báo cáo tại www.reformation.com cũng như những bài viết và những lời nhận xét của các nhà chuyên môn trong những website sau đây:

. www.lewrockwell.com/mcmaken/mcmaken99.html , ,

Trong phần trên, tôi đã trích dẫn những lời nhận xét của một số nhà chuyên môn về lịch sử học, tâm lý học, xã hội học nổi tiếng như Philip Jenkins, Raymond Arroyo, Roman Cholij, cũng như những lời phát biểu của Ðức Giám Mục William Persell thuộc giáo phái Tin Lành Episcopal Church tại Chicago.

Qua những lời nhận xét của những nhà chuyên môn về tâm lý, xã hội, lịch sử, thống kê... như Mary Cagney, Ryan McMaken, Gary Schoener, William A. Donohue, Raymond Arroyo, Philip Jenkins... (xin lưu ý là đa số những người này không phải là người Công Giáo), tôi hy vọng quý độc giả sẽ có được một cái nhìn khách quan hơn và rõ hơn về những vấn đề bê bối, lạm dụng tình dục.

Tắt một lời, qua những nghiên cứu và điều tra, các nhà chuyên môn đi đến kết luận là những hành động vô đạo đức và tội lỗi này không phải chỉ xảy ra nơi những giáo sĩ sống đời sống độc thân trong Giáo Hội Công Giáo nhưng đã xảy ra trong tất cả các giáo hội Tin Lành nơi các giáo sĩ được phép lấy vợ, và cả trong các tôn giáo khác như Mormons, Jehovah's Witnesses, Buddhists, Jews, Baptists, Pentecostals, Episcopalians... và cũng xảy ra trong các lãnh vực chuyên môn khác như nghành giáo dục, bịnh viện, viện dưỡng lão, các cơ quan, tổ chức chính trị...

Còn Tiếp.....

Rev. Ansgar Phạm Tĩnh

Vancouver, Canada