Đời sống mỗi người đều có những giây phút vui buồn chen lẫn trong cuộc sống, có những căng thẳng khi phải giằng co trước mỗi chọn lựa, mệt mỏi trong những công việc sáo mòn, kéo dài lê thê cuộc sống buồn chán. Có rất nhiều những sự kiện kéo căng cuộc sống, dễ làm mất bình tĩnh, cáu gắt, tỵ hiềm, ghen ghét. Nếu thiếu kinh nghiệm về trút bỏ và phục hồi của cá nhân cuộc sống sẽ thật nặng nề và khó thở. Để bình tĩnh trước mọi việc xảy ra, để luôn giữ những điều chính yếu cách trung thành, và bền tâm thực thi điều ngay chính, người đó đã trải qua những kinh nghiệm kenosis cách sâu xa. Nếu ta đọc những trang Phúc Âm, ta sẽ gặp con người kinh nghiệm về kenosis cách sâu xa ấy. Người mà bạn gặp là một con người dễ mến, vị tha hết sức, yêu thương hết mình,…Người ấy sẽ giúp bạn kinh nghiệm về Kenosis trong đời sống cá nhân.

Kenosis, có trong bốn chiều kích: Tương quan với Chúa Cha (tương quan siêu nhiên) - Tương quan với Sứ vụ - với mọi người và với chính bản thân - giới thiệu một phương pháp.

1.Tương quan với Chúa Cha:

Chiều kích siêu nhiên không thể thiếu trong mội kinh nghiệm Kenosis khi sống cuộc sống con người. Những người tin vào ông Trời trong mọi bức xúc của mình đều có một kinh nghiệm khi kêu lên tiếng: “Trời ơi”. Tiếng gọi ấy không đơn thuần là một tiếng kêu gửi đến nơi không địa chỉ. Người Việt tin rằng trong mọi biến cố của con người đều có trời chứng giám. Trời ma người Việt kêu cầu là Đấng vô danh mà họ chưa biết, giống như quan niệm thờ kính của người Hy Lạp goi danh Vị Thần Linh trên hết mọi Thần Linh là Đấng vô danh, Thánh Phao Lô nói với những người ấy tại Athène, Vị Thần Vô Danh ấy là Thiên Chúa. Cha Alexandre de Rhodes, đã dùng quan niệm Trời này của người Việt mà chỉ cho họ thấy rằng Trời ấy là Thiên Chúa của họ và gọi theo danh xưng của người Việt đó là Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời thấu biết mọi sự, cũng như Trời biết tất cả, Trời coi sóc tất cả, những oan ức của con người đều thấu đến trời cao.

Kinh nghiệm của Chúa Giêsu thì khác, Ngài biết Ngài từ Cha mà đến. Ngài đã sống mầu nhiệm tự hạ như cách giới thiệu của Thánh Phao lô: “Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục;9 và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người”.

Sở dĩ trở thành một mầu nhiệm tự hạ nơi Đức Giêsu là người ta không thể hiểu được một Thiên Chúa lại làm người như họ làm chi? Theo quan niệm ngày xưa thời Đức Giêsu của người Do Thái, thân xác con người là bị thịt giam hãm linh hồn, (triết học Platon), còn linh hồn ở một thượng giới không có đau khổ và chết chóc. Chui vào bị thịt này làm chi để rồi phải học lấy bài học “vâng phục cho đến chết và chết trên Thập Giá”.

Thân phận của con người là thế đấy, khi Con Thiên Chúa làm người cũng sống như kiếp phàm nhân, ngoại trừ Ngài không vướng vào vòng vây tội lỗi. Ngài kinh nghiệm những sự giả trá của con người, bất bình khi thấy những con người xô nhau xuống vực, như đã có lần họ muốn xô Ngài xuống vực. Con người trong những bức xúc của mình thường kêu Trời, chúng ta cũng gặp nơi Đức Giêsu kêu khấn lên cùng Cha trước giờ tử nạn của Ngài: “Cha ơi, xin Cha cho con qua khỏi chén này”. Lời cầu nguyện với Trời cao trong kinh nghiệm này là một “Kenosis”, phó mặc, trút bỏ những gánh nặng đang mang hoặc sắp mang trong tay Cha. Cũng như các than thở của người Việt: “Khấn Trời soi xét”. Kinh nghiệm do một lời cầu xin là một kinh nghiệm về sự trút bỏ. Không có tiếng kêu này, không có nơi đón nhận này, con người không bao giờ chịu nổi gánh mình đang mang.

Không chỉ kêu Trời trong những lúc quẫn bách, nhưng người Việt còn gọi Trời khi gặp điều phước lộc “Trời ơi, hạnh phúc quá, hân hạnh quá, vui quá, diễm phúc quá…”. Trời được cảm nghiệm như người mẹ hiền, chăm sóc cho đàn con được hạnh phúc. Người Việt tạ ơn Trời là cảm thấy niềm vui của những ngày vui chất chứa không biết để đâu cho hết. Trút bỏ cho Trời là một kinh nghiệm về Kenosis trong những ngày được mùa, ấm no và hạnh phúc. Không có trút bỏ này con người cũng không thể là một niềm vui trọn vẹn. Niềm vui càng lớn sức lan toả càng mạnh, lan toả đến trời cao là một ý thức sẵn có của nền văn hoá dân tộc: “Ơn Trời mưa xuống”. Đức Giêsu đã có lần ngước mắt lên Chúa Cha mà hoan hỉ cầu nguyện tạ ơn: “"Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn.26 Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha”. Nhờ Đức Giêsu mà chúng ta biết Cha và cũng tạ ơn như thế. Trong Kinh Cám ơn thường quen đọc: … “Đã không để con đời đời mà lại sinh ra con, cho con được làm người…” Làm người là một diễm phúc ân ban của Chúa Trời, nên trong niềm vui con người, tự nhiên là tạ ơn. Tạ ơn trong kinh nghiệm kenosis là nhận ra chính mình được đón nhận nhiều hơn các thọ tạo khác. Sự không là gì của mình mà Chúa thương đoái đến. Có kinh nghiệm này, con người chúng ta mới thấy rằng cần thiết phải có một sự “đổ rỗng”, “đổ rỗng” nhiều để được “đổ đầy” nhiều. Kinh nghiệm của Tagore một thi hào và là một Triết gia Ấn Độ, người Kitô hữu chúng ta vẫn hát qua việc phổ nhạc của Ân Đức: “Hồng ân Chúa, tràn đầy tháng năm, tay con nhỏ bé đón sao cho vừa. Hồng ân Chúa, vô biên vô tận, tay con nhỏ bé nhưng hãy còn vơi”. Có thể nói kinh nghiệm “đổ rỗng” của Đông Phương thật là sâu xa, nguồn cảm mến sâu xa này, lại bắt nguồn từ chính cuộc sống nhờ trời thường xuyên của những người sống trong nền văn hoá lúa nước.

Cầu Trời trong mọi lúc là tâm thức của người Việt. Người Việt tin rằng “Trời có mắt”, Trời không giống như quan toà soi xét mà còn là quan tâm đến từng manh áo, chén cơm của con người. “lạy Trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày, lấy đầy bát cơm”. Khởi đi từ những gì rất cụ thể, như chén cơm manh áo, nhưng không vì vậy mà tâm hồn người Việt chịu sự nhỏ nhen, tỵ hiềm, mà thường thấy tâm hồn người Việt lại rất bao dung, chuộng hiền hoà hơn gây chiến tranh. Nguyên do, không có lời cầu mong trời nào mà không phát sinh những ân huệ khác hơn những gì mình cầu xin. Sự trút bỏ của từng ngày khi câu khấn trời, có ý nghĩa hơn tất cả những gì họ đang làm. Miền quê Nam, thường thấy nhất là “bàn thờ thiên”. Mỗi sáng thức dậy, người phụ nữ ý thức niềm tin của mình hơn các ông (theo tôi thấy), thắp những nén nhang, ra trước sân, xá bốn phương rồi cắm những thẻ nhang ấy trên “bàn thờ thiên”. Sau khi khấn vái trời mới khấn vái tổ tiên. Khấn trời là một hình thức thường xuyên và phổ biến. Tâm hồn Việt là một tâm hồn nhạy cảm hơn hết, nhạy cảm trước những sự nghèo, đau khổ. Sự nhạy cảm này toát lên một kinh nghiệm kenosis từng ngày trong cuộc sống. Nhờ sống kết hiệp với trời mà ý thức “bĩ cực nào rồi cũng qua”, “sau cơn mưa trời lại sáng”. Có một điều trong tâm thức người Việt cần được tỏ rõ, đó là những trường hợp thái quá khi rơi vào tình trạng “mê tín dị đoan”. Người Việt có tính suy tư tổng hợp cho nên tâm thức đôi tôn giáo khi cũng bị chen lẫn giữa bóng tối và ánh sáng. Cần có một ánh sáng sự thật chiếu soi vào tâm hồn Việt. Cần có một văn hoá ra khỏi mồ ngay trong văn hoá Việt để những kinh nghiệm về Kenosis của từng cá nhân không bị lạc vào đường tăm tối. Vậy chúng giới thiệu kinh nghiệm nào cho tâm hồn Việt mà chúng ta đang sống. Đó là một kinh nghiệm gặp thấy nơi tâm tình của Chúa Giêsu, mọi hoạt động, mọi giáo huấn và đường lối của Ngài là của Chúa Cha, nhờ hành vi trút bỏ trong từng khắc giây mà khao khát của Đức Giêsu là: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người”. Nếu tâm hồn Việt gặp được tâm hồn của Chúa Giêsu trong những khoảnh khắc này thì dễ mến biết mấy, họ sẽ rũ bỏ được biết bao nhiêu lần kinh nghiệm kenosis ở những chốn tà thần, nơi mà người Việt thích đến xem bói, đoán hậu vận…Họ sẽ biết họ cần tín thác vào ai, nơi cậy dựa chắc chắn, nơi không tỳ ố, nơi tàn đầy tình thương mến thương mà người Việt hằng khao khát.

2. Tương quan với sứ vụ:

Xưa kia việc nhờ thần linh chứng giám hay can thiệp vào những sự kiện đời thường là một điều bình thường. Nhưng đưa vào sự kiện của một quốc gia và lập thành một nghi thức trọng thể của vua quan trước dân thì điều ấy thật hiếm hoi. Thời nhà Lý, nghi thức ấy đã khởi đầu và được ghi chép trong sử sách để ngàn năm trông theo.

Hội Thề lần đầu tiên mang tính chất quốc gia được tổ chức tại Đền Thờ núi Đồng Cổ. Người xưa tin rằng tại núi này có vị thần linh đã từng giúp vua Lý Thái Tổ (1010 - 1028) đánh thắng quân Chiêm năm 1020; vị thần đã mộng báo cho Lý Thái Tông loạn tam vương, (tức là việc Vũ Đức Vương, Đông chính Vương và Dực thánh vương giành ngôi vua với thái tử Lý Phật Mã vào tháng 2 - 1027). Hội thề Đồng Cổ được tổ chức khá đều trong triêu Lý. Đến thời Trần, năm Đinh Hợi, Trần Thái Tông ra các khoản minh thệ cho nội dung lời thề. Đại Việt sử ký toàn thư chép lại như sau:

“Hằng năm, vào ngày mùng 4 tháng 4, tể tướng và trăm quan đến chực ở ngoài cửa thành từ lúc gà gáy, đến tờ mờ sáng thì tiến vào triêu. Vua ngự ở cửa Hữu Lang điện Đại Minh, trăm quan mặc nhung phục, lạy hai lạy rồi lui ra. Ai nấy đứng thành đội ngũ, sắp nghi trượng mà theo hầu ra cửa Tây Thành, vào đền thờ núi Đồng Cổ, họp nhau uống máu ăn thề. Quan trung thư kiểm chính tuyên đọc lời thề rằng : “làm tôi tận trung, làm quan trong sạch, ai trái lời thề này xin thần minh giết chết”. Đọc xong, tể tướng sai đóng cửa để điểm danh, người vắng mặt phải phải năm quan tiền. Ngày hôm ấy, trai gái bốn phương đứng chật ních bên đường để xem như một ngày hội lớn”.

Hội thề có một ý nghĩa quan trọng trong đời sống sứ vụ của một người lãnh đạo, ở nơi đó người ta học cách vựơt qua những cám dỗ sử dụng quyền được trao thành lợi thế để trục lợi. Cám dỗ này thường xuyên chi phối người nắm quyền. Không có lời thề nhắc nhở, hoặc có một lý tưởng dấn thân, người ấy sẽ dễ rơi vào tình trạng lạm dụng quyền hành.

Tuy nhiên, để thắng cám dỗ thường ngày cần có một kinh nghiệm khác về kenosis. Đối với người Việt, từ quan tới dân đều có một vị thánh sư nào đó trong nghề nghiệp của mình để rèn nhân cách cũng như để rèn luyện nghề. Gọi chung đó là hình thức tín ngưỡng Bách nghệ tổ sư. “Ăn nắm xôi dẻo, nhớ nẻo đường đi” là tâm thức nhắc nhở nhớ ơn người khai sáng nghề. Có thể thờ tổ sư nghề ngay tại gia, hoặc là thành hoàng của làng.

Trong tín ngưỡng bách nghệ tổ sư dẫn dắt một tinh thần chung: Đó là một chỗ dựa tinh thần cho những người làm nghề, ý thức nghề nghiệp có một nguồn cội - lòng biết ơn với tổ sư nghề - ôn cố tri tân. Biết sức mình là một khía cạnh nhưng thành toàn là nhờ vị tổ sư, cho nên cần có một thần phả hay thần tích để học theo gương, dõi theo tích mà tu thân tu nghiệp.

Ở một tâm hồn tôn giáo dễ mến như dân tộc Việt, khi đón nhận Tin Mừng của Chúa, dường như họ tìm được những đích điểm của cuộc đời. Chúng ta thấy, những người theo đạo buổi ban đầu không ngừng gia tăng một cách nhanh chóng. Các vị thành hoàng hay thánh sư dần dần được mang theo một ý nghĩa mới, hoặc được thay đổi cho phù hợp với đức tin. Thánh bổn mạng cho từng người hay cho một làng hoặc cho một nghề dễ dàng được chấp nhận.

Chúa Giêsu đã cầu nguyện trước và sau mỗi sứ vụ của Ngài, cầu nguyện tự thân là trút bỏ mọi lo lắng hay thành công hoặc thất bại cho Chúa Cha. Ở nơi đó, Chúa Giêsu học cho biết sự vâng phục. Người Kitô hữu Việt khi tiếp nhận cách thức cầu nguyện của Chúa Giêsu, cũng mang tâm tình ấy. Họ tín thác vào Thiên Chúa, hơn khi xưa đặt niềm tin vào vị thành hoàng hay vị tổ sư nghề của mình. Bởi vì, ngoài việc cầu nguyện của người Kitô hữu, họ còn được hướng dẫn cách cụ thể bằng giáo lý của Chúa. Bước đi, trao phó mọi sự trong tay Chúa, họ biết chắc, họ không thất vọng bao giờ. Giáo lý về đạo củng cố niềm tin ấy cho họ. Hiệu quả cuối cùng là họ được dẫn dắt ra khỏi những điều mê tín dị đoan, khỏi những niềm tin vô căn cớ hoặc xây dựng trên huyền hoặc.

3. Tương quan với tha nhân.

Tình làng nghĩa xóm là thái độ của người dân Việt sống với nhau. Tình cảm này quan trọng hơn huyết thống khi ở xa: “bán họ hàng xa, mua láng giềng gần”, tình cảm này xuất phát từ ý nghĩa của cuộc sống thường ngày: “tối lửa tắt đèn có nhau”. Ý nghĩa của việc sống liên kết đó đưa đến một đời sống chia sẻ: “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ”. Việc sống “tình làng nghĩa xóm” dẫn đến lòng vị tha: “lấy chín bỏ làm mười”, hoặc mang trong tâm tưởng lời dạy xưa: “lấy nhân nghĩa để thắng hung tàn”.

Những cách thức này là tình trạng trút bỏ của đời sống thường ngày, trút bỏ tinh thần ích kỷ để củng cố giá trị cộng đồng. Trút bỏ hiềm thù cá nhân để xây dựng mối liên kết. Khó có người Việt nào mang mối thù truyền kiếp, bởi họ luôn gặp những lời khuyên nhân nghĩa để tha thứ: “Ở hiền gặp lành”, “Lấy ân đền oán”,. ..Từ đó hình thành nên những tiêu chuẩn của cuộc sống: “mẫu hiền di đức”; “trọng đức hơn trọng tài”, “cái nết đánh chết cái đẹp”… Bởi đó trong lối sống người Việt, bao giờ cũng quý trọng người đức độ hơn những người có tài mà không có đức.

Đức độ ấy tìm thấy một sự thành toàn nơi Đức Giêsu, khi giới thiệu Đức Giêsu cho những người sống đời tu hay tận hiến, Cha Maiorica đã giới thiệu tập sách “Dạy đi đàng nhân đức lọn lành”, để chuẩn bị tâm hồn của người thợ gặt trên cánh đồng truyền giáo Đất Việt.

Khi rao giảng cuộc đời Đức Giêsu, người Việt gặp được một con người hay thương xót trước những phận người bé nhỏ, là một con người nhạy cảm trước sự dữ, là một con người sẵn lòng tha thứ, nhân hậu…Tất cả những điều ấy chinh phục tâm hồn Việt hơn bất cứ điều nào. Thưở đầu buổi truyền giáo trong dân đã có lời truyền tai về một đạo mới mà người ta gọi “đạo những người yêu thương nhau”. Chính những hành vi tương quan nhân ái này là một bằng chứng thuyết phục tâm hồn Việt hơn hết. Người Việt lúc nào cũng ảnh hưởng nhiều bởi tình thương hơn là lý thuyết. Kinh nghiệm này cho thấy việc thực thi đức ái Kitô giáo vẫn là một lợi thế khi truyền giáo.

Khi hướng tới người khác là ra khỏi chính mình, khi đón nhận người khác là trút bỏ chính mình, khi liều mạng sống mình cho tha nhân là khi hoàn toàn từ bỏ chính mình. Đó là những cấp độ kinh nghiệm Kenosis mà từng cá nhân trải qua.

Cũng vậy, kinh nghiệm về Kenosis sẽ nhiều hơn khi cấp độ từ bỏ cao hơn. Khi tha thứ cho người khác là trút bỏ yếu đuối của mình, khi bao dung với người khác là trút bỏ hiềm thù nơi mình, khi quảng đại với người khác là khi trao luôn chính mình.

4. Tương quan với bản thân.



Trong nghi thức vòng đời người có rất nhiều kinh nghiệm về tình trạng kenosis này: Có thể kể:

Hình thức tắm cho đứa trẻ mới chào đời: Trút bỏ đời sống thai nhi để bắt đầu sống cuộc đời độc lập cho sứ vụ cuộc đời của chính đứa trẻ.

Đầy cữ, cữ là thời gian chín ngày (con gái), bảy ngày (con trai), đủ thời gian này người mẹ phải cúng “bà mụ”, sự sống là do bà mụ nhào nặn nên trả về cho bà mụ chăm sóc nuôi dưỡng. Sự sống này, thân xác này thuộc về người đã nhào nặn nên nó.

Kính Cáo Tổ tiên: Tin Mừng cho tổ tiên, cây đã có chồi, có lộc, phước đức cho dòng họ không bị khô chồi, không lộc.

Đầy tháng và đầy năm: Lễ cúng đầy tháng cũng giống như cúng đầy cữ. riêng cúng đầy năm có thêm một chi tiết khá quan trọng trong đời người, đó là “thí nhi” theo cách gọi của người Trung Hoa. Tục này, người ta chuẩn bị cho đứa trẻ thật sạch se, nó được trút bỏ hoàn toàn khỏi uế bẩn, để vào một nghi thức quan trọng: người nhà bầy trên mâm cung tên, bút giấy (đối với con trai), Kim chỉ, dao kéo trên mâm con gái, có khi có cả đồ chơi. Đứa trẻ sẽ chọn theo sự khôn ngoan của nó. Sự chọn lựa của đứa trẻ tuy nó vô ý thức trong khi lựa chọn, nhưng mang một ý nghĩa khác. Đó là trao gửi tương lai của con cái cho thần linh coi sóc.

Áo dấu: là một hình thức được đưa vào Kitô giáo Việt Nam rất sớm, thời Cha Alexandre de Rhodes đã tặng cho giáo dân người Việt những bức ảnh đeo ấy, được người Việt đón nhận rất chân thành. Thời xa xưa ấy, trong những lễ hội lên chùa, người Việt thường hay mang những miếng vải hay chiếc áo đã may sẵn lên chùa để lấy dấu của chùa. Những chiếc áo dấu (Không có quần dấu) này mang về cho trẻ mặc để tránh những bệnh tật và cầu mong được phúc lành của thần linh. Không được giặt áo dấu này với những quần áo khác. Những người Kitô hữu thời các cha ĐaMinh coi sóc trên đất Việt có mang theo áo Đức bà để cho giáo dân đeo. Người đeo ảnh áo ấy thì tin rằng họ sẽ được Đức Bà cầu bầu, sẽ được chết lành.

Đặt tên cho con: Ngày xưa một đứa trẻ ra đời không phải khai sinh, không có hộ tịch, nhưng được quản lý bằng cách là vào sổ làng, sổ làng chỉ ghi con trai, sau khi vào sổ làng mới đưa tên của đứa trẻ kính cáo tổ tiên và ghi chép vào gia phả. Có khi người ta đặt tên cho con rất muộn, còn bé thường gọi thằng Tèo, thằng Tý, trước khi lấy vợ hoặc lấy chồng mới đặt tên. Tên có thể thay đổi nếu có gặp trường hợp phạm huý hay phạm tên kiêng, hoặc cái tên đó không tiến thân được cần được đổi tên. Ví dụ, trường hợp cụ Yên Đỗ, trước khi lấy tên là Nguyễn Khuyến, cụ có tên là Nguyễn văn Thắng, do mang tên Thắng thi trượt khoa thi Hội năm Ất Sửu cụ đổi tên Nguyễn Khuyến và đỗ Tam Nguyên năm Tân Mùi. Tên đối với người Việt là rất quan trọng, tên không những là người, còn là biểu hiện ước muốn con nên giống như người mà nó mang tên. Do đó, khi đặt tên là người ta bắt đầu sống thành phần dứt bỏ, bỏ những gì cũ kỹ để mặc lấy điều gì mới mẻ, theo gương của người mà đứa trẻ mang tên. Khi các cha thừa sai đem tên thánh đặt trước tên người dự tòng rửa tội, đó cũng là cách thức hội nhập rất là Việt Nam. Rất gần với Thánh Kinh, khi Thiên Chúa đổi tên cho một người là Thiên Chúa trao cho một sứ vụ. Sứ vụ của một người là gắn bó với tên của một người mang.

Học hành: có lễ khai tâm, kính cáo tổ tiên, lễ thầy.

Hôn Nhân: Kinh nghiệm về cuộc sống mới: “mình với ta tuy hai mà một, ta với mình tuy một mà hai”. Kinh nghiệm này nhiều khi đổ vỡ: “chồng em nó chẳng ra gì..”; hoặc “cơm chẳng ngon, canh chẳng ngọt”, tệ hơn nữa “chồng ăn chả, vợ ăn nem”.

Sự Chết: Kinh nghiệm Kenosis trong trạng thái cuối cùng của cá nhân nhưng không truyền lại kinh nghiệm cho ai đuợc.

Vòng đời người có nhiều kinh nghiệm Kenosis nhưng lại rất ít cụ thể để sống tu thân.

Tu thân chủ yếu dựa vào sách thánh hiền, những lời dạy của bậc tiền nhân, những giá trị của cộng đồng để soi xét. Thực tế, việc tự đào luyện bản thân khó hơn nhiều, bởi luôn gặp những nghịch lý của đời sống chi phối, phần khác những giá trị của cộng đồng cũng nhiều giới hạn, sách xưa thánh hiền thì không am tường hoặc không đủ hết mọi chiều kích gặp trong cuộc sống hiện tại. Việc tu thân vì vậy mà trở nên khó. Việc nhắm mắt đưa chân, hoặc buông hoặc cầm chừng là chủ yếu. Không luyện nhân thì không thành thân, không thành thân thì không đạt phúc, cho nên vòng đời vẫn cứ lẩn quẩn giữa vòng sinh tử, vẫn u mê giữa những lựa chọn, vẫn đau khổ giữa vòng sinh, tử, lão, bệnh.

Vẫn như người ta thường nói: Bạn muốn thay đổi cả thế giới, hãy thay đổi chính mình trước đã. Nguyên tắc này nói dễ mà làm không dễ, nếu không có một phương pháp tìm hiểu và nhận định về chính mình.

5. Giới thiệu một phương pháp kinh nghiệm về Kenosis:

NGUYÊN TẮC PHÂN BIỆT THẦN LOẠI

Nguyên tắc 1 : Đối với những người sa ngã hết tội trọng này đến tội trọng khác,kẻ thù thường quen bày cho họ những thú vui bề ngoài để xui họ tưởng đến những khoái lạc và vui thú giác quan hầu dễ cầm giữ và thúc đẩy họ tiến sâu vào thói hư và tội lỗi. Với những người như thế, thần lành dùng phương pháp ngược lại, bằng cách thôi thúc cho lương tâm cắn rứt họ bằng luật tự nhiên của lẽ phải.

Nguyên tắc 2 : Nơi những người tiến mạnh trong việc diệt trừ tội lỗi và đang tiến lên hơn mãi trên đường phụng sự Thiên Chúa, Chúa chúng ta, thì lại có phương pháp ngược lạivới nguyên tắc thứ nhất, vì khi đó, đường lối riêng của thần dữ là cắn rứt, làm buồn phiền, và đặt chướng ngại vật bằng cách gây băn khoăn lo lắng với những lí lẽ giả tạo để những người khỏi tiến tới. Còn cách thức riêng của thần lành là cho can đảm và sức mạnh, an ủi, nước mắt, ơn soi giục, và an nghỉ, cùng giảm bớt và hủy diệt các trở ngại để cho tiến lên trong đàng lành.

Nguyên tắc 3: Về an ủi thiêng liêng.Tôi(Thánh I-Nhã) gọi là an ủi khi trong linh hồn phát khởi một thúc đẩy nội tâm khiến linh hồn bừng cháy lửa kính mến Đấng tạo hóa, Chúa mình; và từ đó, không thể yêu một tạo vật nào trên mặt đất vì chính tự nó, nhưng vì Đấng đã tạo dựng mọi sự. An ủi thiêng liêng cũng là trường hợp linh hồn chảy nước mắt giục lòng mến Chúa hoặc bởi đau đớn vì tội lỗi mình,hay vì sự Thương Khó của Đức Kitô, Chúa chúng ta,hay vì những điều khác trực tiếp huớng về việc phụng sự và ca ngợi Chúa. Sau cùng, an ủi là khi mọi gia tăng của lòng tin, cậy, mến, cùng mọi niềm vui nội tâm mời gọi và lôi kéo tâm hồn đến những sự trên trời và phần rỗi riêng cho linh hồn,khiến linh hồn được nghỉ ngơi và an bình trong Đấng Tạo hoá và Chúa mình.

Nguyên tắc 4: Về sầu khổ thiêng liêng.Sầu khổ thiêng liêng là tất cả những gì trái ngược với nguyên tắc 3; như tối tăm trong linh hồn, nỗi xao xuyến tinh thần, sức thúc đẩy về những gì thấp hèn và phàm tục, niềm bâng khuâng từ những xao động và cám dỗ xúi ta mất tin tưởng, cậy trông và lòng mến; tâm hồn cảm thấy lười biếng, khô khan, buồn rầu và như bị lià xa Đấng tạo hoá và Chúa mình. Như an ủi trái ngược với sầu khổ thế nào, thì các tư tưởng an ủi sinh ra cũng trái ngược với các tư tưởng sầu khổ sinh ra như vậy.

Nguyên tắc 5: Trong thởi gian sầu khổ, đừng bao giờ thay đổi, nhưng hãy cương quyết bền vững trong những điều đã quyết định và dốc lòng trước khi bị sầu khổ, hoặc trong những điều đã dốc lòng khi được an ủi trước đây. Vì như khi được an ủi phần nhiều là do thần lành hướng dẫn và khuyên nhủ, thì trong cơn sầu khổ, thần dữ cũng làm thế, mà theo lời khuyên của nó, ta sẽ chẳng gặp con đường đưa tới đích.

Nguyên tắc 6: Trong cơn sầu khổ, nếu như không nên thay đổi các điều đã quyết định, thì lại rất nên cương quyết thay đổi chính mình để chống lại cơn sầu khổ, chẳng hạn bằng cách cầu nguyện chăm chú hơn, suy gẫm nhiều hơn, xét mình nhiều hơn và gia tăng sự hãm mình theo phương cách thích hợp.

Nguyên tắc 7: Đang gặp sầu khổ, ta hãy suy rằng, để thử ta, Chúa đã bỏmặc để ta lấy sức riêng mà chống trả các xao động và cám dỗ của kẻ thù, vì ta có thể chống trả được nhờ ơn Chúa hằng giúp đỡ - dù không thấy được rõ ràng : vì tuy Chúa rút bớt lòng sốt sắng nồng nàn, lòng mến bao la, và ơn sủng mạnh mẽ, Ngài vẫn để lại đủ ân sủng cho sự cứu rỗi đời đởi.

Nguyên tắc 8 : Đang cơn sầu khổ, hãy gắng giữ sự nhẫn nại, tức là ngược với những xáo trộn đang xảy đến, và nghĩ rằng chẳng bao lâu nữa sẽ được an ủi khi hết sức chiến đấu với cơn sầu khổ như dã nói ở nguyên tắc 6.

Nguyên tắc 9: Có ba nguyên do chính khiến ta gặp sầu khổ.Thứ nhất là ta khô nhạt, lười biếng, hay lơ là trong các việc thiêng liêng; vậy vì lỗi ta mà sự an ủi thiêng liêng lìa bỏ ta. Thứ hai là để coi sức ta tới đâu và ta có thể vươn tới đâu trong việc phụng sự và ca ngợi Chúa, khi không được thưởng công bằng những an ủi và ân sủng bao la.Thứ ba là để ta học biết và nhân thức bằng những cảm thức nội tâm rằng không phải tự ta có thể phát sinh hay duy trì lòng sốt sắng vô ngần, lòng mến mạnh mẽ, nước mắt hoặc bất cứ ơn an ủi thiêng liêng nào, mà mọi sự đều là ân điển của Thiên Chúa, Chúa chúng ta và để ta đừng xây tổ ở nơi không thuộc về mình, đến độ tự đắc kiêu ngạo, khoe khoang, rồi tự gắn cho mình lòng sốt sắng hay các hoa trái khác của ơn an ủi thiêng liêng.

Nguyên tắc 10: Khi được ơn an ủi, phải nghĩ tới cách xử sự trong cơn sầu khổ sẽ đến sau này, hầu lấy sức mới để dành cho lúc đó.

Nguyên tắc 11 : Ai được ơn an ủi, phài gắng tự khiêm hạ hết sức mình, bằng cách nghĩ đến mình nhỏ hèn biết mấy trong cơn sầu khổ, khi không được ân sủng hay an ủi.Trái lại, người lâm cơn sầu khổ phải nghĩ là mình có thể làm được nhiều nhờ bởi ơn trợ giúp đủ để cho mình chống trả mọi kẻ thù, khi lấy sức nơi Đấng Tạo Hóa và Chúa mình.

Nguyên tắc 12: Kẻ thù giống như một kẻ hư hỏng, nhỏng nhẽo: có vẻ hung dữ, nhưng thật sự, tự nó chẳng có sức lực gì cả.Quả vậy, đặc tính của một kẻ hư hỏng khi gây gỗ với người khác là mất can đảm và chạy trốn khi người này cương quyết chống trả. Trái lại, nếu người này bắt đầu mất can đảm và chạy trốn trước, thì cơn giận, sự trả thù và sự hung dữ của kẻ hư hỏng này thật không sao lường được.Cũng vậy, đặc tính của kẻ thù là nên yếu nhược, nản lòng, và dẹp bỏ các cám dỗ khi người tập luyện đời sống nội tâm quả quyết đương đầu với cám dỗ bằng cách làm điều ngược hẳn lại. Trái lại,nếu người đang tập luyện bắt đầu sợ hãi và nản lòng khi chịu cám dỗ, thì trên mặt đất này, sẽ không còn dã thú nào hung hãn cho bằng kẻ thù của nhân tính khi nó theo đuổi ý đồ đáng nguyền với tâm địa quá xấu xa của nó.

Nguyên tắc 13 : Kẻ thù cũng xử sự như một chàng trai đa tình dâm đãng, muốn bí mật để khỏi bị lộ. Quả vậy, như chàng trai đa tình dâm đãng khi dùng lời hiểm độc quyến rũ một thiếu nữ con nhà lành hay vợ một người đứng đắn thì muốn những lời dụ dỗ của mình được giữ kín, bằng ngược lại, trở nên bất mãn khi thiếu nữ mách với cha hay thiếu phụ mách với chồng, vì lúc ấy hắn thừa biết sẽ không thể thành công trong chuyện đã manh tính: cũng vậy, kẻ thù của nhân tính khi đưa những xảo trá và xúi giục của nó vào tâm hồn ngay lành thì cũng mong muốn các điều đó được tiếp nhận và giữ kín; nhưng khi ta bày tỏ các điều này với một cha giải tội tốt hay với một người đạo đức mà am tường những dối trá và sự hiểm độc của nó, thì nó rất bất mãn vì biết không thể thành công trong chuyện đã manh tính, vì chân tướng dối trá của nó đã bị phanh phui.

Nguyên tắc 14 : kẻ thù lại còn xử sự như một tướng quân mong xâm thắng và cướp đoạt những gì y muốn: vì như một vị chỉ huy cầm quân, sau khi đặt bản doanh, xem xét lực lượng, học cách bố trí của thành trì, xong tấn công vào điểm yếu nhất, thì cũng vậy, kẻ thù của nhân tính lượn quanh để xét kiểm các nhân đức đối thần, các nhân đức trụ, các nhân đức luân lý khác của ta, và điểm nào nó thấy yếu nhất và dễ nguy nhất cho phần rỗi đời đời của ta, thì nó sẽ tấn công và cố mà hạ ta.

Ghi chú : Nhân đức trụ: đức tin, đức cậy, đức mến.

Nhân đức đối thần: bảy mối tội đầu, cải chừa bảy tội đầu, phúc thật tám mối.

Nhân đức luân lý: mười điều răn của Chúa và sáu điều răn của Hội Thánh.

NGUYÊN TẮC PHÂN BIỆT THẦN LOẠI. THÍCH HỢP VỚI TUẦN THỨ HAI.

Nguyên tắc 1 : đặc điểm của Chúa và các thần thuộc về Ngài khi soi giục là ban sự sảng khoái và vui vẻ thiêng liêng chân thật, xóa bỏ mọi buồn sầu xao xuyến do kẻ thù đưa vào. còn đặc điểm của kẻ thù là chống lại sự sảngkhoái và niềm an ủi thiêng liêng ấy bằng cách đưa ra những lý do giả tạo, cầu kỳ và ngụy biện không cùng.

Nguyên tắc 2 : chỉ có Thiên Chúa chúng ta mới ban ơn an ủi cho tâm hồn mà khôn có nguyên do trước; vì quyền riêng của đấng Tạo Hóa là vào, ra đánh động tâm hồn. Lôi cuốn trọn vẹn tâm hồn vào việc yêu mến Ngài. Tôi (thánh I-Nhã) nói không có nguyên do có nghĩa là: ta không cảm nghiệm hay biết trước một điều nào đó sẽ đem đến sự an ủi để mà cố tình làm.

Nguyên tắc 3 : khi có nguyên do, thần lành cũng như thần dữ đều có thể an ủi tâm hồn nhằm mục đích trái gnược nahu: thần lành nhằm mưu ích cho tâm hồn; để tâm hồn lớn lên và ngày càng tốt lành hơn, còn thần dữ nhằm điều ngược al5I, để rồi lôi cuốn tâm hồn theo ý xấu xa đồi tệ của nó.

Nguyên tắc 4 : đặc điểm của thần dữ là giả dạng thần lành, đi vào theo chiều hướng của tâm hồn trung tính, để rồi kéo tâm hồn ra, theo đường hướng của nó; nghĩa là nó bày ra những tư tưởng tốt lành, thánh thiện hợp với tâm hồn công chính, rồi dần dần cố lôi kéo tâm hồn theo những mưu mô ẩn kín và những ý đồi tệ của nó.

Nguyên tắc 5 : cần chú ý nhiều về diễn biến của tư tưởng. Nếu từ đầu đến cuối đều tốt, hướng hẳn về đường lành, thì đó là dấu chỉ của thần lành. Nhưng nếu dễn biến của tư tưởng đưa ta tới điều xấu, có chiều hướng lệch lạc, hay điều không được tốt như điều tâm hồn đã định làm trước đó, hoặc diễn biến của tư tưởng làm giảm yếu hay khuấy động hay bứt rứt tâm hồn, khiến ta mất sự bình an yên tĩnh đã có từ trước, thì đó là dấu hiệu rõ cho biết điều ấy đến bởi thần dữ, kẻ thù của phần lợi và phần rỗi của ta.

Nguyên tắc 6 : khi đã cảm nhận ra và biết được kẻ thù của nhân tính qua đuôi rắn của nó và qua mục đích xấu xa mà nó đưa dẫn tới, thì điều có ích cho người bị cám dỗ là duyệt lại ngay sự diễn biến của những tư tưởng tốt nó bày ra từ đầu, và cách nó đã lần lần nhắm làm ta rời xa sự dịu ngọt và niềm vui siêu nhiên ta có sẵn, đến mức đưa ta tới ý định đồi tệ củanó, để nhờ nhận biết và ghi lại kinh nghiệm này, ta sẽ cảm giác sau này đối với những gian mưu thông thường của nó.

Nguyên tắc 7 : đối với những người đang tiến, thần lành soi dẫn linh hồn một cách êm ái, nhẹ nhàng và dịu ngọt - như giọt nước thấm vào miếng bọt biển, còn thần dữ thì thúc đầy cách chát chúa, ồn ào và sôi động - như khi giọt nước rơi trên đá. Với những người sai sút, thì các thần nói trên hành động ngược lại. Vì theo tình trạng của tâm hồn đang trái ngược hay hòa hợp với các thần nói trên, khi trái ngược, các thần xâm nhập sẽ tạo đụng chạm và khuấy động, có thể cảm nhận được, còn khi hòa hợp thì các thần ấy xâm nhập lặng lẽ như vào nhà mình, qua cửa mở.

Nguyên tắc 8 : khi ơn an ủi không có nguyên do, tuy không có sai lầm, vì như đã nói ở trên, đó là ơn của riêng Thiên Chúa, Chúa chúng ta, song, người được Chúa ban ơn an ủi này phải tỉnh thức, chú ý xem xét vàphân biệt thời gian được an ủi với thời gian tiếp đến, khi tâm hồn còn sốt sắng và sung sướng vì ơn an ủi và cảm xúc vừa nhận, vì thường trong thời gain sau ấy, chúng ta hay đưa ra những kế hoạch và ý kiến từ đường lối quen thói sẵn có của mình, hay từ quan niệm và cách suy xét của mình, hay từ thần lành hay thần dữ, chứ chính Thiên Chúa Chúa chúng ta không trực tiếp ban cho những kế hoạch và ý kiến đó. do đó, chúng ta phải xét lại cho kỹ trước khi tin hay đem ra thực hiện.

CÁCH THỨC LỰA CHỌN THEO THÁNH Ý CHÚA

Lời mở đầu : trong mỗi lựa chọn ngay lành, mục chỉ tâm ý của chúng ta, nếu được, phải nên đơn giản, cốt chỉ chú trọng đến mục đích Chúa dựng lên mình là làm vinh hiển Thiên Chúa và cứu rỗi tâm linh. Do đó, tôi phải lựa chọn cách giúp tôi dạt tới mục đích, không gán mục đích cho phương tiện, nhưng dùng phương tiện để đạt tới mục đích. Chẳng hạn: nhiều người chọn lập gia đình trước - một phương tiện - rồi kế đến là phụng sự Chúa trong đời sống hôn nhân - cho dù phụng sự Chúa thực mới là mục đích. Hoặc nhiều người trước hết muốn có nhiều tiền của, rồi sẫn đó sử dụng tiền của để phục vụ Chúa sau. Những người này không đến thẳng với Chúa mà muốn Chúa đến ngay tới các chiều hướng lệch ạc của họ, và như vậy họ lợi dụng mục đích như một phươn gtiện và đặt các phương tiện lên làm mục đích. Cho nên, cái họ cần đặt trước, họ lại đặt cuối; vì trước nhất chúng ta phải nhắm đến việc phụng sự Thiên Chúa - là mục đích - rồi kế đến xét xem việc mưu lợi hay kết hôn - là phương tiện dưa tới mục đích có thích hợp hơn với mình trong việc phụng sự Thiên Chúa không. như vậy không có gì khiến tôi phải gắng có hay kiên bỏ các phương tiện như thế ngoài thành ý và vinh quang Chúa cùng ích lợi vĩnh viễn của tâm linh tôi.

Điểm 1 : chúng ta chỉ có thể nhận định lựa chọn giữa những điều mà tự chúng “không tốt hay xấu” hoặc tự chúng tốt lành, và chúng nằm trong khuôn phép của gaío hội thành mẫu của chúng ta mà không xấu hay chống lại giáo hội.

Điểm 2 : có những điều thuộc về các sự lựa chọn không thể thay đổi, chẳng hạn như chức linh mục, việc hôn nhân, v.v… có những điều khác thuộc về các sự lựa chọn có thể thay đổi như việc lãnh nhận hay từ khước quyền lợi, việc lãnh nhận hay từ bỏ những của cải đời này.

Điểm 3 : một khi đã qua một sự lựa chọn không thể thay đổi, chẳng hạn như hôn nhân, chức linh mục,.v.v… thì không còn gì để chọn lựa nữa, vì không thể cởi mở được; chỉ có thể xét xem nếu trước đó đã không nhận định kỹ và theo lẽ phải, mà đã bị những quyến luyến lệch lạc ảnh hưởng, thì ăn năn hối hận và cố gắng sống một đời tốt lành trong cảnh mình đã lựa chọn. Việc lựa chọn đó có vẻ không phải là ơn gọi của Chúa, vì là một cuộc lựa chọn lệch lạc. Nhiều người lầm lẫn trong việc này, cho rằng sự lựa chọn lệch lạc hay sai lầm của mình là ơn gọi cuủa Chúa; trong khi ơn gọi của Chúa bao giờ cũng trong sạch và rõ ràng, không pha ý xác thịt hay một quyến luyến lệch lạc nào khác.

Điểm 4 : nếu ai đã nhận định kỹ càng về những điều có thể thay đổi được và đã không chiều theo xác thịt hay trần tục thì không cần nhận định lại mà chỉ cần cố gắng nên hoàn hảo hơn theo khả năng của mình trong điều đã chọn.

Ghi chú : nếu ai đã không thành thật và theo lẽ phải nhận định về một việc có thể thay đổi được thì nhận định lại kỹ càng rất có ích. Nếu có ý muốn sinh hoa lợi làm đẹp lòng Thiên Chúa Chúa chúng ta.

Kinh nghiệm kenosis của từng cá nhân là chìa khóa mở cánh cửa hạnh phúc cho đời người. Thiếu chiếc chìa khoá để tập trút bỏ sẽ thiếu sự hồi sinh. Luyện tập phương pháp của Ignatio để thành nhân và để thành thánh là phương pháp cụ thể nhất mà mỗi người cố gắng làm được. Nếu bạn không mở cánh cửa hạnh phúc cho chính bạn, chẳng ai có thể mở thay cho bạn.

Tân Hoà, Thánh Mẫu Điện

Mùa Chay 2003