Viết Về Mẹ.

Trần Bảo Kỳ

viết theo lời kể

Người mẹ nào cũng thương con, nhưng người mẹ Việt Nam thương con cách riêng của mình. Người Việt chúng ta có những bài hát về mẹ rất hay và rất cảm động. Mỗi khi nhớ đến mẹ tôi, tôi thường lẩm nhẩm, hoặc huýt sáo bài Lòng Mẹ “Lòng mẹ bao la như biển Thái bình dạt dào. Tình mẹ tha thiết như giòng suối hiền ngọt ngào. Lời ru man mác như làn gió chiều rì rào.....”

Nếu các bạn có dịp về miền quê, nhất là miền quê Việt Nam, các bạn có thể bắt gặp hình ảnh một con gà mái ủ đàn con của nó trong hai cái cánh yếu đuối của mình để bảo vệ chúng, trong khi một con diều hâu đang bay lượn trên không chỉ rình sà xuống để dùng chân cắp một con gà nhỏ rồi vút lên và bay đi. Loài vật cũng biết thương yêu con và bảo vệ con như vậy đó.

Mới đây, tôi tình cờ mua một cuốn sách với những bài tường thuật và hình ảnh về trận động đất tại Tsunami, trong đó có kể câu chuyện hai người đàn bà và hai dứa bé đang bị sóng biển trôi đi. Người đàn bà lớn tuổi hơn đang cố gắng dìu hai đứa con nhỏ, người kia còn trẻ. Người mẹ của hai đứa con mệt lắm rồi. Bà bèn nhờ người kia cố gắng cứu hai đứa con bà, rồi bà đành buông theo giòng nước. Người đàn bà trẻ dìu hai đứa bé và, như một phép lạ, một con trăn lớn bơi tới. Người đàn bà trẻ và hai đứa bé bám vào con trăn và nó bơi tới một miền đất cao. Người đàn bà trẻ và hai đứa bé được cứu sống.

Hơn năm mươi năm trước, tôi đọc truyện Anh Phải Sống của Khái Hưng, trong đó cũng có một truyện tương tự, cũng sông nước. Tôi tin rằng nhiều người trong chúng ta đã đọc truyện này, nhưng tôi xin kể cho những ai chưa đọc, nhất là những người trẻ. Tôi không nhớ chi tiết, chỉ xin kể đại khái những gì tôi nhớ được.

Hai vợ chồng nhà kia sống ở thượng nguồn một con sông, gần một cánh rừng. Họ nghèo lắm, có ba con nhỏ, Thằng Bò, Cái Nhớn, Cái Bé. Họ sống bằng nghề làm thuê, làm mướn. Mùa mưa có những cành cây khô từ trong rừng trôi vào sông và họ vớt những cành cây này trên sông đem bán làm củi. Một hôm nọ, hai vợ chồng đã vớt đầy củi trên chiếc xuồng ba lá, đang chèo về thì trời bỗng kéo mây đen kịt, giông gió, sấm sét nổi lên ầm ầm, rồi mưa lớn. Nước sông từ thượng nguồn đổ xuống tạo thành những luồng nước xoáy chảy xiết. Chiếc xuồng nhỏ bé không cưỡng nổi những luồng nước giận dữ. Nó xoay vài vòng giữa giòng sông và lật. Người vợ không biết bơi (hay bơi không giỏi) đành bám vào chồng, trong lúc người chồng đang cố gắng lựa theo giòng nước chảy xiết để bơi vào bờ. Khốn nỗi, thêm với sức cản của chị, chồng chị không thể bơi gần vào bờ mà thay vào đó, giòng nước quái ác lại hút họ ra giữa sông. Người vợ biết rằng cả hai sẽ chết nếu chị tiếp tục bám vào chồng chị. Với chút sức tàn, chị cố gắng nói lớn cho chồng nghe: “Thằng Bò, Cái Nhớn, Cái Bé! Không! Anh phải sống”. Và chị buông tay, không bám vào chồng nữa.

Và chuyện của tôi. Bố tôi giữ một chức quan khiêm nhường trong triều đình Huế, triều đình cuối cùng của Nhà Nguyễn. Chỉ vì khảng khái và chống đối các quan Pháp trong triều đình mà bố tôi bị họ đầu độc. Bố tôi chết khi tôi mới được chín tháng tuổi, khi mẹ tôi đang mang thai em gái tôi. Anh em tôi lớn lên giữa lúc cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp bùng nổ. Sống trong khu kháng chiến, tản cư nay đây mai đó, nhưng mẹ tôi luôn tìm cách lo cho tôi tới lớp, tới trường, nhiều hơn lo cho em gái tôi. Mẹ tôi luôn dặn tôi: ”Ráng học lấy mấy chữ để sau này ấm cái thân”.

Rồi vì hoàn cảnh, tôi phải xa mẹ tôi và em gái tôi để về vùng Quốc gia năm tôi lên 13 tuổi. Lăn lộn giữa chốn Hà thành, phồn hoa đô hội, tôi làm đủ nghề để sống, trừ những việc bất hợp pháp, nhưng trong đầu tôi luôn nhìn thấy nét mặt của mẹ tôi, trong tai tôi luôn văng vẳng lời mẹ tôi “Ráng học lấy mấy chữ để sau này ấm cái thân”. Trong đầu tôi cũng luôn in sâu hai lời cầu nguyện: “Lạy Mẹ Maria! Xin Mẹ phù hộ con” và “Bố ơi! Bố như thế ấy, chẳng lẽ con như thế này”.

Thế rồi sau bao năm vừa làm việc để tự nuôi sống, vừa tự học nhiều hơn là tới trường lớp, tôi đã bước lên bục giảng. Lần đầu tiên tôi bước lên bục giảng lớp Anh văn Đệ lục (năm thứ 2 ban Trung học), nếu có em học sinh nào chú ý sẽ thấy tôi mím chặt môi để khỏi bật ra tiếng khóc, không phải do tôi cảm động vì được làm thầy giáo, mà vì tôi nhớ đến mẹ tôi. Mẹ tôi không còn nữa để nhìn thấy tôi đã ‘ấm cái thân’.

Lòng mẹ bao la như vậy đấy! Tình mẹ tha thiết như vậy đấy! Lời mẹ khuyên thắm thiết như vậy đấy! Là những con cái của mẹ, chúng ta sẽ đền ơn trả nghĩa mẹ như thế nào?

Đó là những người mẹ trần gian. Chúng ta còn có một người Mẹ thiêng liêng và cực cao, cực trọng, Mẹ Maria, Mẹ của Ngôi Hai Thiên Chúa. Mẹ sống cuộc đời ‘xin vâng’, không phải để lo cho Con của Mẹ được ‘ấm cái thân’ khi lớn lên, mà để đi theo Con của Mẹ trong công trình cứu rỗi loài người mà Chúa Cha đã giao cho Con của Mẹ. Ngôi Hai Thiên Chúa có hai tính, ‘một là tính Đức Chúa Trời, hai là tính loài người ta’. Với tính Đức Chúa Trời, Ngôi Hai biết việc sẽ xảy ra, có thể làm phép lạ. Với tính loài người, Ngôi Hai Thiên Chúa cũng biết đói, biết khát, biết đau đớn, như loài người chúng ta. Và Mẹ Maria, được Chúa chọn ở trần gian để lo cho cái ‘tính loài người’ của Ngôi Hai Thiên Chúa. Rồi ở giai đoạn chót của công cuộc cứu rỗi loài người của Ngôi Hai thiên Chúa, Mẹ Maria đã đau đớn như thế nào khi nhìn Con của Mẹ chịu khổ hình?

Người mẹ trần gian lo cho con cái mình, có thể bỏ mạng sống vì con cái mình. Ở đây, chúng ta thấy cái chết coi vậy mà nhẹ nhàng, cái đau đớn chỉ thoắt một cái, rồi không biết gì hết. Thế nhưng Mẹ Maria lại không thể chết vì Con mình; ngược lại, Mẹ lại phải sống để nhìn Con mình chết, một cái chết cực kỳ đau đớn, cái đau đớn của một con người trần gian. Có cái đau đớn nào có thể so sánh được với cái đau đớn của Mẹ Maria khi đứng dưới chân thập giá?

Nhân ngày “Vinh Danh Các Bà Mẹ”, chúng ta cùng xét xem chúng ta đã làm được những gì để đền đáp công ơn của những bà mẹ trần gian của chúng ta? Chúng ta đã làm được những gì để đền đáp công ơn của Mẹ Ngôi Hai Thiên Chúa, cũng như của chính Ngôi Hai Thiên Chúa, Người đã bỏ mạng sống mình cho chúng ta được rỗi?