Vác Thập Gía Theo Thầy Chí Thánh (tiếp theo)

b) Yêu tha nhân như chính mình.

“Nếu chúng ta yêu mà không khơi dậy đựơc tình yêu, thì tình yêu của chúng ta sẽ vô hiệu … Thiên Chúa không hiện diện ở những nơi tình yêu đã vô hiệu, ở những nơi mà người ta không làm cách nào để được yêu” (Juan Arias, Christ, Toujours Nouveau, Lưu Tấn chuyển sang việt ngữ: “Đức Kitô luôn mới lạ”, Tp Hồ Chí Minh 1994, tr.31)

Do đó tình yêu dành cho Thiên Chúa còn phải đựơc thể hiện nơi tha nhân như Thánh Gioan cũng đã qủa quyết: “ai yêu mến Thiên Chúa, thì cũng yêu thương anh em mình” (1 Ga 4, 21b), và ngài còn đi xa hơn: “Nếu ai nói: tôi yêu mến Thiên Chúa, mà lại ghét anh em minh, ngừơi ấy là kẻ nói dối” (1Ga 4, 20). Chính Đức Kitô đã khẳng định hai chiều kích yêu thương của một giới luật duy nhất bất khả phân ly: tình yêu tha nhân không thể tách rời tình yêu Thiên Chúa (Mc 12, 28 -33). Thánh Gioan đã diễn giải: “ai không yêu thương người anh em …. thì không thể yêu mến Thiên Chúa” (1 Ga 4, 20). Như vậy, yêu Thiên Chúa, yêu tha nhân cũng chì là một tình yêu mà thôi. Và cũng chình trên Thập giá “Đức Giêsu Kitô đã kết hợp với từng người một, mãi mãi, qua mầu nhiệm này. Người nào cũng vậy, đến với cuộc đời khi được thành thai trong lòng mẹ mình và được mẹ mình sinh ra, và chính do bởi mầu nhiệm Cứu Độ mà được giao phó cho Giáo Hội chăm lo. Mối quan tâm này bao quát toàn diện con người và quy về con người một cách đặc biệt. Đối tượng của sự chú ý sâu xa này là : con người trong thực tại làm người có một không hai, không thể tái bản và còn giữ nguyên vẹn hình ảnh của chính Thiên Chúa…. Con người, như đã được Chúa ‘muốn’, đã được Ngài ‘chọn’ từ đời đời, được gọi, được tiền định để hưởng ân sủng và vinh quang. ‘Người nào’ cũng là thế đó, là con người ‘cụ thể nhất’, ‘có thực nhất’; là thế đó, con người trong tất cả sự đầy đủ của mầu nhiệm mà mình được tham dự trong Đức Giêsu Kitô cũng như từng con người một trong bốn tỷ con người đang sống trên hành tinh chúng ta cũng được tham dự, ngay từ giây phút thành thai gần bên trái tim mẹ mình”(Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptor homins, số 13).

Tình yêu tha nhân không chỉ mang đặc tính nhân ái thường tình trong cách đối nhân xử thế, nhưng đó còn mang tính cách tôn giáo, vì tình yêu nầy phát xuất từ khuôn mẫu tình yêu Thiên Chúa và phát xuất từ chính Thiên Chúa. Tình yêu nầy đến từ Thiên Chúa và trở về cùng Thiên Chúa: khi yêu mến tha nhân, chính là yêu mến Thiên Chúa (Mt 25, 40). Và do đó việc thể hiện tình yêu đối với tha nhân không chỉ dừng lại ở cảm tính thương xót nhất thời, nhưng nó phải phát xuất tử một thái sống đức tin: nhìn thấy hình ảnh Thiên Chúa nơi tha nhân. Chính Chúa Giêsu đã dạy cho chúng ta về thái độ tôn giáo của hành vi yêu thương nầy: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25, 40). Vì vậy tình yêu đối với tha nhân thụôc về căn tính của người Kitô hữu, gắn kết vời tình yêu dành cho Thiên Chúa. Tình yêu dành cho tha nhân được khởi đầu không phải bởi nhịp đập của con tim bị chi phối bởi cảm tính nhân loại, nhưng là khởi đầu bằng chính tình cảm được hòa nhập trong Thiên Chúa. “Trong Thiên Chúa và cùng với Thiên Chúa, tôi yêu ngừơi thân cận, cả khi tôi không thích hoặc không biết người đó. Điều nầy chỉ trở nên khả thể từ cuộc gặp gỡ thâm sâu với Thiên Chúa, một sự gặp gỡ trở thành hiệp thông ý muốn và thâm nhập vào trong tình cảm. Bây giờ tôi học cách nhìn người khác không phải chỉ bằng con mắt và tình cảm của tiêng tôi, nhưng từ nhãn giới của Đức Kitô” (Deus caritas est, số 18). Do đó người Kitô hữu chỉ có thể chu tất đời sống của mình khi thực hiện trọn vẹn cả hai chiều kích yêu thương nầy trong một tình yêu duy nhất. Và theo Đức Bênêđictô XVI. giới răn nầy không được coi như là một thứ luật lệ “nằm bên ngòai” mang tính áp đặt buộc chúng ta, nhưng “là một cảm nghệim tình yêu được ban tặng từ bên trong, một tình yêu mà tự bản chất phải được tiếp tục chia sẻ” (Deus caritas est, số 18).

Tuy là một tình yêu nhưng tình yêu dành cho tha nhân ở một cấp độ khác tình yêu dành cho Thiên Chúa. Tình yêu dành cho Thiên Chúa ở cấp độ cao nhất: hết lòng, hết sức, hết trí khôn; còn tình yêu dành co tha nhân ở trong cấp độ: “như chính mình”. Vì vậy tình yêu dành cho tha nhân mặc dầu mang tính cách tôn giáo, nhưng không biểu lộ trong những hình thức tôn giáo mang tính thần thiêng, mà được thực thi cách cụ thể trong đời sống tương giao xã hội mang tính nhân bản. Yêu tha nhân như chính mình có nghĩa tha nhân là chính mình. Hay nói cách khác chúng ta khám phá ra chính mình nơi tha nhân. Nói như Juan Arias: “tôi cần một người không phải là tôi để khám phá ra tôi, để tôi biết rằng tôi là người, để hiểu rằng tôi là cái gì đáng gía hơn cả tạo thành. Chỉ thông qua người khác tôi mới biết được mình là ai. Ađam, đã cần tới đôi mắt của Eva mới thấy được khuôn mặt của mình. Vậy tha nhân mới cho tôi thấy khuôn mặt của tôi chứ không phài là tôi.” (Juan Arias, Christ, Toujours Nouveau, Lưu Tấn chuyển sang việt ngữ: “Đức Kitô luôn mới lạ”, Tp Hồ Chí Minh 1994, tr.13-1).

Bởi đó tình yêu tha nhân chính là thể hiện tình yêu chính mình cách đúng nghĩa, vì nơi tha nhân tôi nhìn thấy trọn vẹn nhân phẩm của tôi, trọn vẹn hình ành Thiên Chúa mà tôi được tạo dựng nên giống như vậy, và ngược lại tôi cũng giúp cho tha nhân khám phá ra chính họ trong con ngừơi của tôi. Như vậy khi tôi thể hiện tình yêu với tha nhân không những vì tôi tìm thấy tôi nơi chính họ, nhưng tôi còn giúp họ khám phá ra chính con ngừơi của họ nơi tôi. Cha Karl Rahner diễn tả tình yêu là hành vi gởi trao chính mình với sự tín thác trọn vẹn vào người khác cách hòan tòan, tình yêu luôn tín thác, gắn kết chính mình và hòa nhập tòan thể chính mình vào ngừơi khác. Và chỉ có tình yêu như thế con ngừơi mới có thể tìm thấy bản tính và sự thật về chính mình. Chỉ có tình yêu như thế con ngừơi mớỉ có thể tìm thấy chính mình nơi người khác (X. Karl Rahner, Praxis des Glaubens, Herder Greiburg/Breisgau 1982, tr. 206). Và đó chính là đức ái Kitô giáo.

Yêu như thế không là chuyện đơn giản, nhưng cũng không thể không thực thi được. Bởi hành vi yêu tha nhân chính là hành vi tin vào Đức Kitô. Chính nơi Chúa Giêsu, chúng ta học được cách yêu tha nhân. Biến cố Nhập thể cũng là biến cố của tiến trình yêu thương: Người đã kết nối và hòa nhập với con ngừời, đối tượng của tình yêu. Người đã trở nên giống phàm nhân và ở giữa con người (x. Ga 1, 14). Ngừơi sống với con ngừơi, chia sẽ những vui buồn của con người, đi rao giảng Tin mừng cứu độ để mặc khải cho con ngừơi biết tình yêu vô biên của Thiên Chúa. Ngừơi tự đồng hóa mình với những nỗi bất hạnh của con ngừơi: đói khát, trần truồng, ốm đau, bệnh tật, liệt lào, tù đày (x.25, 31 – 46). Do đó, những môn đệ của Đức Kitô đều có thể và phải yêu như Thầy. Chỉ có yêu như Thầy, ngừơi môn đệ đang biểu lộ căn tính của mình: “Người ta sẽ nhận biết anh em là môn đệ Thầy ở điểm nầy: anh em yêu thương nhau” (Ga 13, 35). Và yêu như Thầy, người môn đệ Chúa Giêsu đang thực sự làm cho Thầy mình luôn hiện diện trong thế giới. Thật vậy mỗi ngày, ngừơi môn đệ Chúa Giêsu luôn làm cho hiến lễ tình yêu hiện thực trong cuộc sống bằng tính yêu như Thầy: “nầy là Mình Thầy, bị nộp vì các con…. Nầy là Máu Thầy, đổ ra vì các con”.

Tình yêu không là hy sinh nhưng trứơc nhất phải là sáng tạo. Thật vậy, tình yêu luôn có những sáng kiến diệu kỳ. Vì yêu Thiên Chúa tạo dựng con người, vì yêu, Thiên Chúa cho Ngừơi Con duy nhất xuống thế cứu chuộc, vì yêu, Chúa Giêsu lập Bí tích Thánh Thể để ở lại với con ngừơi. Tình yêu là thế đấy, luôn làm nẩy sinh những điều mới lạ để biểu lộ tình yêu, và những sáng kiến của tình yêu luôn biểu lộ tính sáng tạo để mang lại sự sống và niềm vui. Chính trong sự sáng tạo của tình yêu có sự hy sinh. Thường thi ngừơi ta hay nhắc đến hai chữ hy sinh khi nói đến tình yêu, nhưng như vậy chưa đủ, bởi có những hy sinh nhưng thiếu vắng yêu thương. Có những ngừơi hy sinh thời giờ, tiền bạc, sức lực cho người khác, nhưng tim họ lạnh căm, không có chút hơi ấm của nhịp đập yêu thương. Hy sinh chỉ thực sự mang trọn ý nghĩa khi nó được thực hiện bởi sáng kiến phát xuất từ tình yêu. Sáng kiến tình yêu thúc đẩy chúng ta hành động ngòai những tính tóan logic của nhân lọai. Trong lịch sử Giáo hội luôn sáng ngời những hành vi yêu thương Kitô giáo của các tín hữu mà theo lẽ bình thừơng không ai giải thích được. Giáo hội tồn tại chính nhờ đời sống đức ái nầy, vì nó thuộc căn tính của Giáo hội, “việc phục vụ bác ái đối với Giáo hội không phải là một cách thức họat động trợ giúp có thể ủy thác cho ngừơi khác, nhưng nó thuộc về bản chất của Giáo hội, là một biểu lộ bản chất không thể thiếu được” (Deus caritas east, số 25). Không yêu thương tha nhân chính là lọai trừ Đức Kitô và tự tách rời khỏi Giáo hội, vì Giáo hội chính là một cộng đòan yêu thương. Một Giáo hội hứa sẽ làm chúng ta trở thành như là qùa tặng của Thiên Chúa, bao lâu chúng ta luôn sẵn sàng thực thi đức ái Kitô giáo. Và như thế chúng ta giúp nhân lọai nhận ra dấu chỉ Nước Thiên Chúa ở giữa những người nghèo trong thế giới của chúng ta và biến Giáo hội thành dấu chỉ đó. Hãy để trong Giáo hội trổ ra một niềm hy vọng mới.

Người môn đệ Đức Kitô luôn đựơc thúc đẩy yêu thương, cũng có nghĩa là luôn đựơc thúc đẩy nẩy sinh những sáng kiến để thực thi yêu thương trong các lãnh vực của cuộc sống nhân trần nầy, những sáng kiến nhiều khi dám liều, dám hóa điên hóa dại với mục đích làm cho con ngừơi khám phá ra niềm vui của Tin Mừng, nhận ra Đức Kitô, để kiến tạo một cộng đòan sống trong tình huynh đệ đích thực, không kỳ thị phân chia, không ngăn cách bời những vị thế trong xã hội, bời tình trạng sang hèn, giàu nghèo...

Tình yêu dành cho Chúa và cho tha nhân đã đính kết thành cây Thập gía. Đó là cây Thập giá yêu thương mà Đức Kitô đã mời gọi hãy mang vác lấy nó nếu muốn theo Chúa. Đó cũng chính là cây Thập gía mà Chúa đã vác lên đỉnh đồi Calvê và chịu treo trên đó. Chất liệu bằng gỗ mà Chúa mang vác chỉ là biểu trưng cho một tình yêu lớn lao: tình yêu dành cho Thiên Chúa là Cha và tình yêu dành cho con người. Thập giá là bảng tóm kết giáo lý của Chúa: hãy yêu thương. Thập gía nầy là chìa khóa duy nhất để bứơc vào Vương quốc của Thiên Chúa, Vương quốc an bình và yêu thương. Vì vậy mang vác Thập gía không gì hơn chính là thực thi yêu thương. Bởi đó, ngừơi môn đệ của Chúa Kitô không thể bứơc theo Thầy mà không có Thập gía trên vai, hay nói cách khác không thể không yêu thương. Thập gía người môn đệ mang vác trên vai cũng là phương thế để kiến tạo một cộng đoàn hiệp thông trong tình huynh đệ anh chị em cùng với những người khác “được Chúa thương” năm tay nhau nhịp bước tiến về Nước Chúa hứa. Thập giá yêu thương là con đường hiệp thông của sự hy vọng, chính trong con đường nầy người môn đệ của Đức Kitô làm cho nhân loại tìm thấy niềm vui nơi Giáo hội mãnh liệt hơn cái đau khổ họ đang chịu. (Hồng Y K. Lehman, „Geistes-Gegenwart und Weggemeinschaft“, Gepraech in: HK 43 (1989), 67 – 74) Những khổ đau mất mát bởi sự thù hận, ghanh ghét sẽ được hoá giải bởi Thập gía yêu thương mà ngừơi môn đệ Chúa Kitô đang mang vác. Vì thế tình yêu như là phương thế tối cần thiết của con đường tiến vào Nước trời.

Lm Hà văn Minh