Từ ngữ Xin vâng như là lời đầu tiên các bà mẹ dạy con từ thưở bập bẹ biết nói. Nhớ lại ngày xưa, những khi còn bé thơ, mẹ bảo gì cũng dạ vâng, tiếng dạ vâng ngày đó dễ thương biết mấy, càng lớn lên, lời thưa dạ vâng càng ít đi, sự dễ mến cũng vơi dần theo. Ngày xưa, bây giờ một quảng thời gian dễ đã hơn nửa đời người, kịp để giật mình lại những nghĩ suy: Tại sao ngày xưa xin vâng sao dễ đến thế? Phải chăng bây giờ mình đã ý thức không còn dạ vâng như trước nữa? Điều nào đúng, ngày xưa hay bây giờ?. .. Dòng suy nghĩ, sự giật mình, khiến không khỏi đặt lại giá trị đích thực của mẫu xin vâng mà mẫu gương ấy có ai hơn mẹ Maria rồi đến tất cả các bà mẹ cũng một lời dạy con như thế.

Tìm một giá trị, tìm một ý nghĩa, để khám phá ra một lối đường, và dám can đảm xin vâng. Lời xin vâng đã khác xưa nhưng vẫn không thiếu sự dễ mến như xưa. Có lẽ những điều ấy dệt nên dòng suy nghĩ này.

1.Tìm một ý nghĩa:

“Xin vâng” Mẹ dạy con hai tiếng xin vâng. Lời của bài hát xin vâng đã không khỏi một lần vương lại mối suy tư. Mẹ dạy con, có bao nhiêu điều mẹ dạy con, nhưng ý nghĩa nào khi mẹ dạy con hai tiếng xin vâng?

Thời gian của mẹ, thời gian của con, một chiều dài của thời gian, hai tiếng ấy vẫn còn, mẹ dạy con hai tiếng xin vâng. Ý nghĩa nào, có lẽ cần nhắc lại khung cảnh thời gian của mẹ và khung cảnh thời gian của con.

Mẹ Maria sống vào đầu và cuối trước và sau công nguyên, đã hơn hai ngàn năm, một thời gian rất xa. Quê hương của Mẹ, người nữ không có thế giá, thế giới của họ là gia đình và những việc nội trợ. Họ không được đi học cả việc đạo cũng như đời. Họ không được mời làm chứng tại toà án cũng như không được lên tiếng trong nghi thức phụng tự.

Thời gian của con: Phong trào đòi nữ quyền khó mà có thể nói là từ lúc nào, nhưng theo chiều hướng suy luận nguyên nhân - hậu quả, thì có thể thấy rõ phong trào đòi nữ quyền có từ khi nam quyền chiếm ngôi. Như vậy là rất xa xưa, từ khi văn minh hái lượm kết thúc. Nền văn minh mà nam giới tự hào và tiếm quyền của nữ giới ấy là nền văn minh săn bắt. Bước lên ngôi bằng một nền văn minh thô bạo, người nam không những xâm phạm thô bạo đến thiên nhiên mà còn xâm phạm thô bạo đến quyền người. Sáng thế ký chương 3, có bằng chứng tố cáo sự xâm phạm thô bạo của người nam: “Đức Chúa là Thiên Chúa hỏi: "Ai đã cho ngươi biết là ngươi trần truồng? Có phải ngươi đã ăn trái cây mà Ta đã cấm ngươi ăn không? "12 Con người thưa: "Người đàn bà Ngài cho ở với con, đã cho con trái cây ấy, nên con ăn." Một sự đổ tội trơ trẽn của người nam, một con người hèn nhát trước trách nhiệm. Quyền của người nam rơi vào sự trơ trẽn đó. Sự trơ trẽn khi tráo trở với chính mình, trước đây khi Thiên Chúa dẫn một người đến cho người nam thì vui sướng reo lên: "Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi! Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được rút từ đàn ông ra.", lúc phạm tội thì đổ thừa cho người nữ. Như vậy người nam hèn nhát hay người nữ hèn nhát? Sự hèn nhát đối với những người có quyền theo minh chứng của lịch sử là luôn cố bảo vệ bằng bạo lực và đàn áp.

Đấu tranh đòi quyền người nữ vì thế không phải là điều mới đây mà là vấn đề từ xưa, cuộc đấu tranh âm thầm hay như có lúc sóng vỡ là tuỳ theo từng thời kỳ. Lúc nào và bao lâu người nam không tự sửa đổi chính mình, không tự nhận ra chính người nam và người nữ cùng phẩm giá, cùng được tôn trọng như nhau, bấy lâu vẫn còn nổi sóng. Những làn sóng ngầm bao giờ cũng mạnh hơn sóng nổi.

Phận người nữ mà Mẹ vẫn tự nhận là “phận nữ tỳ” vào hôm ngày truyền tin, là đại diện cho những người phận nhỏ.

Những người phận nhỏ gợi lại hình ảnh của những đứa trẻ thơ, gợi lại những ngày thơ. Đứa trẻ không biết tích luỹ, nó đang chơi một trò chơi xây nhà trên cát, theo cách diễn tả của Tagore. Nó không có quyền gì hết, mọi điều nó phải xin. Đứa trẻ, không quyết định, mọi điều cha mẹ quyết định, nó không thể sống độc lập nhưng nó hoàn toàn tuỳ thuộc vào cha mẹ. Đứa trẻ, trong những tình thế ấy, nó chỉ biết xin vâng. Xin vâng đầy ý thức của tuổi khôn lớn mà đón nhận như đứa trẻ, là xin vâng tuỳ thuộc vào Thiên Chúa. Sự tuỳ thuộc để Thiên Chúa dùng như khí cụ biểu lộ quyền năng của Người. Sự tuỳ thuộc là kinh nghiệmcủa kenosis.

Những người phận nhỏ còn là những con người không có quyền ăn nói, những con người bị áp bức, những con người bị chà đạp, những con người đau khổ không thể kêu la. Xin vâng không phải là thái độ chịu đựng nhưng là thái độ không thể chấp nhận mà cần phải tha thứ. Đấy là tiếng nói mạnh, mạnh hơn sự chết, mạnh hơn quyền lực đè bẹp trên họ. Xin vâng trong hoàn cảnh này, không phải là không biết nhưng là sự xin vâng để tình yêu chiến thắng, để Tình yêu chữa lành. Con đường này đòi hỏi kiên nhẫn, như người nữ đã từng kiên nhẫn, sự kiên nhẫn lặng im đứng dưới chân Thập Giá và là sự kiên nhẫn tha thứ đến cùng.

Mẹ Maria trong tiếng xin vâng đã nói thay tiếng lương tri của con người, nhất là tiếng lương tri của những con người đang bị chà đạp phẩm giá. Trong khi người nam ngạo nghễ vì những quyền được hưởng thì đã có những con người phải chịu hy sinh cho những quyền lợi đó. Tiếng nói xin vâng là tiếp tục tha thứ để tiếp tục khai sinh nhân loại, sinh ra một nhân loại mới, yêu thương hơn, đáng sống hơn. Chính những người phận nhỏ trong tiếng xin vâng đang kiến tạo nên một trời mới đất mới chứ không phải là những người cầm quyền đầy sức mạnh, đầy sự thao túng.

Người nữ trong tiếng xin vâng của phận nhỏ đang làm một sức sống khác nảy nở từ một gốc khô cằn.

Xin vâng của Mẹ Maria là sự xin vâng đổ rỗng tất cả, đổ rỗng trong nghĩa yêu thương có nghĩa là tha thứ tất cả, để tình yêu đổ đầy.

Không có những giá trị hy sinh của người nữ, người nam sống với nhau như gốc cây khô cằn. Không có giá trị tiếng xin vâng của Mẹ Maria, một nhân loại vẫn còn đi trong tăm tối.

2. Tìm một giá trị.

Giá trị của tiếng xin vâng trước tiên là sự chữa lành. Người nam hèn nhát thì cho là tiếng xin vâng ấy biểu lộ sự chịu đựng. Đã xin vâng là không bao giờ có thái độ chịu đựng. Hai điều ấy mâu thuẫn với nhau. Xin vâng là thái độ chủ động, chịu đựng là thái độ bị động. Mẹ Maria thưa tiếng xin vâng, xin vâng để Con Thiên Chúa làm người để giải thoát con người khỏi tội, để chữa lành cho con người. Tội ban đầu là do một người nam, tội trốn tránh trách nhiệm, tội hèn nhát, tội đổ thừa của Adam, có quyền mà chẳng ra gì. Cứu khỏi tội, Đức Giêsu, một người nam đã sống hết mình yêu thương, đón nhận tất cả và tha thứ tất cả, để lập lại quyền của người nam trong một nhãn quan mới, đó là quyền để yêu thương, quyền để phục vụ, quyền để tha thứ tất cả, làm mới lại tất cả trong nghĩa yêu thương, quyền để chết thay cho người mình yêu. Đức maria trong tiếng Xin vâng đã sống kinh nghiệm Kenosis trong suốt cuộc đời của Mẹ. Xin vâng để Thiên Chúa đến cư ngụ giữa loài người. Xin Vâng như để cùng với Chúa Con trong nhiệm cục cứu độ. Xin vâng như một lưỡi đòng thâu tim trong những đau khổ của Con. Không có đau khổ nào của Con mà không thấu đến tim Mẹ. Kenosis của Mẹ là kinh nghiệm trải ra trong đau khổ, như một bà mẹ đau đớn trong khi sinh hạ, sự đau khổ được đón nhận bằng tiếng xin vâng để sinh ra một nhân loại mới. Mẹ là người duy nhất được đẹp lòng Chúa, đã kinh nghiệm về kenosis một cách sâu xa, xa hơn sự chết, chiến thắng sự chết, vượt qua tử thần nhờ thông phần vào sự chết của Con của Mẹ.

Đó là một kinh nghiệm trút bỏ hoàn toàn ngay khi còn sống, khó có người nào có được kinh nghiệm trong lời “Xin vâng” như thế. Đây là công trình của Thiên Chúa thực hiện nơi Mẹ. “Thiên Chúa đã làm cho tôi những điều cao cả”, sự đổ rỗng nơi tiếng Xin vâng quá hoàn toàn nên quyền năng Thiên Chúa cũng đổ đầy hoàn toàn nơi Mẹ. Thiên Chúa nâng cao những người phận nhỏ, cánh tay uy quyền của Thiên Chúa dẹp tan lòng trí kiêu căng. Sự kiêu căng ngạo mạn xưa kia của con người muốn bằng Thiên Chúa đã bị tiêu tan, niềm hy vọng cho người phận nhỏ đã được loé sáng.

Kinh nghiệm kenosis trong trường hợp này có hai hướng, một hướng giàu có trở thành nghèo khó, một hướng khác nghèo khó trở thành giàu có. Nơi Thiên Chúa, Thiên Chúa chấp nhận nghèo khó để con người trở nên giàu có. Và trong thế gian, người giàu có sống cách xa Lời Chúa trở về tay không. Người giàu có nếu biết để cho Lời Thiên Chúa trở thành lẽ sống của mình họ cũng bước từ lãnh vực giàu có vật chất này sang sự giàu có tâm linh. Đón nhận Lời Chúa và sống lời Người là kinh nghiệm về kenosis, phó dâng đời mình để Thiên Chúa thực hiện Ý Người.

Xin vâng thứ hai là trút bỏ bạc nhược của một Adam, Eva cũ, để phục hồi và gia tăng các giá trị trong Adam mới và Eva mới. Không có tiếng xin vâng của người Mẹ là Đức Maria, không có tiếng xin vâng của Người Con chết trên Thập Giá là Đức Giêsu, là không có phục sinh, không có nguồn ơn giải thoát. Hậu quả của tội lỗi là sự bạc nhược. Sự bạc nhược là nguyên nhân của việc chạy trốn, đổ lỗi cho nhau, đàn áp, bất công, hiềm thù, ghen ghét… Thế nhưng, Xin vâng đã trở thành hiện thực, con người lỳ lợm, chạy trốn kia vẫn cứng đầu cố chấp trong sự bạc nhược của mình. Sự cố chấp của con người vẫn để cảnh bạc nhược thống trị, nghĩa là vẫn để tội lỗi thống trị, từ đó muôn vật phải rên xiết trong quyền của con người. Sự bạc nhược làm cho quyền cai quản trở nên quyền thống trị.

Xin vâng là thái cử kiên nhẫn, không ai kiên nhẫn bằng người mẹ, kiên nhẫn chờ đợi đứa con hư trở về, kiên nhẫn chữa lành những tính hư tật xấu của người con. Kiên nhẫn trong đời sống gia đình, trong đời sống cộng đoàn. Kiên nhẫn đeo đuổi con đường sự thiện, chấp nhận tất cả để tha thứ tất cả. Sự kiên nhẫn làm nên những tác phẩm tuyệt tác. Sự kiên nhẫn của thời gian cần thiết để sinh hạ. Sự kiên nhẫn là một tình trạng kenosis liên tục, để có kinh nghiệm liên tục này, người đó đã luôn cố gắng đổ rỗng trong mọi khoảnh khắc đời mình. Đức Maria có kinh nghiệm này qua đời sống: “Còn bà Ma-ri-a thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng”.

3. Khám phá ra một lối đường:

Con đường tu đức xem ra thật cao nhưng thật ra bắt đầu từ thấp, xem ra thật xa nhưng khởi đi từ gần. Không ai lại không thể đi nếu đã muốn đi.

Con đường tu đức của Đức Maria đã đi, một linh đạo rất gần, một lối lên từ chỗ thấp trong cụm từ tiếng thưa: “Xin Vâng” thường ngày.

Con đường tu đức của Đức Maria gói trọn trong tiếng “Xin Vâng”, đường đi rất thấp: chấp nhận một thực tại, để đi đến chỗ rất cao: “Xin Chúa cứ làm cho tôi”. Đây là một cách nói rất đầy tính triết lý mà xưa Tử Tư trong sách Trung Dung đã viết: “Quân tử chi đạo, thí như hành viễn, tất tự nhĩ, thí như đăng cao, tất tự ty”. Đời sống nội tâm của con người, giống như đi xa, phải từ chỗ gần, giống như lên cao, đi từ chỗ thấp.

Con đường rất thấp: “Nữ tỳ của Chúa”. Giống như những thiếu nữ vào thời ấy, ai cũng mong muốn chính mình là người thừa hưởng lời loan báo: “Này đây, một trinh nữ sẽ thụ thai” (Is 7, 14), mà Isaia công bố. Lời loan báo ấy, được thừa hưởng, nhưng ước mơ của các cô vẫn chỉ là ước mơ, biết bao giờ đến, ở đâu và là ai được lựa chọn?...những chuỗi câu hỏi của niềm mong đợi vào thời Đấng Thiên Sai thực hiện lời hứa. Tin Mừng Luca trình thuật cách rất đơn giản: “Thiên Chúa sai sứ thần Gabrien đến một thành miền Galilê, gọi là Nazaret gặp một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giuse, thuộc nhà Đavit, trinh nữ ấy tên là Maria” (Lc 1, 26 - 27). Lời hứa thực hiện, cũng như con người được chuẩn bị cách âm thầm không ngờ tới. Thiên Chúa đi từ chỗ thấp mời gọi một con người cộng tác để đi lên chỗ cao. Chọn một nữ tỳ để thực hiện một quyền năng. Việc Thiên Chúa làm không hệ tại vào hoàn cảnh, nhưng là con người được chọn. Đức Maria được lựa chọn và được chuẩn bị từ lâu, người được chọn không biết nhưng Thiên Chúa biết.

Bí quyết của Đức Maria trong giai đoạn này là “Xin Chúa cứ làm cho tôi”. “Xin Chúa cứ làm cho tôi” như Thiên Chúa đã từng thực hiện trong lịch sử của dân tộc Do Thái: “Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng. Chúa hạ bệ những ai quyền thế. Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường” (Lc 1, 51 - 52). Thái độ “Xin Chúa cứ làm cho tôi”của Đức Maria là một con đường linh đạo Xin Vâng. Xin Vâng sau khi chiêm ngắm những điều Thiên Chúa đã thực hiện trong lịch sử, như thánh Luca trình bày về Đức Maria rất cô đọng: “Còn Bà Maria thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy” (Lc 2, 19). Hằng ghi nhớ để chiêm ngưỡng và để sẵn sàng đáp trả tiếng Xin Vâng, đó là ba chặng đường của tu đức.

4. Can đảm bước trên một lối đi.

Đức Khổng Tử dạy các học trò của mình: “Tri chi giả bất như báo chi giả; báo chi giả, bất như lạc chi giả”. (Luận ngữ VI,12), nghĩa là “Biết đạo chẳng bằng ưa đạo, ưa đạo chẳng bằng vui với đạo”, con đường vui với đạo là con đường trải qua ba giai đoạn: Biết - Ưa thích - Vui. Biết thì tương đương với giai đoạn hằng ghi nhớ - ưa thích tương đương với giai đoạn chiêm ngưỡng - và vui với đạo thì trùng với tiếng Xin Vâng trong cuộc sống.

Con đường tu đức Xin Vâng khởi đi từ sự biết, “vô tri bất mộ”, biết là một hành trình của lý trí, và biết cũng là khởi sự của một hành trình biến đổi đời sống. Đức Maria học biết từ gia đình, lắng nghe những câu truyện kể, nhìn xem những biến cố lịch sử khi tưởng nhớ và trong cuộc đời “hằng ghi nhớ”. Con đường đức tin là con đường tìm hiểu mãi không ngừng niềm tin của mình. Càng biết con người càng yêu mến những gì hiểu biết. Con đường để biết là một con đường gian khổ, giống như Đức Khổng Tử nghiệm thấy trong con đường rèn luyện tiến bộ của mình: “Hưng ư Thi, lập ư Lễ, thành ư Nhạc” (Luận ngữ VIII, Thái Bá,9), “Khởi hứng từ Kinh Thi, Uốn nắn bằng Kỷ luật, hoàn thành ở nhạc”. Con đường tri thiên mệnh là con đường khó khăn ban đầu để biết được Ý của Trời. Biết để không lạc hướng và như vậy là định hướng cho con đường tu đức của mình. Đức Maria đã đi đúng con đường biết bằng lý trí và biết bằng con tim. Trong phần đầu của bài Magnificat, Đức Maria biểu lộ sự biết đó: “Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới; từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc” (Lc 11, 48).

Biết mình là ai và biết mình được Thiên Chúa yêu thương là cái biết quan trọng để an tâm bước đi trong hành trình cuộc đời.

Con đường đi của Đức Maria cho thấy một hướng đi: Hãy tiến thêm một chút nữa trong tình yêu, rồi sẽ tìm kiếm Chúa trong tình yêu của Ngài. Và tình yêu ấy cao hơn là chỉ chờ đợi Chúa ban phước lành. Càng tiến lên, càng thấy Chúa tỏ lộ vinh quang của Ngài. “Từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc” (Lc 1, 48). Diễm phúc vì thấy vinh quang của Thiên Chúa toả sáng trong cuộc đời của mình, như người ta thường nói “các thánh là những người được ánh sáng vinh quang của Thiên Chúa chiếu qua”. Đức Maria là thế, ngay ở giai đoạn đầu của con đường tu đức đã là khởi sự con đường thánh và rất thánh.

Giai đoạn hai trong con đường linh đạo của Đức Maria là chiêm ngắm. Biết để chiêm ngắm, suy gẫm những biến cố xảy ra trong lịch sử và trong đời thường. Giai đoạn này cũng gọi là biết nhưng là cái biết già dặn thêm kinh nghiệm của tình yêu thương, cái biết để đổ rỗng cuộc đời của mình. Thánh Phanxicô Xavier nói về sự biết này như sau: “Kinh qua muôn vạn hiểm nguy chết người, học cho biết lòng Chúa yêu thương”. Học cho biết lòng Chúa yêu thương là biết bằng kinh nghiệm của cuộc đời đã trải qua và bằng các biến cố: “Đấng toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả, danh Người thật chí thánh chí tôn. … Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường. Kẻ đói nghèo Chúa ban của đầy dư, người giàu có, lại đuổi về tay trắng” (Lc 1, 49, 52 - 53). Lão Tử là người đồng thời với Khổng Tử nhưng lớn tuổi hơn Khổng Tử, đã sống triết lý của mình: “Khúc tắc toàn, uổng tắc trực, oa tắc doanh, tệ tắc tân, thiểu tắc đắc, đa tắc hoặc” (Lão Tử, Đạo Đức Kinh. Ch. 22 theo Nguyễn Duy Cần), “Cái khuyết lại tròn, Cái cong lại ngay, Cái sâu lại đầy, Cái cũ lại mới, Ít lại được, Nhiều lại mê”. Chiêm nghiệm như là cái biết đổ rỗng cuộc đời của mình, trở nên bé nhỏ trước cánh tay quyền năng của Thiên Chúa: “Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường”. Càng biết nhiều, con người lại càng trở nên khiêm tốn. Càng khiêm tốn con người càng thấy những điều kỳ diệu Thiên Chúa đã làm và đang làm. Con người đổ rỗng là con người hoàn toàn tín thác để sang giai đoạn ba.

Giai đoạn ba, giai đoạn xin vâng. “Xin Chúa cứ làm cho tôi” như một lời mạnh mẽ biểu lộ sự tín thác. Thiên Chúa đã làm những điều trọng đại và vẫn tiếp tục làm những điều trọng đại như thế trong lịch sử nhân loại. Không dễ tín thác như vậy đâu nếu đã chẳng trải qua hai chặng đường phía trước. Đức Maria là vị rất thánh thực sự khi can đảm xin thưa: “Xin cứ làm cho tôi” đó là kết quả của một con đường mà Khổng Tử nói tới “Biết đạo chẳng bằng ưa đạo, ưa đạo chẳng bằng vui với đạo”. Thái độ sẵn sàng như tuỳ thuộc hoàn toàn vào Thiên Chúa, đầy quả cảm của một con người quyết tâm tín thác vào Thiên Chúa. Đức Maria, thực là thày dạy nhân đức như lời kinh cầu Đức Bà người giáo hữu thường đọc. Hình ảnh của tiếng Xin Vâng đến tuyệt hảo là dưới chân Thập Giá nhìn cái chết của người con mà Đức Maria vẫn một lòng “Xin cứ làm cho tôi”. Xin Vâng của lần đầu là đón nhận một Người Con của Thiên Chúa, Xin Vâng của lần sau là phó thác Người Con ấy cho Thiên Chúa. Thiên Chúa ban cho, Thiên Chúa lấy lại, mọi sự đều tuỳ thuộc vào Thiên Chúa, chỉ có một điều: Để Ý Định yêu thương của Thiên Chúa được thực hiện “Vì loài người chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi…”. Lời Xin Vâng của Đức Maria trở thành niềm tin Kính của con người dâng lên Thiên Chúa và làm nhân chứng cho Tình Yêu của Người. Nhân loại có một người nữ thật tuyệt hảo để thay cho nhân loại tán tụng: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi” (Lc 1, 46 - 47)

Lão Tử nghiệm thấy: “Giang hải sở dĩ năng vi, bách cốc vuơng giả, dĩ kỳ thiên hạ chi” (Lão tử, Đạo Đức Kinh 66), Sở dĩ đại dương làm vua các sông ngòi bởi vì đại dương ở thấp hơn sông ngòi. Con đường tu đức Xin Vâng là thế đó “con đường đi xa khởi từ chỗ gần, con đường lên cao bắt đầu từ chỗ thấp”. Ai cũng có khả năng nên thánh, và hãy tận dụng khả năng ấy.

Thứ Bảy Tuần Thánh

Mùa Chay 2003

Điện Thánh mẫu Tân Hoà.