Năm nay, Ngày Valentine rơi vào trúng ngày Mồng Một Tết Canh Dần, khiến bầu không khí Tết tại các xã hội Tây Phương trở thành sinh động hẳn lên với cảnh tấp nập mua sắm, gửi quà tặng hoa sầm uất. Có lẽ cũng vì sự trùng hợp này, mà Trời Đất tại Úc Châu xem ra chiều lòng người hơn mọi khi bằng cách giảm nhiệt độ một cách đáng kể: ngày 30 tết, nhiệt độ tối đa chỉ là 24 độ bách phân, và ngày Mồng Một Tết, nhiệt độ ấy chỉ nhích lên chút đỉnh: 25 độ bách phân; không như những năm qua, có khi nhiệt độ ấy lên đến 42 độ bách phân.
Mỗi người nhìn Ngày Valentine một cách, riêng qúy ông, đây hẳn là một dịp để kiểm điểm hay kiểm nghiệm lại mối liên hệ của mình với “nửa phần tốt hơn”. Để giúp qúy ông làm việc này, Hãng Tin Zenit có làm một cuộc phỏng vấn với Rebecca Teti, một cộng tác viên thường xuyên của trang mạng www.faithandfamilylive.com, đồng thời là biên tập viên của Tập San Faith & Family Magazine và giữ mục Good Company cho Hãng Tin Catholic News Agency. Rebecca có gia đình, với 4 người con (3 trai, 1 gái). Bà dựa vào một cuộc thăm dò với các độc giả cũng như kinh nghiệm riêng để phát biểu về ngày này.
Nếu chỉ dựa vào quảng cáo báo chí, người ta có cảm tưởng điều mọi người phụ nữ mong muốn cho ngày 14 tháng Hai hằng năm chỉ là kim cương hay điện thoại di động. Thực ra, những tặng phẩm vật chất này có làm phụ nữ hạnh phúc không? Teti cho hay là có. Dĩ nhiên, quảng cáo bao giờ cũng cường điệu hóa hầu có thể bán được một số sản phẩm nào đó, nhưng nếu có chở theo một biểu tượng sâu sắc hơn như yêu thương, âu yếm hay biết đánh giá, thì tặng phẩm lúc nào cũng là điều đem lại hân hoan. Điều làm phật lòng phụ nữ là hàm ý của quảng cáo cho rằng họ chỉ biết sống cho quà cáp tặng phẩm, chỉ biết trân qúy quà cáp mắc tiền và biểu tượng yêu thương là điều có thể áp đặt được. Tuy nhiên, không vì thế mà ta quên mất cái tiền đề tích cực đòi ta phải biết tỏ cho người mình yêu rằng ta trân qúy họ, biết đánh giá họ. Của cải vật chất không có năng lực làm ta hạnh phúc nhưng quả chúng có làm cuộc sống thường ngày của ta ra dịu ngọt hơn. Ta không sống bởi cơm áo mà thôi, nhưng quả ta có sống nhờ cơm áo ấy.
Thế thì các phụ nữ Công Giáo chờ mong gì ở ngày Valentine năm nay? Teti cho hay phần đông các độc giả của bà chờ mong những niềm vui rất đơn giản: một tấm thiệp, một hộp xô-cô-la nhỏ, có thể là một bông hồng tươi. Một số bà mong có dịp được ăn mặc chải chuốt hơn để đi ra ngoài; nhưng không thiếu bà lại muốn có một buổi chiều thanh tĩnh trong gia đình. Bất cứ dưới hình thức nào, điều mọi phụ nữ có gia đình mong ước là thì giờ đồng hòa với người chồng thân yêu. Niềm mơ ước nói chung là được phá những lệ, những việc buồn tẻ hằng ngày để được dịp vui hưởng những giây phút bên nhau hai đứa.
Teti cho rằng câu hỏi “các bà vợ đặc biệt chờ mong gì nơi các phu quân?” là câu hỏi quá lớn. Bà chỉ dám có ý kiến về điều xem ra là cốt lõi của ngày Valentine. Bà cho hay nhờ “Thần Học Thân Xác” của Đức Gioan Phaolô II, Giáo Hội đã hiểu sâu sắc hơn bao giờ hết ý nghĩa của câu nói trong sách Sáng Thế: “Người dựng nên họ có nam có nữ”. Nói cách khác, người đàn ông và người đàn bà cùng nhau biểu lộ cho nhân loại hình ảnh của Thiên Chúa. Ơn gọi của người đàn bà là biểu lộ vẻ đẹp của Thiên Chúa cho nhân loại, cho thế giới. Người đàn bà được dựng nên để đẹp. Việc nền văn hóa của ta nhấn mạnh tới cái đẹp là điều không sai, nhưng sự nhấn mạnh ấy hết sức nông cạn và đôi khi khiến người ta lầm lẫn. Cách sâu sắc nhất để người đàn bà ra đẹp là lúc nàng cho người khác thấy chính sự tốt lành của họ bằng cách dạy họ tình yêu mà Thiên Chúa vốn dành cho họ. Thiên tài của phụ nữ nằm ở chỗ này: vén mở sự tốt lành của con người nhân bản, và do đó chính vẻ đẹp của Thiên Chúa. Điều Mẹ Têrêxa thành Calcutta làm cho người nghèo, mọi phụ nữ đều có thể làm trong môi trường của mình, và chắc chắn tại nhà mình, cho chồng cho con mình. Đó là “việc làm” thỏa mãn và hạnh phúc nhất của người đàn bà. Tuy nhiên, nơi mỗi người đàn bà, vẫn có cái nhu cầu xúc cảm muốn cảm thấy vẻ đẹp của mình được trân qúy, đánh giá. Bởi thế tặng phẩm đáng giá nhất mà người chồng có thể tặng vợ là đem đến cho nàng niềm xác tín hoàn toàn rằng dưới con mắt chàng nàng luôn luôn đẹp: bất chấp các vết nhăn, vết nám, các ký thừa ký dư vốn là hậu quả của thai nghén, của bao năm nấu nướng, chăm sóc người khác mà quên cả thân mình. Thiển nghĩ, đó mới là ý nghĩa thực sự của lãng mạn đối với phần đông các bà vợ: đó là dấu chỉ họ được đánh giá không phải chỉ là bà bếp, bà tài xế, bà quản gia hay bà giúp việc, mà là một người vợ.
Nhưng trong tư cách gia đình thì sao, người Công Giáo nên cử hành ngày Valentine như thế nào? Teti cho rằng về phương diện này, độc giả của Faith & Family có nhiều ý tưởng hay. Một số tìm tòi học hỏi các vị thánh có tên Valentine. Số khác dùng ngày này để nhớ đến những ai dễ bị bỏ quên bằng cách đem thiệp Valentine tới người bệnh hay người cao niên nằm một chỗ. Hầu như ai cũng nhân ngày này, trao đổi thiệp với các thành viên trong gia đình, mừng vui vì tình nghĩa yêu thương vốn dành cho nhau. Lẽ tất nhiên phải có những chiếc bánh ngọt hình trái tim.
Nhân dịp này, Teti cũng trả lời câu hỏi liên quan đến gốc gác Kitô Giáo của ngày lễ này. Thực ra không phải chỉ có một vị thánh, mà có tới vài ba vị mang tên Valentine, tất cả đều được phúc tử đạo thời Giáo Hội Tiên Khởi. Nhưng sở dĩ ngày lễ kính Thánh Valentine lôi cuốn được quảng đại quần chúng theo nghĩa lãng mạn như hiện nay một phần là nhờ Geoffrey Chaucer, tác giả bài thơ mô tả hôn lễ của Richard II với Anne nước Bohemia. Chaucer tôn vinh Thánh Valentine là quan thầy của hôn nhân. Trong bài thơ trên, Ông có nhắc tới hai thần tình yêu là Cupid và Venus. Từ đó, người ta thường đồng hóa Cupid với Thánh Valentine và ngày Valentine được liên tưởng với tình yêu cung đình tại các triều đình trung cổ.
Dĩ nhiên, ý nghĩa lãng mạn của yêu đương dần bị thoái hóa trở thành chỉ còn là tình ái nhục thân. Ngày nay, liệu có chỗ cho cả hai thứ ấy hay không? Theo Teti, Đạo Công Giáo không hề duy thanh khiết (puritanical). Cách tiếp cận của Công Giáo đối với văn hóa luôn luôn là tiếp nhận những gì lành mạnh và dùng sự thiện thắng vượt sự ác. Dĩ nhiên không cần phải cử hành Ngày Valentine; nó đâu phải là ngày lễ buộc! Nhưng đối với ai giữ ngày này, thì không có lý do nào lại không thể coi nó như một cơ hội để cử hành tình yêu nhân bản trong mọi chiều kích của nó, kể cả chiều kích lãng mạn và gợi dục (erotic), những chiều kích vốn được coi là quà phúc mà Thiên Chúa trao tặng cho các người chồng và người vợ.
Lịch sử Ngày Valentine
Lịch sử Ngày Valentine và của cả vị Thánh Quan Thầy của nó có nhiều bí ẩn. Ngày ấy mang nhiều dấu vết của cả hai truyền thống Kitô Giáo và La Mã thời xưa. Ngày nay, Giáo Hội Công Giáo nhìn nhận ít nhất 3 vị thánh có tên Valentine hay Valentinus, tất cả đều chết vì đạo.
Một truyền thuyết cho rằng Valentine là một linh mục tại Rôma, thuộc thế kỷ thứ 3. Lúc ấy, vì cho rằng các thanh niên độc thân phục vụ quân ngũ tốt hơn các người đã lập gia đình, nên Hoàng Đế Claudius II ra đạo luật cấm các thanh niên không được cưới vợ. Cho rằng điều đó bất công, linh mục Valentine bất chấp đạo luật trên và vẫn cử hành hôn lễ cho các thanh niên nam nữ một cách bí mật. Hành động của ngài bị bại lộ, do đó, ngài đã bị Claudius xử tử.
Nhiều truyện tích khác cho rằng Valentine có thể bị xử tử vì lý do đã giúp các Kitô hữu trốn khỏi các nhà tù ác nghiệt của Rôma, nơi họ bị đánh đập và tra tấn dã man. Theo một truyền thuyết khác, chính Valentine là người thực sự đã gửi bức thư tình ký tên Valentine mà ngày nay được thiên hạ gọi là “thư valentine”. Câu truyện như sau: khi bị giam tù, Valentine đem lòng yêu thương một cô gái, rất có thể là con gái viên cai ngục. Cô gái vào tù thăm ông luôn. Truyền thuyết cho rằng: trước khi bị hành hình, ông gửi cho cô gái một bức thư vỏn vẹn được ký bởi “Từ Valentine của em”, một kiểu kết thúc thư hiện nay được nhiều người sử dụng. Dù khó biết được thực hư trong các câu truyện trên đây, nhưng những câu truyện này đều nhấn mạnh tới hình ảnh một con người thiện cảm, anh hùng, và quan trọng nhất là lãng mạn. Không lạ gì đến thời Trung Cổ, Valentine trở thành vị thánh nổi tiếng nhất tại Anh và Pháp.
Dù một số người tin rằng Ngày Valentine được cử hành vào giữa tháng Hai để kỷ niệm ngày Thánh Valentine chết hay được chôn cất, một việc hình như đã xẩy ra khoảng năm 270, nhưng không thiếu người cho rằng Giáo Hội Kitô Giáo quyết định cử hành ngày lễ Thánh Valentine vào ngày 14 tháng Hai hằng năm là để rửa tội cho ngày lễ Lupercalia của ngoại giáo. Thời Rôma xưa, tháng Hai chính thức là tháng khởi đầu của Mùa Xuân và được coi là lúc thanh tẩy. Nhà cửa được thanh tẩy theo lễ nghi bằng cách quét dọn sạch sẽ rồi được rắc muối và một loại lúa mì đặc biệt khắp bên trong nhà. Lễ Lupercalia, bắt đầu vào giữa tháng Hai, tức ngày 15, là ngày lễ cầu mầu mỡ, dâng kính Faunus, thần nghề nông của người Rôma, và dâng kính hai ông tổ của thành này tức Romulus và Remus.
Để bắt đầu ngày lễ hội, thành viên của Luperci, một giai cấp tư tế của Rôma, tụ tập tại chiếc hang thánh nơi người ta tin rằng hai trẻ Romulus và Remus, ông tổ của Rôma, đã được một chó sói cái, tức lupa, nuôi dưỡng. Sau đó, các tư tế dâng hy lễ bằng một con dê để cầu mầu mỡ và một con chó để cầu thanh tẩy.
Sau đó, các bé trai cắt da dê thành từng giải, nhúng các giải này vào máu hiến tế và đem ra đường phố, chạm chúng nhẹ vào cả các phụ nữ lẫn hoa mầu. Các phụ nữ Rôma không những không sợ, còn thích được các giải da dê này đụng tới vì họ tin rằng các giải da dê ấy sẽ làm họ mắn đẻ hơn nữa trong năm tới. Cùng ngày đó, mọi thiếu nữ Rôma còn có lệ đặt tên mình trong một chiếc bình lớn. Các chàng trai độc thân của kinh thành mỗi người sẽ bốc tên một thiếu nữ nào đó, trúng tên ai, hai người sẽ cặp đôi suốt năm đó. Nhiều cặp sau đó đã cưới nhau. Khoảng năm 498, Đức Giáo Hoàng Gelasius tuyên bố ngày 14 tháng Hai là ngày lễ Thánh Valentine. Tục “sổ số” của người Rôma để chọn bạn bị coi là không hợp tinh thần Kitô Giáo và do đó đã bị ngăn cấm.
Thời Trung Cổ, nhất là tại Anh và Pháp, người ta tin rằng ngày 14 tháng Hai cũng là ngày bắt đầu mùa trống mái của chim chóc. Điều này càng làm tăng ý niệm coi ngày 14 tháng Hai, ngày Valentine, là ngày của tình yêu lãng mạn. Bài thơ valentine xưa nhất còn đến bây giờ là bài thơ của quận công Charles của Orleans viết gửi phu nhân khi ông bị giam tại Tháp London sau Trận Agincourt. Bức thư này, viết năm 1415, trở thành một phần của bộ thủ bản trong British Library tại London. Người ta cho rằng ít năm sau, Vua Henry V đã thuê một nhà văn tên John Lydgate viết một thư tình kiểu valentine gửi cho Catherine thành Valois.
Tại Anh, Ngày Valentine bắt đầu được cử hành một cách phổ thông khoảng thế kỷ 17. Đến giữa thế kỷ 18, bạn hữu và những người yêu nhau đã có thói quen trao đổi nhiều biểu hiệu yêu đương cũng như những thư ngắn tâm tình. Cuối thế kỷ đó, các thiệp in sẵn đã thay thế cho các thư viết tay nhờ tiến bộ của kỹ thuật in. Các tấm thiệp in sẵn này là phương thế dễ dàng để người ta biểu lộ xúc cảm vào thời việc trực tiếp nói ra các xúc cảm bản thân ấy không được khích lệ. Lệ phí bưu điện rẻ cũng góp phần gia tăng tính phổ thông của việc gửi thiệp valentine. Người Mỹ bắt đầu trao đổi lời chúc valentine viết tay có lẽ vào đầu thập niên 1700. Đến thập niên 1800, Esther A. Howland bắt đầu cho sản xuất và bày bán hàng loạt các thiệp valentine tại Hoa Kỳ.
Theo Hiệp Hội Thiệp Chúc (Greeting Card Association), ước lượng có đến một tỷ thiệp valentine được trao đổi hàng năm, biến Ngày Valentine thành ngày lễ gửi thiệp chúc mừng nhiều thứ nhì trong năm. Vì trong Lễ Giáng Sinh, ước lượng có tới 2.6 tỷ thiệp chúc mừng được trao đổi. Khoảng 85 phần trăm thiệp valentine được phụ nữ mua. Ngoài Mỹ ra, Ngày Valentine còn được mừng tại Gia Nã Đại, Mễ Tây Cơ, Anh, Pháp và Úc.
Mỗi người nhìn Ngày Valentine một cách, riêng qúy ông, đây hẳn là một dịp để kiểm điểm hay kiểm nghiệm lại mối liên hệ của mình với “nửa phần tốt hơn”. Để giúp qúy ông làm việc này, Hãng Tin Zenit có làm một cuộc phỏng vấn với Rebecca Teti, một cộng tác viên thường xuyên của trang mạng www.faithandfamilylive.com, đồng thời là biên tập viên của Tập San Faith & Family Magazine và giữ mục Good Company cho Hãng Tin Catholic News Agency. Rebecca có gia đình, với 4 người con (3 trai, 1 gái). Bà dựa vào một cuộc thăm dò với các độc giả cũng như kinh nghiệm riêng để phát biểu về ngày này.
Nếu chỉ dựa vào quảng cáo báo chí, người ta có cảm tưởng điều mọi người phụ nữ mong muốn cho ngày 14 tháng Hai hằng năm chỉ là kim cương hay điện thoại di động. Thực ra, những tặng phẩm vật chất này có làm phụ nữ hạnh phúc không? Teti cho hay là có. Dĩ nhiên, quảng cáo bao giờ cũng cường điệu hóa hầu có thể bán được một số sản phẩm nào đó, nhưng nếu có chở theo một biểu tượng sâu sắc hơn như yêu thương, âu yếm hay biết đánh giá, thì tặng phẩm lúc nào cũng là điều đem lại hân hoan. Điều làm phật lòng phụ nữ là hàm ý của quảng cáo cho rằng họ chỉ biết sống cho quà cáp tặng phẩm, chỉ biết trân qúy quà cáp mắc tiền và biểu tượng yêu thương là điều có thể áp đặt được. Tuy nhiên, không vì thế mà ta quên mất cái tiền đề tích cực đòi ta phải biết tỏ cho người mình yêu rằng ta trân qúy họ, biết đánh giá họ. Của cải vật chất không có năng lực làm ta hạnh phúc nhưng quả chúng có làm cuộc sống thường ngày của ta ra dịu ngọt hơn. Ta không sống bởi cơm áo mà thôi, nhưng quả ta có sống nhờ cơm áo ấy.
Thế thì các phụ nữ Công Giáo chờ mong gì ở ngày Valentine năm nay? Teti cho hay phần đông các độc giả của bà chờ mong những niềm vui rất đơn giản: một tấm thiệp, một hộp xô-cô-la nhỏ, có thể là một bông hồng tươi. Một số bà mong có dịp được ăn mặc chải chuốt hơn để đi ra ngoài; nhưng không thiếu bà lại muốn có một buổi chiều thanh tĩnh trong gia đình. Bất cứ dưới hình thức nào, điều mọi phụ nữ có gia đình mong ước là thì giờ đồng hòa với người chồng thân yêu. Niềm mơ ước nói chung là được phá những lệ, những việc buồn tẻ hằng ngày để được dịp vui hưởng những giây phút bên nhau hai đứa.
Teti cho rằng câu hỏi “các bà vợ đặc biệt chờ mong gì nơi các phu quân?” là câu hỏi quá lớn. Bà chỉ dám có ý kiến về điều xem ra là cốt lõi của ngày Valentine. Bà cho hay nhờ “Thần Học Thân Xác” của Đức Gioan Phaolô II, Giáo Hội đã hiểu sâu sắc hơn bao giờ hết ý nghĩa của câu nói trong sách Sáng Thế: “Người dựng nên họ có nam có nữ”. Nói cách khác, người đàn ông và người đàn bà cùng nhau biểu lộ cho nhân loại hình ảnh của Thiên Chúa. Ơn gọi của người đàn bà là biểu lộ vẻ đẹp của Thiên Chúa cho nhân loại, cho thế giới. Người đàn bà được dựng nên để đẹp. Việc nền văn hóa của ta nhấn mạnh tới cái đẹp là điều không sai, nhưng sự nhấn mạnh ấy hết sức nông cạn và đôi khi khiến người ta lầm lẫn. Cách sâu sắc nhất để người đàn bà ra đẹp là lúc nàng cho người khác thấy chính sự tốt lành của họ bằng cách dạy họ tình yêu mà Thiên Chúa vốn dành cho họ. Thiên tài của phụ nữ nằm ở chỗ này: vén mở sự tốt lành của con người nhân bản, và do đó chính vẻ đẹp của Thiên Chúa. Điều Mẹ Têrêxa thành Calcutta làm cho người nghèo, mọi phụ nữ đều có thể làm trong môi trường của mình, và chắc chắn tại nhà mình, cho chồng cho con mình. Đó là “việc làm” thỏa mãn và hạnh phúc nhất của người đàn bà. Tuy nhiên, nơi mỗi người đàn bà, vẫn có cái nhu cầu xúc cảm muốn cảm thấy vẻ đẹp của mình được trân qúy, đánh giá. Bởi thế tặng phẩm đáng giá nhất mà người chồng có thể tặng vợ là đem đến cho nàng niềm xác tín hoàn toàn rằng dưới con mắt chàng nàng luôn luôn đẹp: bất chấp các vết nhăn, vết nám, các ký thừa ký dư vốn là hậu quả của thai nghén, của bao năm nấu nướng, chăm sóc người khác mà quên cả thân mình. Thiển nghĩ, đó mới là ý nghĩa thực sự của lãng mạn đối với phần đông các bà vợ: đó là dấu chỉ họ được đánh giá không phải chỉ là bà bếp, bà tài xế, bà quản gia hay bà giúp việc, mà là một người vợ.
Nhưng trong tư cách gia đình thì sao, người Công Giáo nên cử hành ngày Valentine như thế nào? Teti cho rằng về phương diện này, độc giả của Faith & Family có nhiều ý tưởng hay. Một số tìm tòi học hỏi các vị thánh có tên Valentine. Số khác dùng ngày này để nhớ đến những ai dễ bị bỏ quên bằng cách đem thiệp Valentine tới người bệnh hay người cao niên nằm một chỗ. Hầu như ai cũng nhân ngày này, trao đổi thiệp với các thành viên trong gia đình, mừng vui vì tình nghĩa yêu thương vốn dành cho nhau. Lẽ tất nhiên phải có những chiếc bánh ngọt hình trái tim.
Nhân dịp này, Teti cũng trả lời câu hỏi liên quan đến gốc gác Kitô Giáo của ngày lễ này. Thực ra không phải chỉ có một vị thánh, mà có tới vài ba vị mang tên Valentine, tất cả đều được phúc tử đạo thời Giáo Hội Tiên Khởi. Nhưng sở dĩ ngày lễ kính Thánh Valentine lôi cuốn được quảng đại quần chúng theo nghĩa lãng mạn như hiện nay một phần là nhờ Geoffrey Chaucer, tác giả bài thơ mô tả hôn lễ của Richard II với Anne nước Bohemia. Chaucer tôn vinh Thánh Valentine là quan thầy của hôn nhân. Trong bài thơ trên, Ông có nhắc tới hai thần tình yêu là Cupid và Venus. Từ đó, người ta thường đồng hóa Cupid với Thánh Valentine và ngày Valentine được liên tưởng với tình yêu cung đình tại các triều đình trung cổ.
Dĩ nhiên, ý nghĩa lãng mạn của yêu đương dần bị thoái hóa trở thành chỉ còn là tình ái nhục thân. Ngày nay, liệu có chỗ cho cả hai thứ ấy hay không? Theo Teti, Đạo Công Giáo không hề duy thanh khiết (puritanical). Cách tiếp cận của Công Giáo đối với văn hóa luôn luôn là tiếp nhận những gì lành mạnh và dùng sự thiện thắng vượt sự ác. Dĩ nhiên không cần phải cử hành Ngày Valentine; nó đâu phải là ngày lễ buộc! Nhưng đối với ai giữ ngày này, thì không có lý do nào lại không thể coi nó như một cơ hội để cử hành tình yêu nhân bản trong mọi chiều kích của nó, kể cả chiều kích lãng mạn và gợi dục (erotic), những chiều kích vốn được coi là quà phúc mà Thiên Chúa trao tặng cho các người chồng và người vợ.
Lịch sử Ngày Valentine
Lịch sử Ngày Valentine và của cả vị Thánh Quan Thầy của nó có nhiều bí ẩn. Ngày ấy mang nhiều dấu vết của cả hai truyền thống Kitô Giáo và La Mã thời xưa. Ngày nay, Giáo Hội Công Giáo nhìn nhận ít nhất 3 vị thánh có tên Valentine hay Valentinus, tất cả đều chết vì đạo.
Một truyền thuyết cho rằng Valentine là một linh mục tại Rôma, thuộc thế kỷ thứ 3. Lúc ấy, vì cho rằng các thanh niên độc thân phục vụ quân ngũ tốt hơn các người đã lập gia đình, nên Hoàng Đế Claudius II ra đạo luật cấm các thanh niên không được cưới vợ. Cho rằng điều đó bất công, linh mục Valentine bất chấp đạo luật trên và vẫn cử hành hôn lễ cho các thanh niên nam nữ một cách bí mật. Hành động của ngài bị bại lộ, do đó, ngài đã bị Claudius xử tử.
Nhiều truyện tích khác cho rằng Valentine có thể bị xử tử vì lý do đã giúp các Kitô hữu trốn khỏi các nhà tù ác nghiệt của Rôma, nơi họ bị đánh đập và tra tấn dã man. Theo một truyền thuyết khác, chính Valentine là người thực sự đã gửi bức thư tình ký tên Valentine mà ngày nay được thiên hạ gọi là “thư valentine”. Câu truyện như sau: khi bị giam tù, Valentine đem lòng yêu thương một cô gái, rất có thể là con gái viên cai ngục. Cô gái vào tù thăm ông luôn. Truyền thuyết cho rằng: trước khi bị hành hình, ông gửi cho cô gái một bức thư vỏn vẹn được ký bởi “Từ Valentine của em”, một kiểu kết thúc thư hiện nay được nhiều người sử dụng. Dù khó biết được thực hư trong các câu truyện trên đây, nhưng những câu truyện này đều nhấn mạnh tới hình ảnh một con người thiện cảm, anh hùng, và quan trọng nhất là lãng mạn. Không lạ gì đến thời Trung Cổ, Valentine trở thành vị thánh nổi tiếng nhất tại Anh và Pháp.
Dù một số người tin rằng Ngày Valentine được cử hành vào giữa tháng Hai để kỷ niệm ngày Thánh Valentine chết hay được chôn cất, một việc hình như đã xẩy ra khoảng năm 270, nhưng không thiếu người cho rằng Giáo Hội Kitô Giáo quyết định cử hành ngày lễ Thánh Valentine vào ngày 14 tháng Hai hằng năm là để rửa tội cho ngày lễ Lupercalia của ngoại giáo. Thời Rôma xưa, tháng Hai chính thức là tháng khởi đầu của Mùa Xuân và được coi là lúc thanh tẩy. Nhà cửa được thanh tẩy theo lễ nghi bằng cách quét dọn sạch sẽ rồi được rắc muối và một loại lúa mì đặc biệt khắp bên trong nhà. Lễ Lupercalia, bắt đầu vào giữa tháng Hai, tức ngày 15, là ngày lễ cầu mầu mỡ, dâng kính Faunus, thần nghề nông của người Rôma, và dâng kính hai ông tổ của thành này tức Romulus và Remus.
Để bắt đầu ngày lễ hội, thành viên của Luperci, một giai cấp tư tế của Rôma, tụ tập tại chiếc hang thánh nơi người ta tin rằng hai trẻ Romulus và Remus, ông tổ của Rôma, đã được một chó sói cái, tức lupa, nuôi dưỡng. Sau đó, các tư tế dâng hy lễ bằng một con dê để cầu mầu mỡ và một con chó để cầu thanh tẩy.
Sau đó, các bé trai cắt da dê thành từng giải, nhúng các giải này vào máu hiến tế và đem ra đường phố, chạm chúng nhẹ vào cả các phụ nữ lẫn hoa mầu. Các phụ nữ Rôma không những không sợ, còn thích được các giải da dê này đụng tới vì họ tin rằng các giải da dê ấy sẽ làm họ mắn đẻ hơn nữa trong năm tới. Cùng ngày đó, mọi thiếu nữ Rôma còn có lệ đặt tên mình trong một chiếc bình lớn. Các chàng trai độc thân của kinh thành mỗi người sẽ bốc tên một thiếu nữ nào đó, trúng tên ai, hai người sẽ cặp đôi suốt năm đó. Nhiều cặp sau đó đã cưới nhau. Khoảng năm 498, Đức Giáo Hoàng Gelasius tuyên bố ngày 14 tháng Hai là ngày lễ Thánh Valentine. Tục “sổ số” của người Rôma để chọn bạn bị coi là không hợp tinh thần Kitô Giáo và do đó đã bị ngăn cấm.
Thời Trung Cổ, nhất là tại Anh và Pháp, người ta tin rằng ngày 14 tháng Hai cũng là ngày bắt đầu mùa trống mái của chim chóc. Điều này càng làm tăng ý niệm coi ngày 14 tháng Hai, ngày Valentine, là ngày của tình yêu lãng mạn. Bài thơ valentine xưa nhất còn đến bây giờ là bài thơ của quận công Charles của Orleans viết gửi phu nhân khi ông bị giam tại Tháp London sau Trận Agincourt. Bức thư này, viết năm 1415, trở thành một phần của bộ thủ bản trong British Library tại London. Người ta cho rằng ít năm sau, Vua Henry V đã thuê một nhà văn tên John Lydgate viết một thư tình kiểu valentine gửi cho Catherine thành Valois.
Tại Anh, Ngày Valentine bắt đầu được cử hành một cách phổ thông khoảng thế kỷ 17. Đến giữa thế kỷ 18, bạn hữu và những người yêu nhau đã có thói quen trao đổi nhiều biểu hiệu yêu đương cũng như những thư ngắn tâm tình. Cuối thế kỷ đó, các thiệp in sẵn đã thay thế cho các thư viết tay nhờ tiến bộ của kỹ thuật in. Các tấm thiệp in sẵn này là phương thế dễ dàng để người ta biểu lộ xúc cảm vào thời việc trực tiếp nói ra các xúc cảm bản thân ấy không được khích lệ. Lệ phí bưu điện rẻ cũng góp phần gia tăng tính phổ thông của việc gửi thiệp valentine. Người Mỹ bắt đầu trao đổi lời chúc valentine viết tay có lẽ vào đầu thập niên 1700. Đến thập niên 1800, Esther A. Howland bắt đầu cho sản xuất và bày bán hàng loạt các thiệp valentine tại Hoa Kỳ.
Theo Hiệp Hội Thiệp Chúc (Greeting Card Association), ước lượng có đến một tỷ thiệp valentine được trao đổi hàng năm, biến Ngày Valentine thành ngày lễ gửi thiệp chúc mừng nhiều thứ nhì trong năm. Vì trong Lễ Giáng Sinh, ước lượng có tới 2.6 tỷ thiệp chúc mừng được trao đổi. Khoảng 85 phần trăm thiệp valentine được phụ nữ mua. Ngoài Mỹ ra, Ngày Valentine còn được mừng tại Gia Nã Đại, Mễ Tây Cơ, Anh, Pháp và Úc.