Về câu thắc mắc: “[N]ếu cho LM có gia đình thì có những điều hại nào?” của GS. Trần Ðình Ngọc, tôi xin trình bày sơ sơ 4 cái hại như sau:
1. HẠI THỨ NHẤT: TRÁI TIM BỊ CHIA ÐÔI, CHÚA MỘT NỬA, VỢ CON MỘT NỬA: Làm sao mà một linh mục có thể chú tâm và hết lòng phục vụ dân Chúa khi ông phải bận tâm, với những lo toan cho vợ con cả về vật chất lẫn tinh thần, cộng thêm vô số những trách nhiệm của một người chồng và một người cha trong gia đình? Chưa kể những lúc vợ đau, con ốm, gần gũi và giáo dục con cái. Nói gì thì nói, khi một linh mục có vợ thì ông sẽ ưu tiên mọi sự cho vợ, con của ông bởi vì thánh Phaolô nói: “Đàn ông có vợ thì lo lắng việc đời: họ tìm cách làm đẹp lòng vợ, thế là họ bị chia đôi.” (1 Cor. 7:32-34). Với kinh nghiệm bản thân và với những kinh nghiệm trong việc mục vụ, Ngài quả quyết rằng để tránh “những nỗi thống khổ hiện tại, [các linh mục sống độc thân] là điều tốt” (1 Cor. 7:26). Bởi vì nếu một linh mục lập gia đình thì “sẽ tự chuốc lấy những nỗi gian truân khốn khổ. Mà tôi, tôi muốn cho [các linh mục] thoát khỏi điều đó” (1 Cor. 7:28).
2. HẠI THỨ HAI: HÁ MIỆNG MẮC QUAI Làm sao một linh mục có thể mở miệng dạy dỗ, khuyên răn giáo dân cũng như chăm lo cho phần rỗi của các linh hồn và chu toàn trách vụ của một người lãnh đạo tinh thần trong giáo xứ được nếu ông lấy phải một bà vợ chẳng ra gì: tham lam, kiêu căng, chanh chua, lẳng lơ, ngoại tình, lắm điều, dữ tợn, nghiện ngập... hay khi ông có những đứa con hư hỏng: theo băng đảng, hút xì ke, cứng đầu cứng cổ...)? (Ai dám bảo đảm rằng một linh mục sẽ lấy được một bà vợ thánh thiện và vẹn toàn?). Tệ hơn nữa, làm sao một linh mục có thể giảng dạy về những giáo huấn của Giáo Hội có liên quan đến vấn đề luân lý khi ông bị vợ ly dị, hay khi vợ ông hay con gái ông chống lại lời giáo huấn của Giáo Hội: thực hiện việc ngừa thai, hoặc tệ hơn nữa đi phá thai...?
3. HẠI THỨ BA: GIẢM THIỂU CHẤT LƯỢNG CỦA CÔNG TÁC MỤC VỤ. Làm sao một linh mục có thể có trái tim đầy nhân ái, thương cảm và tận tâm, dành nhiều thời gian để đến thăm hỏi, nâng đỡ, và gần gũi giáo dân, nhất là đang nửa đêm bị dựng dậy đi ban Bí Tích Xức Dầu bịnh nhân được - khi ông đang nằm trên giường êm ái, trong căn phòng ấm áp với bà vợ có máu G (ghen) của ông? Con chiên nào dám lại xưng tội với ông và xin ông lời khuyên giải khi họ thấy vợ của ông linh mục như vậy?
4. HẠI THỨ TƯ: LINH MỤC VÀ PHU NHÂN TRỞ THÀNH GÁNH NẶNG TÀI CHÁNH CHO GIÁO XỨ Gánh nặng về tài chánh sẽ đặt lên vai của giáo dân sẽ tăng gấp nhiều lần và lúc đó sẽ nảy sinh vô vàn khó khăn cho Giáo Hội. Xin lưu ý, các Linh mục trong Giáo Hội Công Giáo chỉ lãnh một khoản trợ cấp tài chánh (remuneration) rất khiêm tốn so với các mục sư Tin Lành hay Rabbi Do Thái. Mức thu nhập của các giáo sĩ (clergy) vào năm 2000 là: Rabbi Do Thái từ $55,000-$235,000. Mục sư trong Giáo Hội Lutheran khoảng $76,247. Mục sư trong các Giáo phái Tin Lành khác khoảng $40,000 còn một linh mục trong Giáo Hội Công Giáo (bao gồm mọi chi phí sinh hoạt như: xe, bảo hiểm, ăn, ở... khoảng $25,000).
Ðó là chưa kể trong những lúc gối ấp tay kề, ông nổi hứng xì ra những tội của bà X, bà Y trong toà giải tội nữa thì không biết hậu quả sẽ như thế nào?
“Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” Thưa quý vị, vợ con trong nhà chưa lo xong, trách nhiệm của người chồng, của người cha trong gia đình mà còn chưa chu toàn thì làm sao mà một linh mục có vợ có thể lo cho dân Chúa chu đáo được? Như thế, tôi quả quyết và xác tín rằng linh mục sống độc thân thì tốt hơn là lập gia đình rất nhiều, bởi vậy thánh Phaolô mới nói: “Ai cưới [vợ], thì làm một việc tốt, nhưng ai không cưới, thì làm một việc tốt hơn” (1 Cor. 7:38).
Gs Trần Ðình Ngọc: “Một số đông LM tại Hoa kỳ đã nhiều lần thỉnh nguyện lên các Hồng Y và lên tới Giáo hoàng cho LM được có gia đình (Như năm ngoái tại Milwaukee)...”
Lm Phạm Tĩnh: Tôi thấy cụm từ “Một số đông” trong trường hợp này là không chính xác. Nếu tác giả cho biết rõ “một số đông” chính xác là bao nhiêu thì chắc chắn bài viết của ông sẽ có giá trị lắm! Ðàng này tác giả chỉ viết chung chung “một số đông tại Hoa Kỳ”! Thật đáng tiếc!
Sự việc xảy ra như thế này, xin trình bày để quý độc giả nắm rõ vấn đề. Ngày 16 tháng 8 năm 2002, có 163 linh mục ở giáo phận Milwaukee, tiểu bang Wisconsin đã ký tên vào lá thư thỉnh nguyện và ngày 19 tháng 8 họ đã gửi cho Ðức Giám Mục Wilton Gregory, hiện là chủ tịch của Hội Ðồng Giám Mục Hoa Kỳ. Trong thư này, họ thỉnh cầu Giáo Hội cứu xét cho các linh mục có sự chọn lựa lập gia đình hay sống độc thân, chứ không phải là “thỉnh nguyện lên các Hồng Y và lên tới Giáo hoàng cho LM được có gia đình” như Giáo Sư Trần Đình Ngọc trình bày.
Nguyên văn một đoạn thư Anh ngữ là: “Voices urging that the diocesan priesthood now be open to married men as well as celibate men. Put otherwise, we urge that from now on, celibacy be optional, not mandatory, for candidates for the diocesan Roman Catholic priesthood.”
Con số 163 linh mục gửi thỉnh nguyện thư được rất nhiều báo chí và phương tiện truyền thanh, truyền hình ầm ĩ loan tin, thế nhưng con số 600 linh mục khác ngay sau đó ký tên và gửi thư lên Ðức Giám Mục Wilton Gregory để tái khẳng định rằng họ quyết tâm trung thành với cam kết của luật độc thân thì rất ít người và rất ít phương tiện truyền thông loan tin hay đề cập tới. Vì vậy rất nhiều người không biết đến nội dung lá thư cam kết với giáo quyền về đời sống độc thân của 600 linh mục này.
Cuối cùng, để thấy con số 163 có phải là “một số đông Linh Mục” hay không? Tôi xin phiền quý độc giả làm giúp tôi một bài toán. Hiện tại, theo thống kê vào năm 2004, trên các giáo phận ở Hoa Kỳ có 44,212 linh mục, 5,504 nam tu sĩ, 71,468 nữ tu, tổng cộng là 121,184 giáo sĩ và tu sĩ tự nguyện sống đời sống khiết tịnh, độc thân vì lý tưởng phục vụ. Như vậy con số 163 có thể đại diện cho “một số đông Linh Mục” được không?
Gs Trần Ðình Ngọc viết: “Từ thời Chúa Jésus Christ, đấng Giáo Chủ đầu tiên của Giáo hội, thiết lập Giáo hội, các môn đồ của Ngài đều có gia đình, không vì thế mà trở ngại việc rao giảng Tin Mừng.”
Lm. Phạm Tĩnh: Xin thưa với quý độc giả hai vấn đề
1. Ðức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa, là Ðấng lập nên Giáo Hội của Ngài chứ không phải là “đấng Giáo Chủ đầu tiên của Giáo Hội’ như tác giả trình bày. Phúc Âm ghi rất rõ: “Phê-rô, con là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy" (Mt 16:18-19). Thánh Phêrô là vị Giáo Hoàng đầu tiên của Giáo Hội Công Giáo chứ không phải “Chúa Jésus Christ, đấng Giáo Chủ đầu tiên của Giáo hội.”
2. Một mình thánh Phêrô có vợ không có nghĩa là tất cả 11 tông đồ khác đều có vợ. Chỉ duy nhất trong Tin Mừng thánh Mark có ghi lại sự kiện Chúa Giêsu chữa bịnh cho bà nhạc của Phêrô (1:30). Vì thế người ta cần phải rất cẩn thận khi nói “các môn đồ của Ngài đều có gia đình.”
Kế đến, tôi tự hỏi làm sao mà không có trở ngại trong việc rao giảng Tin Mừng nếu một linh mục được sai đi truyền giáo ở các vùng xa xôi, nguy hiểm và đầy thử thách, thiếu thốn có vợ con nheo nhóc?
Bạn cứ nghĩ thử mà xem, nếu một linh mục có vợ con đang sống ở một nơi tiện nghi, sung túc và văn minh giàu có như ở Hoa Kỳ thì có dễ dàng và mau mắn nói lên hai tiếng xin vâng khi bề trên sai ông đi phục vụ ở bên Châu Phi, nơi mà ông sẽ phải đối diện với những nguy hiểm đến tánh mạng và những thách đố của tiện nghi vật chất từng ngày, từng giờ không?
Trong trường hợp một linh mục sống ở một đất nước nghèo khổ, kém văn minh và thiếu thốn về mọi mặt thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn thử thách khi đi làm việc truyền giáo ở các nước văn minh như Canada, Mỹ, Pháp, Úc... Một mình vị linh mục thì may ra, chứ còn thêm vợ con nheo nhóc thì... khó lắm thưa quý vị!
Bản thân tôi là một linh mục trong một hội dòng truyền giáo, đang sống đời độc thân, không bị ràng buộc gì mà còn thấy khó khăn, cảm thấy ngần ngại, ngán ngẩm và lưỡng lự khi bề trên sai đi làm việc ở bên Philippines, bên Trung Quốc ở những vùng nghèo, thiếu tiện nghi, kém văn minh và đầy nguy hiểm, huống hồ chi khi tôi có vợ con! Khi một linh mục có vợ con thì công việc truyền giáo và Phúc Âm hóa của Giáo Hội bị ảnh hưởng quá đi chứ! Sao lại không?
Gs Trần Ðình Ngọc viết: “Đã trên 800 năm qua giải pháp đó xem ra không ổn và là dịp cho những kẻ chống phá Giáo hội lên án nhất là vụ xâm hại tình dục trẻ nít từ 50 năm qua tại Mỹ với số tiền bồi thường lên dến cả tỉ MK. Và cũng chính vì phải bồi thường nhiều quá, hết cả tiền điều hành, nhiều giáo xứ tại Boston, Portland...phải đóng cửa nhà thờ, TGP phải khai phá sản, ở Boston phải bán cả cơ sở, nhà cửa... để lấy tiền trả nợ. TGP Los Angeles còn cả 500 vụ chưa giải quyết, Giáo phận Orange - nơi có nhiều giáo dân và LMVN - cuối năm 2004 phải bồi thường gần 100 triệu MK. "
Lm. Phạm Tĩnh: Trong một bài phê bình văn học, bình phẩm về tác phẩm “The New Anti-Catholism” xuất bản tại Oxford University năm 2003, giáo sư Philip Jenkins cho biết những điều rất đau lòng và đáng buồn cho Giáo Hội Công Giáo là những nhóm và những người ủng hộ những tổ chức chống báng Giáo Hội và đứng đàng sau những vụ thưa kiện lại chính là những phe nhóm nằm trong Giáo Hội Công Giáo và những người Công Giáo quá khích có những mối bất đồng và tức giận với những giáo huấn cứng rắn của Giáo Hội.
Ðây là những con chiên bướng bỉnh, cứng đầu cứng cổ, phản loạn đang bất chấp những thiệt hại cho công việc rao giảng Tin Mừng của Giáo Hội. Họ đã và đang vận động ráo riết và dùng đủ mọi thủ đoạn để gây áp lực, đòi hỏi Giáo Hội phải cho các linh mục tự do lấy vợ, phải cho phụ nữ làm linh mục, phải hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính...
Họ gây nên những áp lực đó để chứng minh rằng tất cả những xì căng đan, những tai tiếng mà báo chí, truyền thanh và truyền hình phanh phui là bởi vì Giáo Hội không chịu chấp thuận những đề nghị của họ.
Mời quý độc giả tìm hiểu thêm về những hành động và những thủ đoạn của những thế lực chống phá Giáo Hội trong đó có một số người mang nhãn hiệu Công Giáo ở trang website dưới đây và trong cuốn sách “The New Anti-Catholism” của Philip Jenkins.
“According to Jenkins, much of the Left has actually been helped along by angry Catholic groups themselves who have never tired of propagating stereotypes and rumors that might help their causes along. It was the liberal Catholics of the National Catholic Reporter, after all, who invented the phrase "pedophile priest" in an attempt to promote their own agenda of ordaining women and eliminating the celibate priesthood. Angry conservative Catholics hopped on the bandwagon as well, with some groups happily repeating virtually anything they could find about seminaries being ruled by predatory homosexuals as long as the stories proved that the Church has been ruined by liberal reformers.” www.lewrockwell.com/mcmaken/mcmaken99.html
Gs. Trần Ðình Ngọc: “Và còn nhiều nơi khác nữa. Khi có vụ việc bùng nổ, giáo dân và cả giáo sĩ đều nói: "Bản năng sinh tồn âm dương, trai gái, trống mái...là bản năng do Thượng Đế phú cho con người, con người sinh ra là có. Giáo dân thế nào thì giáo sĩ như thế. Không nên trách các vị đó làm chi...”
Lm. Phạm Tĩnh: Có hai vấn đề xin thưa với quý vị:
1. “Khi có vụ việc bùng nổ, cả giáo dân và cả giáo sĩ đều nói...” (tôi đoán là ông muốn nói đén vụ bê bối tình dục trong hàng giáo sĩ) thì tôi thấy phần lớn các linh mục bị giáo dân tẩy chay, phê bình chỉ trích một cách không khoan dung, chứ ít khi nghe được những lời an ủi: “không nên trách các vị đó làm chi.” Nếu có vị độc giả nào khi thấy “vụ việc bùng nổ...[và] nói: ‘Bản năng sinh tồn âm dương, trai gái, trống mái...là bản năng do Thượng Ðế phú cho con người...Giáo dân thế nào thì giáo sĩ như thế. Không nên trách các vị đó làm chi” thì tôi xin hết lòng chân thành cám ơn sự rộng lượng và khoan dung của quý vị. Bản thân tôi và tôi biết biết có rất nhiều giáo dân chẳng hề bao giờ nói như trên, vậy tại sao tác giả lại dám quả quyết rằng “cả giáo dân và cả giáo sĩ đều nói.. Bản năng...” thì thật không công bằng tí nào cả!
2. Con người ta được Thiên Chúa tạo dựng nên giống hình ảnh của Ngài và chỉ duy nhất con người là có trí khôn để phán đoán sự việc và có lý trí để kiềm hãm những dục vọng của mình. Nếu cứ lúc nào thấy nhu cầu về sinh lý dậy lên trong người là kiếm cách giải quyết ngay lập tức, không cần suy nghĩ, chẳng cần đắn đo thì tôi nghĩ người đó thật chẳng khác chi con gà, con heo, con chó....
Một nhà phê bình văn học có nói rằng những người cho rằng sống trên đời mà không có sex là chuyện không thể xảy ra và không chấp nhận được hãy suy nghĩ về những lời dạy, lời kêu mời và mẫu gương của Chúa Giêsu cũng như của thánh Phaolô về đời sống độc thân. Nếu một người cho rằng sự tiết chế về vấn đề sinh lý là không thể được và “bất bình thường” thì người ấy đang xem thường và hạ phẩm giá của con người xuống hàng thú vật. Khi nói rằng người ta không thể sống mà không có sex, không thể nào cưỡng chế và làm chủ được những đòi hỏi của xác thịt, của đam mê về tình dục thì người đó từ chối không nhận ra hình ảnh của Thiên Chúa nơi tha nhân và những ơn thiêng của Ngài ban cho con người.
“Opponents of celibacy often simply assume, like Luther, that a life without sex is utterly impossible, whereas our Lord Jesus and St. Paul undeniably teach the contrary and the desirability - even preferability - of celibacy for those so called. One must make a choice for or against the biblical teaching. If sexual abstinence is impossible and "unnatural," men and women are reduced to the level of mere beasts, devoid of God's image and strengthening power, utterly unable to control their appetites and passions. This is not the Christian view!”
Là những người được kêu mời theo Chúa và tự nguyện sống đời độc thân vì nước Trời, các linh mục và tu sĩ không ai dám cậy dựa vào sức riêng của mình nhưng hoàn toàn phó thác và trông cậy tuyệt đối vào ơn thiêng của Chúa phù giúp: “Không có Thầy các con không làm được gì cả!” (Jn 15:5).
Mặt khác, các tu sĩ và giáo sĩ luôn luôn ý thức được rằng những cám dỗ về xác thịt luôn luôn rình chờ để đánh gục họ, những người khấn hứa sống đời sống khiết tịnh vì thế Chúa Giêsu mới khuyên chúng tôi là phải cầu nguyện luôn luôn với Ngài không nản chí (Luke 18:1).
Gs. Trần Ðình Ngọc: “… vấn đề LM có gia đình nên được đặt ra ngay trong đầu thế kỉ này để tránh những tai hại lớn hơn. Cổ nhân nói: "Trong hai cái xấu, nên chọn cái bớt xấu hơn" Cho phép LM lập gia đình chính là Giáo hội đã chọn cái ổ gà để tránh cái ổ voi làm sụp chiếc xe đang ngon trớn...”
Lm. Phạm Tĩnh: Trong việc mua bán, đổi chác thì tôi không dám nói chứ trong lãnh vực luân lý, đạo đức, một người có lương tri và biết suy nghĩ tôi dám quả quyết rằng người đó sẽ không bao giờ dám đem câu cổ ngữ “trong hai cái xấu, nên chọn cái bớt xấu hơn!” Thật vậy! Bạn nghĩ gì về hai trường hợp sau đây:
Trường hợp thứ nhất: Một người nghiện hít bạch phiến lý luận: “Ba tôi thường nói ‘Trong hai cái xấu, nên chọn cái bớt xấu hơn.’ Tôi biết chích xì ke (injecting heroin) là xấu và hại, hít bạch phiến (snorting heroin) cũng xấu và hại. Nhưng hít bạch phiến thì đỡ xấu hơn là chích xì ke bởi vì chích thì dễ bị nhiễm HIV và để lại những vết chích trên hai cánh tay, vì thế tôi hít (snorting heroin) chứ không chích (injecting heroin).”
Trường hợp thứ hai: Một thiếu nữ lý luận như thế này: “Dùng những phương pháp ngừa thai nhân tạo như: the morning after pill, bao cao su…là có tội, cứ phải đi xưng tội hoài. Dùng phương pháp triệt sản (sterilization) cũng có tội, nhưng chỉ cần đi xưng tội một lần thôi là xong. Cổ nhân nói: “Trong hai cái xấu, nên chọn cái bớt xấu hơn,” vì vậy tôi quyết định đi triệt sản.
Trong thực tế, khi thấy cái ổ gà trên đường thì cách tốt nhất là lấp đầy cái ổ gà đó, đừng dại dột chọn cái ổ gà rồi lái xe lao qua luôn bởi vì chỉ sau một thời gian ngắn, cái ổ gà đó sẽ càng ngày càng lở loét ra, lan rộng và sẽ trở thành ổ voi. Tôi đã trình bày với quý độc giả những cái ổ gà bị lở loét (những cái hại khi linh mục có vợ) ở phần trên, xin miễn bàn ở đây!
Còn Tiếp.....
Rev. Ansgar Phạm Tinh
Vancouver,Canada
Chú Thích
Có nhiều websites mà Lm An-Cha Phạm Tĩnh đã dẫn chứng như là "Nói có sách mách có chứng..." để giúp đọc giả sẽ không thắc mắc và hiểu lầm... nhưng vì trục trặc kỹ thuật lúc đưa lên mạng thì phần lớn các websites nầy tự động biến mất.
Chúng tôi xin thành thật xin lỗi Lm Ansgar Phạm Tĩnh và Quý Độc Giả. Trong phần thứ III của bài viết còn lại, chúng tôi sẽ cố gắng chỉnh trang lai và sẽ cho đăng lại toàn bộ với đầy đủ các websites đã dẫn chứng trong từng phần của bài viết nầy.
Vì như lời tựa chúng tôi đã hứa là sẽ đưa bài viết nầy lên Vietcatholic.net trong 3 ngày liên tiếp, cho nên chúng tôi tiếp tục đưa bài viết lên mạng.. và dĩ nhiên sẽ có vài websites cũng sẽ biến mất...
Lm Francis Lý văn Ca
1. HẠI THỨ NHẤT: TRÁI TIM BỊ CHIA ÐÔI, CHÚA MỘT NỬA, VỢ CON MỘT NỬA: Làm sao mà một linh mục có thể chú tâm và hết lòng phục vụ dân Chúa khi ông phải bận tâm, với những lo toan cho vợ con cả về vật chất lẫn tinh thần, cộng thêm vô số những trách nhiệm của một người chồng và một người cha trong gia đình? Chưa kể những lúc vợ đau, con ốm, gần gũi và giáo dục con cái. Nói gì thì nói, khi một linh mục có vợ thì ông sẽ ưu tiên mọi sự cho vợ, con của ông bởi vì thánh Phaolô nói: “Đàn ông có vợ thì lo lắng việc đời: họ tìm cách làm đẹp lòng vợ, thế là họ bị chia đôi.” (1 Cor. 7:32-34). Với kinh nghiệm bản thân và với những kinh nghiệm trong việc mục vụ, Ngài quả quyết rằng để tránh “những nỗi thống khổ hiện tại, [các linh mục sống độc thân] là điều tốt” (1 Cor. 7:26). Bởi vì nếu một linh mục lập gia đình thì “sẽ tự chuốc lấy những nỗi gian truân khốn khổ. Mà tôi, tôi muốn cho [các linh mục] thoát khỏi điều đó” (1 Cor. 7:28).
2. HẠI THỨ HAI: HÁ MIỆNG MẮC QUAI Làm sao một linh mục có thể mở miệng dạy dỗ, khuyên răn giáo dân cũng như chăm lo cho phần rỗi của các linh hồn và chu toàn trách vụ của một người lãnh đạo tinh thần trong giáo xứ được nếu ông lấy phải một bà vợ chẳng ra gì: tham lam, kiêu căng, chanh chua, lẳng lơ, ngoại tình, lắm điều, dữ tợn, nghiện ngập... hay khi ông có những đứa con hư hỏng: theo băng đảng, hút xì ke, cứng đầu cứng cổ...)? (Ai dám bảo đảm rằng một linh mục sẽ lấy được một bà vợ thánh thiện và vẹn toàn?). Tệ hơn nữa, làm sao một linh mục có thể giảng dạy về những giáo huấn của Giáo Hội có liên quan đến vấn đề luân lý khi ông bị vợ ly dị, hay khi vợ ông hay con gái ông chống lại lời giáo huấn của Giáo Hội: thực hiện việc ngừa thai, hoặc tệ hơn nữa đi phá thai...?
3. HẠI THỨ BA: GIẢM THIỂU CHẤT LƯỢNG CỦA CÔNG TÁC MỤC VỤ. Làm sao một linh mục có thể có trái tim đầy nhân ái, thương cảm và tận tâm, dành nhiều thời gian để đến thăm hỏi, nâng đỡ, và gần gũi giáo dân, nhất là đang nửa đêm bị dựng dậy đi ban Bí Tích Xức Dầu bịnh nhân được - khi ông đang nằm trên giường êm ái, trong căn phòng ấm áp với bà vợ có máu G (ghen) của ông? Con chiên nào dám lại xưng tội với ông và xin ông lời khuyên giải khi họ thấy vợ của ông linh mục như vậy?
4. HẠI THỨ TƯ: LINH MỤC VÀ PHU NHÂN TRỞ THÀNH GÁNH NẶNG TÀI CHÁNH CHO GIÁO XỨ Gánh nặng về tài chánh sẽ đặt lên vai của giáo dân sẽ tăng gấp nhiều lần và lúc đó sẽ nảy sinh vô vàn khó khăn cho Giáo Hội. Xin lưu ý, các Linh mục trong Giáo Hội Công Giáo chỉ lãnh một khoản trợ cấp tài chánh (remuneration) rất khiêm tốn so với các mục sư Tin Lành hay Rabbi Do Thái. Mức thu nhập của các giáo sĩ (clergy) vào năm 2000 là: Rabbi Do Thái từ $55,000-$235,000. Mục sư trong Giáo Hội Lutheran khoảng $76,247. Mục sư trong các Giáo phái Tin Lành khác khoảng $40,000 còn một linh mục trong Giáo Hội Công Giáo (bao gồm mọi chi phí sinh hoạt như: xe, bảo hiểm, ăn, ở... khoảng $25,000).
Ðó là chưa kể trong những lúc gối ấp tay kề, ông nổi hứng xì ra những tội của bà X, bà Y trong toà giải tội nữa thì không biết hậu quả sẽ như thế nào?
“Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” Thưa quý vị, vợ con trong nhà chưa lo xong, trách nhiệm của người chồng, của người cha trong gia đình mà còn chưa chu toàn thì làm sao mà một linh mục có vợ có thể lo cho dân Chúa chu đáo được? Như thế, tôi quả quyết và xác tín rằng linh mục sống độc thân thì tốt hơn là lập gia đình rất nhiều, bởi vậy thánh Phaolô mới nói: “Ai cưới [vợ], thì làm một việc tốt, nhưng ai không cưới, thì làm một việc tốt hơn” (1 Cor. 7:38).
Gs Trần Ðình Ngọc: “Một số đông LM tại Hoa kỳ đã nhiều lần thỉnh nguyện lên các Hồng Y và lên tới Giáo hoàng cho LM được có gia đình (Như năm ngoái tại Milwaukee)...”
Lm Phạm Tĩnh: Tôi thấy cụm từ “Một số đông” trong trường hợp này là không chính xác. Nếu tác giả cho biết rõ “một số đông” chính xác là bao nhiêu thì chắc chắn bài viết của ông sẽ có giá trị lắm! Ðàng này tác giả chỉ viết chung chung “một số đông tại Hoa Kỳ”! Thật đáng tiếc!
Sự việc xảy ra như thế này, xin trình bày để quý độc giả nắm rõ vấn đề. Ngày 16 tháng 8 năm 2002, có 163 linh mục ở giáo phận Milwaukee, tiểu bang Wisconsin đã ký tên vào lá thư thỉnh nguyện và ngày 19 tháng 8 họ đã gửi cho Ðức Giám Mục Wilton Gregory, hiện là chủ tịch của Hội Ðồng Giám Mục Hoa Kỳ. Trong thư này, họ thỉnh cầu Giáo Hội cứu xét cho các linh mục có sự chọn lựa lập gia đình hay sống độc thân, chứ không phải là “thỉnh nguyện lên các Hồng Y và lên tới Giáo hoàng cho LM được có gia đình” như Giáo Sư Trần Đình Ngọc trình bày.
Nguyên văn một đoạn thư Anh ngữ là: “Voices urging that the diocesan priesthood now be open to married men as well as celibate men. Put otherwise, we urge that from now on, celibacy be optional, not mandatory, for candidates for the diocesan Roman Catholic priesthood.”
Con số 163 linh mục gửi thỉnh nguyện thư được rất nhiều báo chí và phương tiện truyền thanh, truyền hình ầm ĩ loan tin, thế nhưng con số 600 linh mục khác ngay sau đó ký tên và gửi thư lên Ðức Giám Mục Wilton Gregory để tái khẳng định rằng họ quyết tâm trung thành với cam kết của luật độc thân thì rất ít người và rất ít phương tiện truyền thông loan tin hay đề cập tới. Vì vậy rất nhiều người không biết đến nội dung lá thư cam kết với giáo quyền về đời sống độc thân của 600 linh mục này.
Cuối cùng, để thấy con số 163 có phải là “một số đông Linh Mục” hay không? Tôi xin phiền quý độc giả làm giúp tôi một bài toán. Hiện tại, theo thống kê vào năm 2004, trên các giáo phận ở Hoa Kỳ có 44,212 linh mục, 5,504 nam tu sĩ, 71,468 nữ tu, tổng cộng là 121,184 giáo sĩ và tu sĩ tự nguyện sống đời sống khiết tịnh, độc thân vì lý tưởng phục vụ. Như vậy con số 163 có thể đại diện cho “một số đông Linh Mục” được không?
Gs Trần Ðình Ngọc viết: “Từ thời Chúa Jésus Christ, đấng Giáo Chủ đầu tiên của Giáo hội, thiết lập Giáo hội, các môn đồ của Ngài đều có gia đình, không vì thế mà trở ngại việc rao giảng Tin Mừng.”
Lm. Phạm Tĩnh: Xin thưa với quý độc giả hai vấn đề
1. Ðức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa, là Ðấng lập nên Giáo Hội của Ngài chứ không phải là “đấng Giáo Chủ đầu tiên của Giáo Hội’ như tác giả trình bày. Phúc Âm ghi rất rõ: “Phê-rô, con là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy" (Mt 16:18-19). Thánh Phêrô là vị Giáo Hoàng đầu tiên của Giáo Hội Công Giáo chứ không phải “Chúa Jésus Christ, đấng Giáo Chủ đầu tiên của Giáo hội.”
2. Một mình thánh Phêrô có vợ không có nghĩa là tất cả 11 tông đồ khác đều có vợ. Chỉ duy nhất trong Tin Mừng thánh Mark có ghi lại sự kiện Chúa Giêsu chữa bịnh cho bà nhạc của Phêrô (1:30). Vì thế người ta cần phải rất cẩn thận khi nói “các môn đồ của Ngài đều có gia đình.”
Kế đến, tôi tự hỏi làm sao mà không có trở ngại trong việc rao giảng Tin Mừng nếu một linh mục được sai đi truyền giáo ở các vùng xa xôi, nguy hiểm và đầy thử thách, thiếu thốn có vợ con nheo nhóc?
Bạn cứ nghĩ thử mà xem, nếu một linh mục có vợ con đang sống ở một nơi tiện nghi, sung túc và văn minh giàu có như ở Hoa Kỳ thì có dễ dàng và mau mắn nói lên hai tiếng xin vâng khi bề trên sai ông đi phục vụ ở bên Châu Phi, nơi mà ông sẽ phải đối diện với những nguy hiểm đến tánh mạng và những thách đố của tiện nghi vật chất từng ngày, từng giờ không?
Trong trường hợp một linh mục sống ở một đất nước nghèo khổ, kém văn minh và thiếu thốn về mọi mặt thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn thử thách khi đi làm việc truyền giáo ở các nước văn minh như Canada, Mỹ, Pháp, Úc... Một mình vị linh mục thì may ra, chứ còn thêm vợ con nheo nhóc thì... khó lắm thưa quý vị!
Bản thân tôi là một linh mục trong một hội dòng truyền giáo, đang sống đời độc thân, không bị ràng buộc gì mà còn thấy khó khăn, cảm thấy ngần ngại, ngán ngẩm và lưỡng lự khi bề trên sai đi làm việc ở bên Philippines, bên Trung Quốc ở những vùng nghèo, thiếu tiện nghi, kém văn minh và đầy nguy hiểm, huống hồ chi khi tôi có vợ con! Khi một linh mục có vợ con thì công việc truyền giáo và Phúc Âm hóa của Giáo Hội bị ảnh hưởng quá đi chứ! Sao lại không?
Gs Trần Ðình Ngọc viết: “Đã trên 800 năm qua giải pháp đó xem ra không ổn và là dịp cho những kẻ chống phá Giáo hội lên án nhất là vụ xâm hại tình dục trẻ nít từ 50 năm qua tại Mỹ với số tiền bồi thường lên dến cả tỉ MK. Và cũng chính vì phải bồi thường nhiều quá, hết cả tiền điều hành, nhiều giáo xứ tại Boston, Portland...phải đóng cửa nhà thờ, TGP phải khai phá sản, ở Boston phải bán cả cơ sở, nhà cửa... để lấy tiền trả nợ. TGP Los Angeles còn cả 500 vụ chưa giải quyết, Giáo phận Orange - nơi có nhiều giáo dân và LMVN - cuối năm 2004 phải bồi thường gần 100 triệu MK. "
Lm. Phạm Tĩnh: Trong một bài phê bình văn học, bình phẩm về tác phẩm “The New Anti-Catholism” xuất bản tại Oxford University năm 2003, giáo sư Philip Jenkins cho biết những điều rất đau lòng và đáng buồn cho Giáo Hội Công Giáo là những nhóm và những người ủng hộ những tổ chức chống báng Giáo Hội và đứng đàng sau những vụ thưa kiện lại chính là những phe nhóm nằm trong Giáo Hội Công Giáo và những người Công Giáo quá khích có những mối bất đồng và tức giận với những giáo huấn cứng rắn của Giáo Hội.
Ðây là những con chiên bướng bỉnh, cứng đầu cứng cổ, phản loạn đang bất chấp những thiệt hại cho công việc rao giảng Tin Mừng của Giáo Hội. Họ đã và đang vận động ráo riết và dùng đủ mọi thủ đoạn để gây áp lực, đòi hỏi Giáo Hội phải cho các linh mục tự do lấy vợ, phải cho phụ nữ làm linh mục, phải hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính...
Họ gây nên những áp lực đó để chứng minh rằng tất cả những xì căng đan, những tai tiếng mà báo chí, truyền thanh và truyền hình phanh phui là bởi vì Giáo Hội không chịu chấp thuận những đề nghị của họ.
Mời quý độc giả tìm hiểu thêm về những hành động và những thủ đoạn của những thế lực chống phá Giáo Hội trong đó có một số người mang nhãn hiệu Công Giáo ở trang website dưới đây và trong cuốn sách “The New Anti-Catholism” của Philip Jenkins.
“According to Jenkins, much of the Left has actually been helped along by angry Catholic groups themselves who have never tired of propagating stereotypes and rumors that might help their causes along. It was the liberal Catholics of the National Catholic Reporter, after all, who invented the phrase "pedophile priest" in an attempt to promote their own agenda of ordaining women and eliminating the celibate priesthood. Angry conservative Catholics hopped on the bandwagon as well, with some groups happily repeating virtually anything they could find about seminaries being ruled by predatory homosexuals as long as the stories proved that the Church has been ruined by liberal reformers.” www.lewrockwell.com/mcmaken/mcmaken99.html
Gs. Trần Ðình Ngọc: “Và còn nhiều nơi khác nữa. Khi có vụ việc bùng nổ, giáo dân và cả giáo sĩ đều nói: "Bản năng sinh tồn âm dương, trai gái, trống mái...là bản năng do Thượng Đế phú cho con người, con người sinh ra là có. Giáo dân thế nào thì giáo sĩ như thế. Không nên trách các vị đó làm chi...”
Lm. Phạm Tĩnh: Có hai vấn đề xin thưa với quý vị:
1. “Khi có vụ việc bùng nổ, cả giáo dân và cả giáo sĩ đều nói...” (tôi đoán là ông muốn nói đén vụ bê bối tình dục trong hàng giáo sĩ) thì tôi thấy phần lớn các linh mục bị giáo dân tẩy chay, phê bình chỉ trích một cách không khoan dung, chứ ít khi nghe được những lời an ủi: “không nên trách các vị đó làm chi.” Nếu có vị độc giả nào khi thấy “vụ việc bùng nổ...[và] nói: ‘Bản năng sinh tồn âm dương, trai gái, trống mái...là bản năng do Thượng Ðế phú cho con người...Giáo dân thế nào thì giáo sĩ như thế. Không nên trách các vị đó làm chi” thì tôi xin hết lòng chân thành cám ơn sự rộng lượng và khoan dung của quý vị. Bản thân tôi và tôi biết biết có rất nhiều giáo dân chẳng hề bao giờ nói như trên, vậy tại sao tác giả lại dám quả quyết rằng “cả giáo dân và cả giáo sĩ đều nói.. Bản năng...” thì thật không công bằng tí nào cả!
2. Con người ta được Thiên Chúa tạo dựng nên giống hình ảnh của Ngài và chỉ duy nhất con người là có trí khôn để phán đoán sự việc và có lý trí để kiềm hãm những dục vọng của mình. Nếu cứ lúc nào thấy nhu cầu về sinh lý dậy lên trong người là kiếm cách giải quyết ngay lập tức, không cần suy nghĩ, chẳng cần đắn đo thì tôi nghĩ người đó thật chẳng khác chi con gà, con heo, con chó....
Một nhà phê bình văn học có nói rằng những người cho rằng sống trên đời mà không có sex là chuyện không thể xảy ra và không chấp nhận được hãy suy nghĩ về những lời dạy, lời kêu mời và mẫu gương của Chúa Giêsu cũng như của thánh Phaolô về đời sống độc thân. Nếu một người cho rằng sự tiết chế về vấn đề sinh lý là không thể được và “bất bình thường” thì người ấy đang xem thường và hạ phẩm giá của con người xuống hàng thú vật. Khi nói rằng người ta không thể sống mà không có sex, không thể nào cưỡng chế và làm chủ được những đòi hỏi của xác thịt, của đam mê về tình dục thì người đó từ chối không nhận ra hình ảnh của Thiên Chúa nơi tha nhân và những ơn thiêng của Ngài ban cho con người.
“Opponents of celibacy often simply assume, like Luther, that a life without sex is utterly impossible, whereas our Lord Jesus and St. Paul undeniably teach the contrary and the desirability - even preferability - of celibacy for those so called. One must make a choice for or against the biblical teaching. If sexual abstinence is impossible and "unnatural," men and women are reduced to the level of mere beasts, devoid of God's image and strengthening power, utterly unable to control their appetites and passions. This is not the Christian view!”
Là những người được kêu mời theo Chúa và tự nguyện sống đời độc thân vì nước Trời, các linh mục và tu sĩ không ai dám cậy dựa vào sức riêng của mình nhưng hoàn toàn phó thác và trông cậy tuyệt đối vào ơn thiêng của Chúa phù giúp: “Không có Thầy các con không làm được gì cả!” (Jn 15:5).
Mặt khác, các tu sĩ và giáo sĩ luôn luôn ý thức được rằng những cám dỗ về xác thịt luôn luôn rình chờ để đánh gục họ, những người khấn hứa sống đời sống khiết tịnh vì thế Chúa Giêsu mới khuyên chúng tôi là phải cầu nguyện luôn luôn với Ngài không nản chí (Luke 18:1).
Gs. Trần Ðình Ngọc: “… vấn đề LM có gia đình nên được đặt ra ngay trong đầu thế kỉ này để tránh những tai hại lớn hơn. Cổ nhân nói: "Trong hai cái xấu, nên chọn cái bớt xấu hơn" Cho phép LM lập gia đình chính là Giáo hội đã chọn cái ổ gà để tránh cái ổ voi làm sụp chiếc xe đang ngon trớn...”
Lm. Phạm Tĩnh: Trong việc mua bán, đổi chác thì tôi không dám nói chứ trong lãnh vực luân lý, đạo đức, một người có lương tri và biết suy nghĩ tôi dám quả quyết rằng người đó sẽ không bao giờ dám đem câu cổ ngữ “trong hai cái xấu, nên chọn cái bớt xấu hơn!” Thật vậy! Bạn nghĩ gì về hai trường hợp sau đây:
Trường hợp thứ nhất: Một người nghiện hít bạch phiến lý luận: “Ba tôi thường nói ‘Trong hai cái xấu, nên chọn cái bớt xấu hơn.’ Tôi biết chích xì ke (injecting heroin) là xấu và hại, hít bạch phiến (snorting heroin) cũng xấu và hại. Nhưng hít bạch phiến thì đỡ xấu hơn là chích xì ke bởi vì chích thì dễ bị nhiễm HIV và để lại những vết chích trên hai cánh tay, vì thế tôi hít (snorting heroin) chứ không chích (injecting heroin).”
Trường hợp thứ hai: Một thiếu nữ lý luận như thế này: “Dùng những phương pháp ngừa thai nhân tạo như: the morning after pill, bao cao su…là có tội, cứ phải đi xưng tội hoài. Dùng phương pháp triệt sản (sterilization) cũng có tội, nhưng chỉ cần đi xưng tội một lần thôi là xong. Cổ nhân nói: “Trong hai cái xấu, nên chọn cái bớt xấu hơn,” vì vậy tôi quyết định đi triệt sản.
Trong thực tế, khi thấy cái ổ gà trên đường thì cách tốt nhất là lấp đầy cái ổ gà đó, đừng dại dột chọn cái ổ gà rồi lái xe lao qua luôn bởi vì chỉ sau một thời gian ngắn, cái ổ gà đó sẽ càng ngày càng lở loét ra, lan rộng và sẽ trở thành ổ voi. Tôi đã trình bày với quý độc giả những cái ổ gà bị lở loét (những cái hại khi linh mục có vợ) ở phần trên, xin miễn bàn ở đây!
Còn Tiếp.....
Rev. Ansgar Phạm Tinh
Vancouver,Canada
Chú Thích
Có nhiều websites mà Lm An-Cha Phạm Tĩnh đã dẫn chứng như là "Nói có sách mách có chứng..." để giúp đọc giả sẽ không thắc mắc và hiểu lầm... nhưng vì trục trặc kỹ thuật lúc đưa lên mạng thì phần lớn các websites nầy tự động biến mất.
Chúng tôi xin thành thật xin lỗi Lm Ansgar Phạm Tĩnh và Quý Độc Giả. Trong phần thứ III của bài viết còn lại, chúng tôi sẽ cố gắng chỉnh trang lai và sẽ cho đăng lại toàn bộ với đầy đủ các websites đã dẫn chứng trong từng phần của bài viết nầy.
Vì như lời tựa chúng tôi đã hứa là sẽ đưa bài viết nầy lên Vietcatholic.net trong 3 ngày liên tiếp, cho nên chúng tôi tiếp tục đưa bài viết lên mạng.. và dĩ nhiên sẽ có vài websites cũng sẽ biến mất...
Lm Francis Lý văn Ca