Gs Trần Ðình Ngọc: “Khi ơn gọi đã giảm thiểu, Giáo hội không có những giáo sĩ trẻ để thay thế giáo sĩ đến tuổi về hưu hoặc yếu đau, bệnh hoạn, hoặc qua đời. Cũng là con người, phái nữ cũng đáng được giao phó nhiệm vụ mục vụ và rao giảng như nam giới vì Chúa sinh ra, nam nữ bình quyền. Vậy tại sao trong lúc quá thiếu Linh mục, Giáo hội không cho những phụ nữ xứng đáng - qua một cuộc tuyển chọn hoặc huấn luyện như chủng sinh trong các Nữ chủng viện chẳng hạn - được dự phần vào mục vụ như các Linh mục nam giới?”
Lm. Phạm Tĩnh: Tôi xin có hai ý tưởng muốn chia sẻ cùng tác giả và quý độc giả.
1. Khi nói đến bình quyền, người ta hay lẫn lộn giữa bình đẳng về nhân vị (the equality of dignity) và bình đẳng về căn tính (the equality of identity).
2. Không ai dám tự cho mình là xứng đáng để lãnh nhận thiên chức Linh Mục bởi vì đó là một món quà, là một hồng ân mà Thiên Chúa trao tặng cho những người mà Ngài tuyển chọn. Ngài tự do chọn những ai Ngài muốn (Mc 3:13). Nói đến ơn gọi tận hiến, người ta không được phép quên rằng “Không phải các con đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn các con và sai các con đi…”(Jn 15:16).
Thật vậy, vấn đề được kêu mời phục vụ Chúa qua thừa tác vụ linh mục trong Giáo Hội Công Giáo là một ân huệ chứ không phải là một quyền lợi mà hễ ai muốn là được. Giáo Hội Công Giáo không phải là một thể chế dân chủ. Tín điều, đức tin và mạc khải của Thiên Chúa không phải là những đạo luật như thuế má, hễ nhiều phiếu ủng hộ là thông qua, còn ít phiếu thì phải xét lại. Trong tông thư Declaration của Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô Ðệ Nhị, ngài nhắc nhở các tín hữu rằng: “Thiên chức linh mục không phải là quyền lợi của một cá nhân, nhưng là một mạc khải và là món quà tặng của Chúa Giêsu và của Giáo Hội.”
"It must not be forgotten, that the priesthood does not form part of the rights of the individual, but stems from the economy of the mystery of Christ and the church" (States the Declaration, no. 6) http://www.catholic.com/thisrock/1996/9601fea3.asp
Bình đẳng về nhân vị (the equality of dignity) Vâng! Tất cả mọi người đều bình đẳng về nhân phẩm và giá trị như nhau dù đó chỉ là một phôi thai (embryo), đang là một thai nhi trong dạ mẹ hay một người già lão, bệnh tật đang nằm trên giường bệnh BỞI VÌ tất cả đều được tạo dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa (Gaudium et Spes, chapter 1, #12). Trong tông thư Mulieris Dignitatem, Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô Ðệ Nhị cũng giải thích rất chi tiết và nhấn mạnh đến tính bình đẳng của nhân phẩm con người, cũng như những vai trò quan trọng của phụ nữ trong đời sống sinh hoạt của Giáo Hội. http://www.ewtn.com/library/papaldoc/jp2mulie.htm
Bình đẳng về căn tính (the equality of identity) Không! Nam giới và nữ giới không thể bình đẳng về những căn tính (the identities). Thật vậy, khi dựng nên loài người, Chúa đã dựng nên người nam và người nữ có thể lý khác nhau (physical difference), những tài năng và năng khiếu khác nhau (different gifts, talents, and contributions).
Thật vậy, phái nam thì mạnh mẽ, ăn to nói lớn, tính tình cương nghị, cứng rắn, gan lì, có sức chịu đựng thử thách dẻo dai, thích phiêu lưu mạo hiểm cho nên được gọi là phái mạnh, là bậc nam nhi đại trượng phu, đầu đội trời, chân đạp đất. Còn phái nữ thì ăn nói nhỏ nhẹ, thuỳ mị, mảnh khảnh, yếu ớt, mỏng manh, dễ xúc động, dễ bị tổn thương, dễ mủi lòng…cho nên còn được gọi là phái yếu, đài các, tiểu thư, thân lụa đào, hoa hồng…
Nói gì thì nói, những người ủng hộ cho phụ nữ bình quyền (feminists) không thể phủ nhận được sự thật hiển nhiên này: những công việc vất vả, nặng nhọc, dầm mưa dãi nắng, đòi hỏi sức khoẻ và sức chịu đựng dẻo dai, nằm gai nếm mật thì chỉ thấy phái nam đảm trách: tòng quân đánh trận, khai thác mỏ, lái xe truck xuyên bang, cày bừa, bốc vác, cưa xẻ, xây dựng nhà cửa, lính cứu hỏa, sửa chữa xe cộ, sửa chữa tàu thuyền…Còn những công việc nhẹ nhàng, đòi hỏi sự tỉ mỉ, cẩn thận và chi tiết thì dành cho phái nữ đảm trách: nấu ăn, cắm hoa, trang trí, làm bánh, may vá, thêu thùa…
Nếu bạn đồng ý với tôi là có sự khác biệt về nhân vị bình quyền (the equality of dignity) và căn tính bình quyền (the equality of identities) thì tôi tin chắc bạn sẽ đồng ý với tôi rằng căn tính linh mục chỉ được Thiên Chúa phú bẩm cho người nam mà thôi. Tại sao tôi dám nói như vậy?
Thứ nhất là bởi vì mặc dù có những môn đệ thuộc phái nữ rất xuất sắc, Chúa Giêsu chỉ chọn 12 ông và gọi là TÔNG ÐỒ
Xin quý độc giả đừng quên Chúa Giêsu có rất nhiều môn đệ (cả nam lẫn nữ). Các môn đệ nữ thì trung thành với Ngài và có thể nói có nhiều mặt tốt hơn các môn đệ nam. Bằng chứng là Chúa Giêsu chẳng rầy la những môn đệ nữ nhưng lại hay trách mắng và sửa trị các tông đồ khi họ phạm lỗi: Khi Phêrô nói bậy “Satan, lui ra đàng sau” (Mc 8:33); khi các ông sợ hãi sóng biển: “Sao nhát thế? Làm sao mà anh em vẫn chưa có lòng tin?” (Mc 4:40); khi các ông tranh giành quyền lực “Ai muốn làm lớn thì phải phục vụ mọi người …” (Mc 9:35). Bạn có thấy Chúa Giêsu rầy la hay mắng các môn đệ thuộc phái nữ như vậy không?
Những người phụ nữ dưới đây có thể nói là những người ưu tú và hội đủ điều kiện làm linh mục, làm tông đồ của Chúa Giêsu, và nếu Ngài muốn thì họ sẽ là những ứng viên sáng giá nhất cho thiên chức linh mục, tôi nghĩ vậy!
1. Mẹ Maria sẽ là một linh mục tuyệt hảo nhất bởi vì Mẹ là Ðấng đầy ân sủng…[và] đẹp lòng Thiên Chúa” (Lk 1:28-30). Thế nhưng Chúa Giêsu đã không trao chức linh mục cho Mẹ của Ngài.
2. Chúa Giêsu có thể chọn ít nhất 1 linh mục phụ nữ, một người trong số “các bà đã lấy của cải mình mà giúp đỡ Ðức Giêsu và các môn đệ” (Lc 8:3). Thế nhưng Ngài không làm như vậy!
3. Maria Magdala sẽ là một linh mục lý tưởng vì bà là người không sợ chết, không sợ bị bắt, trung thành theo Chúa Giêsu đến tận đồi Gôn-gô-tha, và dám đứng dưới chân cây thập giá. Hơn nữa, bà là chứng chân đầu tiên cho sự kiện Chúa Giêsu phục sinh (Jn 20:11). Thế nhưng Chúa Giêsu đã không chọn bà làm linh mục.
Tại sao lạ vậy? Tại sao các môn đệ nữ tốt lành như vậy mà Chúa Giêsu không chọn làm linh mục mà lại phải “thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa” rồi sau đó “kêu các môn đệ lại, chọn lấy 12 ông và gọi là Tông Ðồ” (Lc 6:12; Mt 10:1-4; Mc 3:13-19)?
Tại sao Chúa Giêsu lại KHÔNG CHỌN PHỤ NỮ làm linh mục mà CHỈ CHỌN CÁC ÔNG và trao cho các ông trọng trách rao giảng và loan báo Tin Mừng cứu độ cho mọi loài thọ tạo? Câu trả lời là BỞI VÌ CHÚA GIÊSU KHÔNG MUỐN (HE DOES NOT WANT IT!).
Thiên Chúa khôn ngoan vô cùng, vô tận. Trí khôn của Ngài thì vượt xa trí khôn ngoan của bạn, của tôi và của tất cả loài người trên trái đất này cộng lại! Ngài muốn chọn những người nam làm linh mục bởi vì chỉ có họ mới hợp với vai trò là những vị đại diện của Chúa Kitô “in persona Christi.” Linh mục phải là nam giới bởi vì Chúa Kitô là chàng rể mà Giáo Hội là hiền thê của Người. Phụ nữ làm sao mà có thể làm chàng rể đại diện cho Chúa Kitô khi đứng trên bàn thờ được? Chúa Giêsu chỉ chọn những người nam mà thôi!
1. “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo. Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án” (Mk 16:15-16).
2. “Mười một môn đệ đi tới miền Ga-li-lê... Đức Giê-su đến gần, nói với các ông: Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế" (Mt 28:17-20).
3. "Anh em hãy nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giê-ru-sa-lem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội. Chính anh em là chứng nhân về những điều này. "Phần Thầy, Thầy sẽ gửi cho anh em điều Cha Thầy đã hứa. Còn anh em, hãy ở lại trong thành, cho đến khi nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống." (Lk 24:46-49).
4. "Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em." Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: "Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ" (Jn 20:21-23).
Thứ hai là bởi vì trong Thánh Kinh, người ta thấy vai trò lãnh đạo và giảng dạy chỉ được dành riêng cho phái nam
1. Thánh Phaolô đã cho phép những người phụ nữ cầu nguyện công khai và nói tiên tri trong các buổi hội họp của cộng đoàn (1 Cor 11:1-16), nhưng Ngài cấm họ không được phép giảng dạy hoặc cử hành những thừa tác vụ như phái nam (1 Tim 2:11-14).
2. Thánh Phaolô chỉ thị rằng các phụ nữ không được phép xen vào những công việc của các giáo sĩ (1 Cor 14:34-38).
Thứ ba là thiên chức linh mục chỉ dành cho phái nam được các phụ nữ thời bấy giờ công nhận qua những thái độ phục tùng và yêu mến trước các quyết định của các Tông đồ…
1. Khi được trao nhiệm vụ đi báo tin Chúa đã sống lại cho mấy ông linh mục nhút nhát đang trốn chu trốn nhủi ở nhà vì sợ người Do Thái thì các bà không ghen tị, ém nhẹm mà trái lại “rất đỗi vui mừng, chạy về báo tin cho môn đệ Đức Giê-su hay.” (Mt 28: 9-20; Mk 16:9-20; Lc 24: 13 -53; Ga 20: 11 -23; Acts 1:6-11). Nếu mấy bà và nhất là bà Maria Magdala muốn làm linh mục thì chắc chắn đây là cơ hội tốt nhất cho các bà: đi loan tin mừng phục sinh và rao giảng một mình không báo cho mấy ông thỏ đế ở nhà. Nhưng các bà đã không làm như vậy là bởi vì họ biết công việc rao giảng và ban các phép Bí Tích không phải là ý muốn của Chúa Giêsu.
2. Khi họp để bầu chọn một tông đồ thay thế Giuđa thì có sự hiện diện của Mẹ Maria, các môn đệ nữ cũng có mặt ở đó khoảng 120 vị, cùng với 11 tông đồ “tất cả các ông đều đồng tâm nhất trí, chuyên cần cầu nguyện cùng với mấy người phụ nữ, với bà Ma-ri-a thân mẫu Đức Giê-su... khoảng 120 người” (Acts 1:14-15). Thế nhưng tại sao không một phụ nữ nào (không phải là ít!) có ý kiến gì phản đối hay đề cử một bà thay vào chỗ của Giuđa, (họ có đủ và dư tiêu chuẩn để ra ứng cử) nhưng lại vui vẻ, đồng tâm nhất trí với Phêrô chọn ra hai người đàn ông là Justius và Matthia ra ứng cử. Tại vì những ngườI phụ nữ tôn trọng quyền tự do của Chúa Giêsu, Ngài chỉ muốn chọn những người nam vào chức vụ linh mục.
Thứ bốn là công việc truyền giáo đòi hỏi sự mạo hiểm, chịu đựng gian khổ,gan lì, hy sinh, dũng cảm mà chỉ có những người nam mới đảm nhận tốt được
1. Trong số 12 tông đồ thì 11 vị đã chịu tử đạo vì dám làm chứng cho Chúa Giêsu Phục Sinh.
2. “Trong mọi sự, chúng tôi luôn chứng tỏ mình là những thừa tác viên của Thiên Chúa: gian nan, khốn quẫn, lo âu, đòn vọt, tù tội, loạn ly, nhọc nhằn, vất vả, mất ăn mất ngủ, chúng tôi đều rất mực kiên trì chịu đựng” (2 Cor 6:4-5).
3. “Năm lần tôi bị người Do-thái đánh bốn mươi roi bớt một; ba lần bị đánh đòn; một lần bị ném đá; ba lần bị đắm tàu; một đêm một ngày lênh đênh giữa biển khơi! Tôi còn hơn họ, vì phải thực hiện nhiều cuộc hành trình, gặp bao nguy hiểm trên sông, nguy hiểm do trộm cướp, nguy hiểm do đồng bào, nguy hiểm vì dân ngoại, nguy hiểm ở thành phố, trong sa mạc, ngoài biển khơi, nguy hiểm do những kẻ giả danh là anh em. Tôi còn phải vất vả mệt nhọc, thường phải thức đêm, bị đói khát, nhịn ăn nhịn uống và chịu rét mướt trần truồng” (2 Cor 11:24-27).
Cuối cùng, xin độc giả nhớ cho rằng, chuyện phong chức cho phụ nữ làm linh mục sẽ KHÔNG BAO GIỜ XẢY RA TRONG GIÁO HỘI CÔNG GIÁO.
Ngày 22 tháng 5 năm 1994, Ðức Cố Giáo Hoàng Phaolô Ðệ Nhị trong tông huấn Ordinatio Sacerdotalis đã dùng quyền bất khả ngộ mà tuyên bố rằng phong chức linh mục cho phụ nữ là đi ngược lại với những lời dạy dỗ của Thánh Kinh và Thánh Truyền. Ngài khẳng định rằng Giáo Hội không có thẩm quyền để phong chức linh mục cho phụ nữ.
“In order that all doubt may be removed regarding a matter of great importance, a matter which pertains to the Church's divine constitution itself, in virtue of my ministry of confirming the brethren (cf. Lk 22:32) I declare that the Church has no authority whatsoever to confer priestly ordination on women and that this judgment is to be definitively held by all the Church's faithful.” (Ordinatio Sacerdotalis # 4) http://www.vatican.va/holy_father/john_paul_ii/apost_letters/documents/hf_jp-ii_apl_22051994_ordinatio-sacerdotalis_en.html
Ngày 28 tháng 11 năm 1995, Thánh Bộ Tín Lý (the Congregation for the Doctrine of the Faith) minh định rằng Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô Ðệ Nhị đã dùng quyền bất khả ngộ để tuyên bố rằng Giáo Hội sẽ không bao giờ phong chức cho phụ nữ.
"This teaching requires definitive assent, since, founded on the written Word of God, and from the beginning constantly preserved and applied in the tradition of the Church, it has been set forth infallibly by the ordinary and universal magisterium (cf. Second Vatican Council, Dogmatic Constitution on the Church, Lumen Gentium 25:2)" Thus, in the present circumstances, the Roman Pontiff, exercising his proper office of confirming the brethren (cf. Lk 22:32), has handed on this same teaching by a formal declaration, explicitly stating what is to be held always, everywhere, and by all, as belonging to the deposit of the faith. http://www.wf-f.org/ResDub.html
Gs Trần Ðình Ngọc:“Nhiều Giáo hội Thiên Chúa như Anh Giáo, Tin Lành, Episcopal, Baptist, Evangelical Church, Chính thống giáo v.v... đã phong chức Linh mục cho nữ giới từ nhiều năm nay. Họ không gặp trở ngại nào mà trái lại, nhiều nữ LM thi hành trọn vẹn công tác được giao phó rất tốt đẹp.
Lm. Phạm Tĩnh: Xin thưa với quý vị những vấn đề sau:
1. Kể từ khi Martin Luther ly khai khỏi Giáo Hội Công Giáo thì hầu hết các giáo phái Tin Lành đã phủ nhận BÍ TÍCH TRUYỀN CHỨC THÁNH của Giáo Hội Công Giáo Roma và Giáo Hội Ðông Phương (Most Protestant churches have entirely rejected the sacramental system of Rome and the Eastern churches and, as a result, have rejected a sacrificing priesthood as well as the Sacrament of Holy Order). Vì thế những phụ nữ trong các Giáo phái thuộc Giáo Hội Tin Lành chỉ nhận chức thừa tác viên (minister) chứ không phải là chức linh mục (the priesthood).
2. KHÔNG PHẢI tất cả các Giáo Phái của Giáo Hội Tin Lành đồng ý phong chức thừa tác viên (minister) cho phụ nữ. Theo tài liệu của Giáo Phái Episcopal những Giáo Phái Tin Lành ở những quốc gia sau đây không đồng ý phong chức thừa tác viên (minister) cho phụ nữ: Central Africa-Jerusalem & Middle East-Korea-Melanesia-Nigeria-Papua New Guinea-South East Asia và Tanzania http://www.progressiveepiscopalians.org/html/women.html
Gs Trần Ðình Ngọc:“… Đức Mẹ Maria đã chẳng là người nữ mà Thiên Chúa phải nhờ tới mới xuống thế làm người được sao? Còn nói thời Chúa, các tông đồ là Nam giới nay ta cứ theo thế. Lập luận này có lẽ không vững vì "ăn theo thuở, ở theo thì". Nếu ngày nay ta cứ phải dùng ngựa hoặc chạy bộ mà báo tin cho nhau như mấy thế kỉ trước, không dùng cell phone thì cuộc sống sẽ ra sao? Và kẻ bàng quan có nghĩ là giữ lấy những cái cổ truyền hủ lậu đó là khôn ngoan hay trái lại?”
Lm. Phạm Tĩnh: Công đồng Vatican II dạy như sau: “Những lời giảng dạy của các Tông Ðồ được đặc biệt ghi lại trong các sách linh ứng, phải được bảo tồn và liên tục lưu truyền cho đến tận thế. Do đó khi truyền lại những gì chính mình đã lãnh nhận, các Tông Ðồ khuyến cáo các tín hữu phải giữ gìn các truyền thống họ đã học biết qua lời chỉ giáo hay bằng thư từ (x. 2Th.2:15), và phải chiến đấu để bảo vệ đức tin chỉ được truyền dạy cho họ một lần thôi (Jud. 3).... Như vậy, Giáo Hội qua giáo lý, đời sống và việc thờ phượng của mình, bảo tồn và lưu truyền cho mọi thế hệ tất cả thực chất của mình và tất cả những gì mình tin” (Dei Verbum, ch.2, no. 8)
Văn kiện Dei Verbum còn nói tiếp: “Thánh truyền và Thánh Kinh họp thành một kho tàng thánh thiện duy nhất chứa đựng lời Thiên Chúa và được ủy thác cho Giáo Hội.”
Như thế, Thánh Truyền không được phép coi là “những cái cổ truyền hủ lậu” như Gs. Trần Ðình Ngọc nghĩ.
Trong thực tế, có nhiều điều mà thế hệ thứ ba, những con em của chúng ta sinh ra tại nước Mỹ này cho là cổ truyền hủ lậu. Nhưng những bậc phụ huynh vẫn cố gắng bảo tồn và gìn giữ văn hóa của dân tộc Việt Nam như là những kho tàng và là báu vật vậy.
Bạn sẽ trả lời như thế nào nếu con cái hoặc cháu của bạn hỏi:
1. Sống ở Mỹ, sao không sống theo Mỹ, mà cứ bám vào truyền thống cổ lỗ sĩ, đi thưa về trình, khoanh tay chào ông, chào bà, chào bác chào chú, đi đúng giờ, về đúng giấc như vậy?
2. Tại sao cứ phải bám vào truyền thống cổ lỗ sĩ là sống cần kiệm, làm được $10 mà xài chỉ có $5. Tại sao không ra tiệm ăn cho khoẻ mà cứ phải nấu nướng ở nhà và ăn những món ăn nặng mùi dân tộc như mắm ruốc, mắm tôm, mắm cá như vậy?
3. Tại sao cứ phải lập gia đình với người Việt Nam? Mình đang sống ở Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, đen, đỏ, vàng, nâu, trắng thì là chuyện của con chứ việc gì đến bố mẹ?
4. Tại sao bố mẹ không chịu sống trong nursing home mà cứ muốn sống ở nhà với con cháu, bắt con cháu hầu hạ như vậy?
5. Ở bên Mỹ này, con trai con gái lớn lên quen nhau, ăn nằm với nhau là chuyện bình thường. Tại sao cứ phải giữ gìn trinh tiết làm gì? Thời buổi văn minh này mà ba má lo chi, lỡ có thai thì đi phá, cần gì phải suy nghĩ về truyền thống cổ lỗ sĩ “chữ trinh đáng giá nghìn vàng” cho mệt thân?
Là bậc phụ huynh, quý vị nghĩ sao và phản ứng như thế nào nếu con cái của quý vị phá bỏ những truyền thống, gia phong và tập tục của cha ông, của dòng họ những thứ mà chúng cho rằng “cổ truyền hủ lậu” để bắt quý vị thay đổi cho hợp thời đại và sống như Tây, như Mỹ cả về lối suy nghĩ lẫn cách hành xử của quý vị?
Gs Trần Ðình Ngọc:“Từ nhiều năm nay, Giáo hội không giải quyết thỏa đáng mà chỉ giải quyết như kiểu "tùy hứng" nghĩa là giáo dân nào có quen biết với vị LM lo vấn đề này thì được giải phép Hôn phối, đi lấy vợ, lấy chồng khác. Còn đa số, chỉ ngồi chờ, không biết đến bao giờ được giải quyết để họ làm lại cuộc đời. Có lẽ tòa đạo nghĩ rằng có thể cho hai người hòa giải nên cho thêm thì giờ nhưng tòa đạo không hiểu rằng có rất nhiều đổ vỡ không cách gì có thể hàn gắn được.”
Lm. Phạm Tĩnh: Theo Giáo Luật hiện hành của Giáo Hội Công Giáo, những chánh án và thẩm phán của các tòa án hôn phối có nhiệm vụ sau đây:
Ðiều 1676: Trước khi thâu nhận vụ án và khi thấy có hy vọng đạt kết quả tốt, thẩm phán phải dùng các phương thế mục vụ để khuyến dụ hai người phối ngẫu, ngõ hầu, nếu có thể, họ hữu hiệu hóa hôn nhân và tái lập sự sống chung giữa vợ chồng.
Ðiều 1677:
1. Khi đã nhận đơn, chánh án hay thẩm phán phúc trình viên phải cáo tri án lệnh triệu ra tòa, chiếu theo quy tắc của điều 1508.
2. Sau khi đã trôi qua hạn kỳ 15 ngày kể từ khi cáo tri, chánh án hay thẩm phán phúc trình viên, trừ khi một đương sự đã yêu cầu mở một hiên tòa để đối tụng, trong hạn 10 ngày phải ấn định bằng án lệnh công thức vấn nạn cần được giả quyết, và phải cáo tri cho các đương sự.
3. Trong công thức vấn nạn, không những đặt vấn đề xem có sự vô hiệu của hôn nhân có chứng minh được hay không, mà còn phải xác định vì lý do gì mà sự hữu hiệu của hôn nhân bị kháng nghị.
4. Sau 10 ngày từ khi cáo tri án lệnh, nếu đương sự không chống đối thì chánh án hay thẩm phán phúc trình viên phải ra lệnh tiến hành cuộc điều tra bằng một án lệnh mới.
(Quý vị có thể tìm hiểu về Giáo Luật của Giáo Hội Công Giáo tại trang website này). http://www.ourladyswarriors.org/canon/
Về chuyện xin giái phép hôn phối, tôi xin trình bày với quý độc giả 2 điều:
Thứ nhất: Không phải bất cứ ai đệ đơn xin toà án hôn phối là Bí Tích hôn phối của đương sự sẽ được tòa án tuyên bố hôn nhân vô hiệu (xem điều 1677, triệt 3)
Thứ nhì: Trong quá trình điều tra, các nhân viên của tòa án hôn phối cần có thời gian để thu thập tài liệu, thẩm vấn nhân chứng, thu tích chứng cớ... Với những vụ án hôn phối của các tín hữu Việt Nam, nhiều trường hợp phải truy về gốc tích tận bên quê nhà, thì thời gian chắc chắn phải dài hơn? Xin lưu ý, nếu một trong hai người bất hợp tác với nhân viên của tòa án trong quá trình điều tra hay chống đối thì vụ án xoá giải hôn phối sẽ không thể tiến hành mau chóng như người ta tưởng.
Ðể giúp độc giả hiểu rõ thêm về vấn đề liên quan đến việc xin xoá giải phép Hôn Phối có “tuỳ hứng” giải quyết hay không, tôi xin trích hai câu trả lời của Lm. Giuse Bùi Ðức Tiến, hiện là Thẩm Phán Tòa Án Hôn Phối ở Victoria & Tasmania tại Australia để bạn đọc nhận định.
Hỏi: Sẽ có bao nhiêu Thẩm Phán phán xử một trường hợp hôn phối?
Ðáp: Thông thường trong một trường hợp phán xử hôn phối sẽ có ba Thẩm Phán. Các Thẩm Phán còn là người sẽ gặp các nhân chứng trong danh sách [được người đứng đơn hoặc bị cáo] cung cấp nữa. Tuy nhiên, thường các Thẩm Phán ủy quyền cho một người nào đó gặp các nhân chứng thay cho họ. Các Thẩm Phán chính là những người quyết định một giao ước hôn phối có được tháo gỡ hay không.”
Hỏi: Liệu có thể có những trường hợp thiên vị không?
Ðáp: Không thể có được! Vì trong mỗi một trường hợp phán xử hôn phối có rất nhiều nhân sự liên can, có thể kể: các Thẩm Phán, các Dự Thẩm, các Lục Sự (notary) và người Bảo Hệ (defender of the bond). Hơn nữa, Tòa Án Hôn Phối còn có những qui tắc giúp cho các nhân viên của mình tránh bị nghi ngờ thiên vị, trong những trường hợp sau đây, các nhân viên dù có trách nhiệm vẫn có quyền khước từ thi hành nhiệm vụ:
- Khi phải phán xử những trường hợp có liên hệ đến thân nhân có họ hàng huyết tộc hay hôn thuộc, tính đến cấp thứ bốn bàng hệ.
- Khi phải phán xử những trường hợp có liên hệ đến người mình được đặt làm Giám hộ hay Quản tài.
- Khi phải phán xử những trường hợp có liên hệ đến người có tình nghĩa riêng, hoặc thù địch riêng.
- Khi vụ kiện đưa đến lợi lộc hay thiệt hại cho chính mình.
(Trích trong mục giải đáp thắc mắc về hôn nhân của Lm. Jos. Bùi Ðức Tiến. Quý độc giả có thể tham khảo thêm tại http://www.vietcatholic.net/Honnhan/
Như vậy, khi nói GIÁO HỘI “không giải quyết thỏa đáng mà chỉ giải quyết như kiểu ‘tùy hứng’ nghĩa là giáo dân nào có quen biết với vị LM lo vấn đề này thì được giải phép Hôn phối, đi lấy vợ, lấy chồng khác” là thiếu căn cứ.
Giả như có xảy ra tình trạng “giải quyết tùy hứng” mà Gs. Trần Ðình Ngọc là người đã mục kích và biết tỏ tường thì đó chỉ là hành vi sai trái của một cá nhân, của linh mục đó mà thôi chứ không phải của Giáo Hội Công Giáo. Tôi chắc chắn rằng nếu có vị linh mục nào đó làm việc kiểu “tùy hứng” như vậy, thì ngài sẽ phải trả một giá rất đắt cho hành động ấy trước Giám Mục sở tại và trước mặt Chúa! Hơn nữa, Gs có thể đệ đơn khiếu nại, như Lm Jos. Bùi Ðức Tiến đã nói: “Nguyên đơn hay bị đơn nếu bị thiệt hại vì nghi ngờ có sự thiên vị, có thể kháng án.”
Kết luận:
Trong Tin Mừng thánh Matthew, khi các môn đệ thấy đời sống vợ chồng có nhiều vấn đề nan giải, các ông liền hỏi Chúa Giêsu "Nếu làm chồng mà [lôi thôi và phiền phức như vậy] thì thà đừng lấy vợ còn hơn." Thì Ngài trả lời rằng: “Không phải ai cũng hiểu được câu nói ấy, nhưng chỉ những ai được Thiên Chúa cho hiểu mới hiểu. Quả vậy, có những người không kết hôn vì từ khi lọt lòng mẹ, họ đã không có khả năng; có những người không thể kết hôn vì bị người ta hoạn; lại có những người tự ý không kết hôn vì Nước Trời. Ai hiểu được thì hiểu" (19:10-12). Như vậy, ơn gọi sống trong bậc tu trì, đi tu làm tu sĩ hay trở thành linh mục là một món quà (a gift) mà Thiên Chúa trao tặng chứ không phải người ta muốn là được.
Là một linh mục tôi xác tín được rằng Thiên Chúa đã, đang và vẫn còn tiếp tục ban cho tôi, các linh mục, và nam nữ tu sĩ... có đủ nghị lực và những ơn cần thiết để tôi sống trung tín với đời sống hiến dâng. Thật vậy, Thiên Chúa đã hứa cho những người Ngài kêu mời rằng: “Đừng sợ hãi: có Ta ở với ngươi. Đừng nhát đảm: Ta là Thiên Chúa của ngươi. Ta cho ngươi vững mạnh, Ta lại còn trợ giúp với tay hữu toàn thắng của Ta” (Isa 41:10), và “Thầy đây, đừng sợ!” (Ga. 6:20).
“Không có Thầy, các con không làm được gì cả!” (Jn. 15:5) Chúa Giêsu đã khẳng định như vậy, với các môn đệ, với tất cả các tín hữu và đặc biệt với chúng tôi là những linh mục đã TIN và ÐI THEO NGÀI. Vì thế nếu linh mục biết trông cậy vào sự trợ giúp của Thiên Chúa, sống khiêm nhường và nhận ra sự yếu hèn của mình cộng với sự cầu nguyện liên lỉ thì chắc chắn linh mục ấy sẽ sống trung tín với đời sống linh mục cho đến hơi thở cuối cùng.
Cuối cùng tôi mốn thưa với Gs. Trần Ðình Ngọc và với quý độc giả rằng vấn đề sống độc thân của các linh mục trong Giáo Hội Công Giáo là một chuyện có thể và rất bình thường bởi vì: “Ðối với con người thì không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa thì không có gì là không thể!” (Mt. 19:26). Tôi xác tín rằng khi Chúa kêu gọi chúng tôi vào làm thợ cho vườn nho của Ngài thì chắc chắn Ngài sẽ cung cấp đầy đủ những phương tiện cần thiết để nhờ đó chúng tôi sẽ hoàn tất những công việc mà Ngài trao phó một cách tốt đẹp. Tại sao lại phải nghi ngờ và sợ hãi chứ?
Vancouver,Canada