Phát ngôn viên
1. Hình ảnh Phát ngôn viên trong Kinh Thánh
Trong Thánh Kinh, có hai động từ thường được dùng để mô tả công việc của người rao giảng.
Thứ nhất là động từ kerussein (loan báo, công bố). Trong đời sống xã hội, kerussein chỉ hành động loan báo một sứ điệp của nhà vua cho dân chúng. Tương tự như thế, người rao giảng Lời Chúa là người phát ngôn của Thiên Chúa, loan báo sứ điệp Thiên Chúa muốn gửi gắm cho Dân Người: “Chúng tôi là sứ giả thay mặt Đức Kitô, như thể chính Thiên Chúa dùng chúng tôi mà khuyên dạy. Vậy, nhân danh Đức Kitô, chúng tôi nài xin anh em hãy làm hoà với Thiên Chúa” (2Cor 5,20). Trong công việc này, điều quan trọng nhất không phải là làm sao cho sứ điệp hấp dẫn người nghe nhưng là loan báo cách trung thực những gì mà nhà vua muốn chuyển tới dân chúng. Thánh Phaolô đã nhấn mạnh điều này ở nhiều nơi, ví dụ trong thư 1 Corintô, ngài viết: “Tôi nói, tôi giảng mà chẳng dùng lời lẽ khôn khéo hấp dẫn nhưng chỉ dựa vào bằng chứng xác thực của Thần Khí và quyền năng Thiên Chúa” (1Cor 2,4). (1)
Thứ hai là động từ euaggelizein (loan báo Tin Mừng). euaggelizein có ý nghĩa đặc biệt là loan tin thắng trận. Trong thời chiến, khi quân sĩ đang giao tranh với quân thù ngoài tiền tuyến, thì tại hậu phương Đức Vua và dân chúng mong ngóng đợi chờ người từ mặt trận trở về báo tin chiến thắng. euaggelion chính là hành động loan tin thắng trận. Từ Evangelium trong tiếng La tinh hàm chứa ý nghĩa này. Đó là Tin Mừng, là Phúc Am vì đó là lời loan báo Tin Mừng Chúa Kitô chiến thắng nhờ cuộc khổ nạn và sự Phục Sinh của Người.
2. Nền tảng thần học
Hàm chứa trong hình ảnh người phát ngôn là hai xác tín căn bản về mặt thần học.
“Tin Mừng mà chúng ta có trọng trách rao giảng cũng là Lời chân lý. Chân lý dẫn đến tự do (x. Ga 8,32) và cũng chỉ có chân lý mới đem lại bình an cho tâm hồn. Đó chính là những điều người ta tìm kiếm khi đến nghe chúng ta rao giảng Tin Mừng. Chân lý về Thiên Chúa, chân lý về con người và số phận huyền nhiệm của con người, chân lý về thế giới. Đó là những chân lý khó khăn mà chúng ta khám phá được nơi Lời Chúa, và chúng ta không phải là chủ, là người sở hữu, nhưng chỉ là người quản lý, người phát ngôn và đầy tớ phục vụ chân lý.
Xác tín thứ nhất: chính Chúa là Chủ sở hữu của Lời, chứ không phải người giảng. Trong dụ ngôn Những tá điền sát nhân (Mt 21, 33-43), tội của những tá điền này không phải là tội lười biếng mà là tội muốn chiếm đoạt quyền sở hữu của chủ: quên đi vị trí, căn tính của mình là tôi tớ, và chỉ muốn tự phong cho mình quyền làm chủ đến độ giết chết con trai ông chủ để chiếm đoạt quyền sở hữu. Đối chiếu với câu truyện Adam và Eva ăn trái cấm, xem ra vẫn chỉ là một dòng chảy và là cơn cám dỗ thường xuyên cho con người, cách riêng trong thời đại khoa học kỹ thuật ngày nay. Điểm đáng lưu ý là đối tượng Chúa Giêsu nhắm đến khi kể dụ ngôn này là những người lãnh đạo tôn giáo chứ không phải dân thường (x. Mt 21, 23). Như thế, chính các giám mục và linh mục, những người có trách nhiệm hướng dẫn cộng đoàn, cần đọc lại dụ ngôn này như lời cảnh giác cho mình.
Xác tín thứ hai là: chỉ có Lời Chúa mới là Chân lý tuyệt đối. Nhận định về những trở ngại cho đức tin trong thế giới ngày nay, Avery Dulles nói đến ba ngăn trở lớn: chủ nghĩa duy lịch sử, chủ nghĩa đa nguyên, và tâm thức thị trường tự do. Trước hết, chủ nghĩa duy lịch sử khiến cho con người không còn chấp nhận có chân lý nào là tuyệt đối, vì mọi sự đều thay đổi, kể cả những xác tín đã cắm rễ thật sâu, nay cũng bị lật nhào. Tiếp đến, các phương tiện truyền thông cho phép người ta tiếp cận vô vàn những tư tưởng khác, từ đó nghĩ rằng đức tin Kitô giáo cũng chỉ là một trong rất nhiều chọn lựa, do đó không mang tính tuyệt đối. Cuối cùng, thế giới hôm nay là thế giới của thị trường tự do. Về mặt tư tưởng cũng thế, tôn giáo và các hệ tư tưởng cũng bị biến thành thị trường cạnh tranh mua bán, và người ta cứ việc mua thứ tôn giáo nào hợp với sở thích của mình. (2)
Trong thế giới đó, hơn bao giờ hết, linh mục phải cùng với thánh Phêrô lập lại lời tuyên xưng: “Thưa Thày, bỏ Thày thì chúng con biết đến với ai? Chỉ có Thày mới có những lời ban sự sống đời đời” (Ga 6, 68).
3. Hình ảnh phát ngôn viên và những đòi hỏi đối với tác vụ rao giảng Lời Chúa
Rao giảng Lời Chúa cách trung thực và toàn vẹn
Nếu chân dung của linh mục giảng Lời Chúa được trình bày như người phát ngôn thì hiển nhiên, đòi hỏi quan trọng nhất là người phát ngôn phải làm sao chuyển tải sứ điệp của Thiên Chúa cách trung thực nhất: “Trong mọi trường hợp (sống chứng tá – kerygma – catechesis – nghiên cứu), phận sự của các linh mục không phải là giảng dạy sự thông biết của riêng mình nhưng là giảng dạy Lời Chúa và phải khẩn thiết mời gọi mọi người cải thiện và nên thánh.” (3) Đòi hỏi này đã được nhấn mạnh đặc biệt trong Tông huấn Loan Báo Tin Mừng:
Người ta mong đợi nhà rao giảng Tin Mừng phải tôn trọng chân lý, nhất là các chân lý mà họ đào sâu và truyền đạt không gì khác hơn là chân lý mạc khải, và trên hết mọi sự, đó là một phần của chân lý nguyên thủy tức là chính Thiên Chúa. Do đó, người rao giảng Tin Mừng phải là người dám hy sinh đến độ quên mình, và chấp nhận đau khổ để không ngừng tìm kiếm chân lý mà họ phải truyền đạt cho người khác. Người rao giảng không bao giờ được phản bội hay che đậy chân lý vì muốn làm vui lòng người nghe, vì muốn gây ngạc nhiên, vì muốn tạo nên sự hào hứng, hay vì muốn lập dị, háo danh. Người rao giảng không được chối bỏ chân lý, không làm lu mờ chân lý mạc khải vì lười biếng tìm kiếm, vì ngại phiền phức hay vì sợ hãi. Người rao giảng không được phép khinh thường việc nghiên cứu. Người đó phải phục vụ chân lý cách quảng đại và không bao giờ được phép bắt chân lý phục vụ mình.
Dựa trên giáo huấn trên, có hai nguy cơ mà người rao giảng có thể rơi vào: một là phản bội, hai là che đậy. Phản bội là hoàn toàn đi ngược lại ý muốn của Đấng đã sai ta đi rao giảng. Che đậy là cũng trình bày ý muốn của Đấng sai đi nhưng chỉ là trình bày một phần, không nói hết.
Đâu là những lý do dẫn đến tình trạng phản bội hay che giấu đó? Đức Phaolô VI đưa ra nhiều lý do về cả ba mặt: tri thức, tình cảm và ý chí. Về mặt tri thức, người rao giảng Lời Chúa có thể phản bội hoặc che đậy Lời Chúa vì lười biếng trong việc học hỏi, tìm kiếm, nghiên cứu. Về mặt ý chí, linh mục có thể phản bội hoặc che đậy Lời Chúa vì những nỗi sợ hãi: sợ làm mất lòng người nghe, sợ những người có quyền lực, sợ bị coi là cổ hủ, lỗi thời. Về mặt tình cảm, đôi khi vì háo danh, vì muốn làm những điều khác lạ, hay vì muốn làm vui tai người nghe, linh mục cũng có thể che đậy sứ điệp toàn vẹn của Lời Chúa. Thay vì công bố Lời Chúa thì chỉ công bố những tư tưởng, giới thiệu những đề tài hoặc kể những chuyện không liên hệ gì đến sứ điệp Tin Mừng. (4)
Tất cả đều là những lời cảnh giác và nhắc nhở rất cụ thể cho linh mục khi thi hành nhiệm vụ rao giảng Lời Chúa.
Rao giảng Lời của niềm vui và hi vọng
Cùng với động từ kerussein, Thánh Kinh dùng từ euaggelion để nói đến Tin Mừng mà linh mục có trách nhiệm công bố và giới thiệu. Vì là euaggelion nên lời rao giảng của linh mục phải là lời khuyến khích và nâng đỡ, ban tặng niềm vui và hi vọng. Điều đó không có nghĩa là người rao giảng phủ nhận thực tại của tội lỗi và không biết gì đến biết bao đau khổ đang dày xéo cuộc sống con người, nhưng là đặt tội lỗi trong một viễn tượng lớn hơn của ơn tha thứ và cứu độ, viễn tượng của niềm vui và hi vọng. Khi đối diện với người phụ nữ bị tố cáo đã phạm tội ngoại tình, Chúa Giêsu đã không phủ nhận tội lỗi chị đã phạm. Ngài nghiêm khắc với tội lỗi nhưng đồng thời ngài không chấp nhận để cho người ta khóa chặt chị lại trong quá khứ của tội lỗi; trái lại ngài tìm cách bảo vệ chị và mở cho chị cánh cửa đi về phía tương lai, tương lai của nếp sống hoán cải, tương lai của ơn tha thứ và hi vọng: “Con hãy về đi và từ nay đừng phạm tội nữa” (Ga 8, 11). Đó cũng là thái độ mà linh mục phải mang lấy khi thi hành nhiệm vụ rao giảng Lời Chúa cho anh em mình.
Kết luận
Sẽ không phải là thừa nếu nhắc lại ở đây những tâm tình mà thánh Phaolô đã căn dặn người môn đệ thân tín của ngài: “Hãy rao giảng Lời Chúa, hãy lên tiếng, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện; hãy biện bác, ngăm đe, khuyên nhủ, với tất cả lòng nhẫn nại và chủ tâm dạy dỗ. Thật vậy, sẽ đến thời người ta không còn chịu nghe giáo lý lành mạnh, nhưng theo những dục vọng của mình mà kiếm hết thày này đến thày nọ, bởi ngứa tai muốn nghe. Họ sẽ ngoảnh đi không nghe chân lý, nhưng hướng về những chuyện hoang đường. Phần anh, hãy thận trọng trong mọi sự, hãy chịu đựng đau khổ, làm công việc của người loan báo Tin Mừng và chu toàn chức vụ của anh” (2Tm 4, 2-5).
Chú thích:
(2) Avery Dulles, The New World of Faith, Indiana: Our Sunday Visitor Publishing Division, 2000, 13-15.
(3) Sắc lệnh về Chức Vụ và Đời Sống Linh Mục, số 4.
(4) Phaolo VI, Tông huấn Loan Báo Tin Mừng, số 78.