Bông Hồng 8: Maria, Rao Truyền Tin Mừng
THỨ BA: CÔNG BỐ VƯƠNG QUỐC THIÊN CHÚA
Sau khi ông Gioan bị nộp, Đức Giêsu đến miền Galilê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa. Người nói: “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.” (Mc 1:14-15). Sau khi Chúa Giêsu chịu Phép Rửa, trời mở ra, tiếng Chúa Cha phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người” (Mt 4”17).
Mầu nhiệm Nhập Thể được công bố công khai cho mọi người. Tại tiệc cưới Cana, uy quyền và vinh quang của Người được biểu tỏ. Từ đó trở đi, Chúa Giêsu bắt đầu rao giảng công khai cho dân chúng biết: “Tôi còn phải loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho các thành khác nữa, vì tôi được sai đi cốt để làm việc đó.” (Lc 4:42-43). Sứ mạng của Người là rao giảng sự sám hối và tin vào Tin Mừng, vì Nước Trời đã đến gần (Mt 4:17).
Dựa trên Lời Chúa kêu gọi, chúng ta nhận thấy việc công bố Tin Mừng của Nước Thiên Chúa và sự sám hối là hai điều liên kết chặt chẽ với nhau như hai mặt của một tờ giấy. Chúng ta không thể có Nước Trời nếu không sám hối, trở về với Thiên Chúa. Không có sự sám hối, việc công bố Tin Mừng Nước Trời giống như nói vào tai những người điếc,“nước đổ lá khoai”, vô ích!
1- Sám Hối:
Chữ “sám hối” theo từ ngữ Hy Lạp “metanoia”, có nghĩa là một sự thay đổi của tâm trí. Một sự thay đổi căn bản hướng dẫn toàn bộ tư duy của con người. Đó là chọn Thiên Chúa là trung tâm cho tất cả các sinh hoạt của lương tâm, ý thức và trí tuệ.
“Metanoia” đòi hỏi phải thay đổi từ cách đánh giá vấn đề, cách sống, và cách nhìn về chính mình, tha nhân và Thiên Chúa. Đó là sự sám hối chân thành về những tội lỗi đã xúc phạm đến Thiên Chúa. Sự sám hối này đòi hỏi một sự thay đổi, hoán cải sâu xa trong tâm trí và cuộc sống như Công Đồng Vaticanô II đã nói: “sám hối và đổi mới” (Lumen Gentium8, GLCG #853, 827).
“Metanoia” là cho phép ân sủng của Thiên Chúa thấm nhập vào cuộc sống của chúng ta để nhìn thấy con người thật của mình. Khi Tin Mừng được Chúa Giêsu công bố, các thánh sử đều nhất trí với nhau phải có sự thay đổi nền tảng này (Mc 1:14-15; Mt 4:17; Lc 4:42-43).
Thánh Phaolô đã khuyên các tín hữu Roma: “Thưa anh em, vì Thiên Chúa thương xót chúng ta tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người. Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo.” (Rm 12: 1-2).
“Metanoia” theo nghĩa đen của từ ngữ là “vượt ra khỏi tâm trí” – “beyond the mind”. Nó mang một ý hướng vươn tới, vượt ra khỏi những giới hạn mà chúng ta thường cảm xúc và suy nghĩ. Vượt ra khỏi những giới hạn mà chúng ta đang hành động tức là chúng ta để cho Thiên Chúa thực sự nắm giữ vai trò chủ động trong việc thanh luyện chúng ta. Đó là phó thác và tin tường vào Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh dù đau khổ đến thế nào như lời Thánh Phaolô đã dạy: “Phàm ai ở trong Đức Kitô đều là thọ tạo mới” (2 Cr 5:17). Có nghĩa là phải xét lại mọi sự trong ánh sáng của Chúa Giêsu Kitô (Pl 3:17). Đây là điểm căn bản của đời sống thiêng liêng.
2- Nước Thiên Chúa:
a- Nước Thiên Chúa là chính Chúa Giêsu: Chúa Giêsu công bố Nước Thiên Chúa đã đến cùng với chính sự hiện diện của bản thân Người (Lc 4:14 -21). Những ai sống liên kết hợp nhất với Chúa Giêsu, trở thành nghĩa tử của Thiên Chúa là sống trong Vương Quốc của Ngài (Mt 17:21; Gl 4:4-5). Và những ai ở trong Nước của Ngài thì phải giữ luật lệ với những ân phúc được hứa ban qua Phúc Tám Mối (Mt 5:1-12). Trong mầu nhiệp Nhập Thể, Đức Maria đã xin vâng theo thánh ý Thiên Chúa để dâng hiến cho Chúa Giêsu Thánh Thể rao truyền Nước Thiên Chúa trên trần gian. Có ai đã kết hợp mật thiết và gắn bó với Chúa Giêsu bằng Đức Maria. Công đồng Vaticanô II đã nói: “vì là Nữ Tỳ của Thiên Chúa, Mẹ đã hiến mình trọn vẹn cho Con Mẹ và công trình của Ngài.” (Lumen Gentium, 56).
Mẹ đã cống hiến cho Thiên Chúa môi miệng để công bố Tin Mừng “Nước Thiên Chúa đã đến gần”. Môi miệng ấy đã kêu gọi sám hối, giảng dạy luật lệ của Nước Thiên Chúa, dạy dỗ những bài học về hòa bình, công lý và yêu thương, nâng đỡ những kẻ yếu đuối và cùng khốn, mạc khải về chính Thiên Chúa, và phán ra những lời khuôn vàng thước ngọc cho muôn đời lắng nghe … nhưng cũng nghiêm khắc sửa trị những sai trái, bất công và giả dối. Giống như Đức Maria, chúng ta cũng dâng lên Thiên Chúa và Mẹ Maria Kinh Mân Côi và lời cầu xin cho “Nước Cha trị đến” như Chúa Giêsu đã dạy chúng ta.
b- Nước Thiên Chúa qua sự hoạt động của Chúa Thánh Thần: Khi Chúa Giêsu chịu Phép Rửa, Chúa Thánh Thần đã ngự xuống trên Người (Mt 3:17), dẫn đưa Người vào sa mạc chiến đấu với thử thách (Mt 4:1), và quyền năng Chúa Thánh Thần thúc đẩy Người rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa (Lc 4:18; Is 61:1). Trong toàn bộ sách Công Vụ Tông Đồ, Chúa Thánh Thần đã soi sáng và hướng dẫn các tông đồ thi hành những công cuộc rao giảng Tin Mừng với những ơn đặc sủng phi thường như nói tiếng lạ, nói tiên tri, chữa bệnh…
Chính trong ơn của Chúa Thánh Thần, Giáo Hội đã được khai sinh và phát triển (Cv 1:14) cùng với sự hiện diện và lời cầu nguyện của Đức Maria như công đồng Vaticanô II đã nói: “Mẹ đã tha thiết cầu xin Thiên Chúa ban Thánh Thần, là Đấng đã phủ bóng trên Mẹ trong ngày Truyền Tin.” (Lumen Gentium, 59). Để việc truyền giáo có hiệu quả, chúng ta phải siêng năng và bền bỉ cầu nguyện với Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa và nài xin Chúa Thánh Thần ngự đến.
c- Nước Thiên Chúa qua Giáo Hội:
Công việc rao giảng Tin Mừng là sứ mệnh được trao ban cho Giáo Hội (Mt 28:16-20). Trong sự hiệp nhất với Giáo Hội qua việc tuân phục quyền bính để rao giảng Tin Mừng là điều hết sức quan trọng. Theo sử liệu, vào đầu thế kỷ 17, con số giáo dân Nhật Bản đã có lúc lên tới 250,000 người. Nhưng sau đó chính quyền đã thực hiện một chính sách cấm đạo vô cùng gắt gao và hiểm độc kéo dài khoảng 200 năm. Đến giữa thế kỷ 19, cha Petitjean đến giảng đạo tại Nagasaki. Để biết rằng cha Petitjean có phải là linh mục Công Giáo hay không, một giáo dân đã hỏi cha ba câu hỏi: “Các ông có tin Đức Mẹ Đồng Trinh không? Các ông có vâng lời và thông hiệp với Đức Thánh Cha không? Là linh mục, các ông có giữ mình đồng trinh vàsống độc thân không?”
Sau khi nghe trả lời xong ba câu hỏi, giáo dân mới sung sướng đón nhận cha Petitjean là đồng đạo và cho biết rằng trước khi chết ông bà cha mẹ đã dạy rằng phải cảnh giác và phải lấy ba tiêu chuẩn này để đánh giá ai là những nhà thừa sai chân chính. (Những Người Lữ Hành Trên Đường Hy Vọng, Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, tr. 113).
Qua Kinh Mân Côi, với sự giúp sức và hỗ trợ của Đức Maria, chúng ta cầu nguyện cho công cuộc rao giảng Tin Mừng về Nước Thiên Chúa và ơn trở về với lòng thương xót và tha thứ của Thiên Chúa.
Cùng với Đức Maria, chúng ta sẽ hiểu và sống hoàn hảo hơn thực tại sâu xa này bằng sự liên kết mật thiết với Chúa Giêsu Kitô, sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, và sự hiệp nhất với toàn thể Giáo Hội, theo như lời khuyên của ĐGH Phaolô VI trong Tông Huấn về Lòng Tôn Sùng Đức Maria: “Mối liên hệ nhiệm mầu giữa Thần Linh Thiên Chúa với Đức Trinh Nữ thành Nadarét, và hoạt động của Ngài trong Giáo Hội.” (Marialis Cultus, 27).
THỨ BA: CÔNG BỐ VƯƠNG QUỐC THIÊN CHÚA
Sau khi ông Gioan bị nộp, Đức Giêsu đến miền Galilê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa. Người nói: “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.” (Mc 1:14-15). Sau khi Chúa Giêsu chịu Phép Rửa, trời mở ra, tiếng Chúa Cha phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người” (Mt 4”17).
Mầu nhiệm Nhập Thể được công bố công khai cho mọi người. Tại tiệc cưới Cana, uy quyền và vinh quang của Người được biểu tỏ. Từ đó trở đi, Chúa Giêsu bắt đầu rao giảng công khai cho dân chúng biết: “Tôi còn phải loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho các thành khác nữa, vì tôi được sai đi cốt để làm việc đó.” (Lc 4:42-43). Sứ mạng của Người là rao giảng sự sám hối và tin vào Tin Mừng, vì Nước Trời đã đến gần (Mt 4:17).
Dựa trên Lời Chúa kêu gọi, chúng ta nhận thấy việc công bố Tin Mừng của Nước Thiên Chúa và sự sám hối là hai điều liên kết chặt chẽ với nhau như hai mặt của một tờ giấy. Chúng ta không thể có Nước Trời nếu không sám hối, trở về với Thiên Chúa. Không có sự sám hối, việc công bố Tin Mừng Nước Trời giống như nói vào tai những người điếc,“nước đổ lá khoai”, vô ích!
1- Sám Hối:
Chữ “sám hối” theo từ ngữ Hy Lạp “metanoia”, có nghĩa là một sự thay đổi của tâm trí. Một sự thay đổi căn bản hướng dẫn toàn bộ tư duy của con người. Đó là chọn Thiên Chúa là trung tâm cho tất cả các sinh hoạt của lương tâm, ý thức và trí tuệ.
“Metanoia” đòi hỏi phải thay đổi từ cách đánh giá vấn đề, cách sống, và cách nhìn về chính mình, tha nhân và Thiên Chúa. Đó là sự sám hối chân thành về những tội lỗi đã xúc phạm đến Thiên Chúa. Sự sám hối này đòi hỏi một sự thay đổi, hoán cải sâu xa trong tâm trí và cuộc sống như Công Đồng Vaticanô II đã nói: “sám hối và đổi mới” (Lumen Gentium8, GLCG #853, 827).
“Metanoia” là cho phép ân sủng của Thiên Chúa thấm nhập vào cuộc sống của chúng ta để nhìn thấy con người thật của mình. Khi Tin Mừng được Chúa Giêsu công bố, các thánh sử đều nhất trí với nhau phải có sự thay đổi nền tảng này (Mc 1:14-15; Mt 4:17; Lc 4:42-43).
Thánh Phaolô đã khuyên các tín hữu Roma: “Thưa anh em, vì Thiên Chúa thương xót chúng ta tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người. Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo.” (Rm 12: 1-2).
“Metanoia” theo nghĩa đen của từ ngữ là “vượt ra khỏi tâm trí” – “beyond the mind”. Nó mang một ý hướng vươn tới, vượt ra khỏi những giới hạn mà chúng ta thường cảm xúc và suy nghĩ. Vượt ra khỏi những giới hạn mà chúng ta đang hành động tức là chúng ta để cho Thiên Chúa thực sự nắm giữ vai trò chủ động trong việc thanh luyện chúng ta. Đó là phó thác và tin tường vào Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh dù đau khổ đến thế nào như lời Thánh Phaolô đã dạy: “Phàm ai ở trong Đức Kitô đều là thọ tạo mới” (2 Cr 5:17). Có nghĩa là phải xét lại mọi sự trong ánh sáng của Chúa Giêsu Kitô (Pl 3:17). Đây là điểm căn bản của đời sống thiêng liêng.
2- Nước Thiên Chúa:
a- Nước Thiên Chúa là chính Chúa Giêsu: Chúa Giêsu công bố Nước Thiên Chúa đã đến cùng với chính sự hiện diện của bản thân Người (Lc 4:14 -21). Những ai sống liên kết hợp nhất với Chúa Giêsu, trở thành nghĩa tử của Thiên Chúa là sống trong Vương Quốc của Ngài (Mt 17:21; Gl 4:4-5). Và những ai ở trong Nước của Ngài thì phải giữ luật lệ với những ân phúc được hứa ban qua Phúc Tám Mối (Mt 5:1-12). Trong mầu nhiệp Nhập Thể, Đức Maria đã xin vâng theo thánh ý Thiên Chúa để dâng hiến cho Chúa Giêsu Thánh Thể rao truyền Nước Thiên Chúa trên trần gian. Có ai đã kết hợp mật thiết và gắn bó với Chúa Giêsu bằng Đức Maria. Công đồng Vaticanô II đã nói: “vì là Nữ Tỳ của Thiên Chúa, Mẹ đã hiến mình trọn vẹn cho Con Mẹ và công trình của Ngài.” (Lumen Gentium, 56).
Mẹ đã cống hiến cho Thiên Chúa môi miệng để công bố Tin Mừng “Nước Thiên Chúa đã đến gần”. Môi miệng ấy đã kêu gọi sám hối, giảng dạy luật lệ của Nước Thiên Chúa, dạy dỗ những bài học về hòa bình, công lý và yêu thương, nâng đỡ những kẻ yếu đuối và cùng khốn, mạc khải về chính Thiên Chúa, và phán ra những lời khuôn vàng thước ngọc cho muôn đời lắng nghe … nhưng cũng nghiêm khắc sửa trị những sai trái, bất công và giả dối. Giống như Đức Maria, chúng ta cũng dâng lên Thiên Chúa và Mẹ Maria Kinh Mân Côi và lời cầu xin cho “Nước Cha trị đến” như Chúa Giêsu đã dạy chúng ta.
b- Nước Thiên Chúa qua sự hoạt động của Chúa Thánh Thần: Khi Chúa Giêsu chịu Phép Rửa, Chúa Thánh Thần đã ngự xuống trên Người (Mt 3:17), dẫn đưa Người vào sa mạc chiến đấu với thử thách (Mt 4:1), và quyền năng Chúa Thánh Thần thúc đẩy Người rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa (Lc 4:18; Is 61:1). Trong toàn bộ sách Công Vụ Tông Đồ, Chúa Thánh Thần đã soi sáng và hướng dẫn các tông đồ thi hành những công cuộc rao giảng Tin Mừng với những ơn đặc sủng phi thường như nói tiếng lạ, nói tiên tri, chữa bệnh…
Chính trong ơn của Chúa Thánh Thần, Giáo Hội đã được khai sinh và phát triển (Cv 1:14) cùng với sự hiện diện và lời cầu nguyện của Đức Maria như công đồng Vaticanô II đã nói: “Mẹ đã tha thiết cầu xin Thiên Chúa ban Thánh Thần, là Đấng đã phủ bóng trên Mẹ trong ngày Truyền Tin.” (Lumen Gentium, 59). Để việc truyền giáo có hiệu quả, chúng ta phải siêng năng và bền bỉ cầu nguyện với Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa và nài xin Chúa Thánh Thần ngự đến.
c- Nước Thiên Chúa qua Giáo Hội:
Công việc rao giảng Tin Mừng là sứ mệnh được trao ban cho Giáo Hội (Mt 28:16-20). Trong sự hiệp nhất với Giáo Hội qua việc tuân phục quyền bính để rao giảng Tin Mừng là điều hết sức quan trọng. Theo sử liệu, vào đầu thế kỷ 17, con số giáo dân Nhật Bản đã có lúc lên tới 250,000 người. Nhưng sau đó chính quyền đã thực hiện một chính sách cấm đạo vô cùng gắt gao và hiểm độc kéo dài khoảng 200 năm. Đến giữa thế kỷ 19, cha Petitjean đến giảng đạo tại Nagasaki. Để biết rằng cha Petitjean có phải là linh mục Công Giáo hay không, một giáo dân đã hỏi cha ba câu hỏi: “Các ông có tin Đức Mẹ Đồng Trinh không? Các ông có vâng lời và thông hiệp với Đức Thánh Cha không? Là linh mục, các ông có giữ mình đồng trinh vàsống độc thân không?”
Sau khi nghe trả lời xong ba câu hỏi, giáo dân mới sung sướng đón nhận cha Petitjean là đồng đạo và cho biết rằng trước khi chết ông bà cha mẹ đã dạy rằng phải cảnh giác và phải lấy ba tiêu chuẩn này để đánh giá ai là những nhà thừa sai chân chính. (Những Người Lữ Hành Trên Đường Hy Vọng, Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, tr. 113).
Qua Kinh Mân Côi, với sự giúp sức và hỗ trợ của Đức Maria, chúng ta cầu nguyện cho công cuộc rao giảng Tin Mừng về Nước Thiên Chúa và ơn trở về với lòng thương xót và tha thứ của Thiên Chúa.
Cùng với Đức Maria, chúng ta sẽ hiểu và sống hoàn hảo hơn thực tại sâu xa này bằng sự liên kết mật thiết với Chúa Giêsu Kitô, sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, và sự hiệp nhất với toàn thể Giáo Hội, theo như lời khuyên của ĐGH Phaolô VI trong Tông Huấn về Lòng Tôn Sùng Đức Maria: “Mối liên hệ nhiệm mầu giữa Thần Linh Thiên Chúa với Đức Trinh Nữ thành Nadarét, và hoạt động của Ngài trong Giáo Hội.” (Marialis Cultus, 27).