Đức Bênêđíctô XVI đã khôi phục sự liên lập hỗ tương giữa đức tin và lý trí, lấy nó làm chủ đề chính cho triều đại của mình. Tuy nhiên, không nhà bình luận nào đã hiểu rõ sự liên lập đã được Đức Thánh Cha khôi phục bằng cha James Schall, Dòng Tên. Vốn là một giáo sư triết học chính trị tại Đại Học Georgetown, Cha Schall đã viết một cuốn bình luận về bài diễn văn Regensberg của Đức Bênêđíctô XVI. Bài diễn văn ấy từng gây xôn xao dư luận quốc tế vì đã nhắc tới sự hiện diện của bạo lực trong truyền thống Hồi Giáo, nhưng các chủ đề chủ chốt của bài diễn văn có liên quan tới mối liên hệ giữa đức tin và lý trí thì cần phải có những người viết như Cha Schall mới làm sáng tỏ được.

Nay, Cha Schall lại cho ra đời một tác phẩm khác tựa là “Tâm Thức Công Giáo: Các Tiểu Luận Triết Lý và Chính Trị” (The Mind That Is Catholic: Philosophical and Political Essays) do CUA Press xuất bản. Cuốn sách này khảo sát các phong thái hiện sinh giúp người ta sử dụng hai phương thế đức tin và lý trí để tìm tòi mọi sự vật từ hữu hình tới vô hình.

Trong một cuộc phỏng vấn dành cho hãng tin Zenit, Cha Schall cho hay làm thế nào ai cũng có thể có một tâm tư Công Giáo đích thực, chứ không hẳn chỉ là các triết gia hay thần học gia chuyên nghiệp. Vậy đâu là các yếu tố chủ chốt để có được tâm tư này? Theo Cha Schall, tâm tư ta chỉ là Công Giáo khi biết mở cửa đón nhận một nguồn tín liệu, kể cả những nguồn đến từ Mạc Khải. Mạc Khải không hề mâu thuẫn với lý trí như thể là một nguồn mù quáng nào đó. Mạc khải có tính khả tri (intelligibily) riêng của nó mà ta có thể nắm bắt, so sánh và bàn bạc với những điều ta vốn biết bằng lý trí. Đạo Công Giáo không định nghĩa lý trí như thể nó chỉ là một lý trí tuân theo một phương pháp học mà các hạn từ giữ vai trò quyết định điều ta được phép nhìn hay xem sét.

Ngược lại, chúng ta định nghĩa tâm trí như một khả năng biết mở cửa đón nhận bất cứ những gì có thật, hiện hữu thật. Trong tư cách hữu thể nhân bản, chúng ta không phải là thần thánh. Nhưng chúng ta biết nhận thức và đối tượng nhận thức của ta chính là sự vật có thật. Một trong các đặc điểm của một tâm thức Công Giáo là nhấn mạnh rằng mọi sự có thể nhận thức được đều sẵn có đó để ta xem sét trong các suy tư của ta về thực tại.

Liệu có những điểm khác biệt rõ rệt nào giữa tâm thức Công Giáo và tâm thức Thệ Phản hay tâm thức thế tục không? Cha Schall cho hay: theo Đức Cha Robert Sokolowski (giáo sư triết Đại Học Công Giáo America), phương pháp của triết học là phân biệt. Nên điều dễ hiểu là cả tâm thức Thệ Phản lẫn tâm thức thế tục đều cố gắng làm cho mình khác biệt với tâm thức Công Giáo. Nếu không có ai nghĩ rằng giữa ba tâm thức ấy không hề có sự khác biệt nào, chẳng hóa ra Công Giáo, Thệ Phản và chủ nghĩa thế tục chỉ là một hay sao? Tuy nhiên ta không thể bác bỏ được việc cả ba đều có những điểm chung.

Phương pháp của Thánh Tôma Aquinô giúp ta tìm ra các điểm nhất trí và khác biệt ấy. Thánh nhân hay nhắc lại lời bình luận của Aristốt: “một lầm lỗi nhỏ lúc ban đầu sẽ dẫn tới một lầm lỗi lớn lúc kết thúc”

Phong trào đại kết cũng từng cố gắng tìm ra các điểm nhất trí. Và phong trào này đã tìm ra nhiều điểm như thế. Nhưng hình như lầm lỗi vẫn còn và tiếp tục lớn mạnh. Trong một tiểu luận tựa là “Thệ Phản và Vô Thần” (Protestantism and Atheism), đăng trong tạp chí "Thought," số 39, tháng Mười Hai năm 1964, Cha Schall cũng từng nhắc tới tầm quan trọng của lý trí đối với Đạo Công Giáo. Và điều ấy đã được Đức Bênêđíctô XVI long trọng xác nhận trong bài diễn văn đọc tại Regensberg. Năm ấy, Cha Schall nghĩ rằng Thệ Phản dẫn người ta tới chủ nghĩa vô thần vì nó làm thế giới bay hết ý nghĩa và chỉ còn nhấn mạnh tới mạc khải mà thôi. Theo định đề của Aristốt, một khi thế giới vắng bóng lý trí, người ta rất dễ kết luận rằng Thiên Chúa không còn hiện diện trong thế giới ấy nữa, theo bất cứ ý nghĩa nào. Theo chiều suy tư từ nguồn hiện hũu, chính tâm thức Thánh Tôma Aquinô đã nhấn mạnh rằng ta thực sự khám phá ra thực tại trong chính các sự vật đang hiện hữu, nhưng các sự vật này không tạo ra chính sự hiện hữu của mình.

Căn cứ vào đó, ta có thể chứng minh được sự hiện hữu của Thiên Chúa, đến nỗi, khi mạc khải xẩy ra, thì mạc khải này sẽ khả tri đối với chúng ta như là một giải đáp cho sự kiện ta thiếu nhận thức về các điều tối hậu.

Về các phong thái hay các thực hành giúp ta đào tạo và duy trì một tâm thức Công Giáo, Cha Schall cho hay một trong các thực hành rất tốt là tìm biết Aristốt, một tâm thức vĩ đại mà theo Cha Schall chính là một tâm thức “Công Giáo” trước khi có Đạo Công Giáo. Nói như thế không có nghĩa Đạo Công Giáo chỉ là để biết điều tâm trí nhân bản có thể tự mình biết được. Trong ý hướng này, tâm thức Công Giáo phải là cái gì hơn công giáo nữa. Nói cách khác, ta không thể là người Công Giáo nếu ta chỉ là công giáo. Nói cho cùng, điều đặc thù trong Đạo Công Giáo không chống lại lý trí, nhưng thực ra bổ túc cho lý trí. Chính Aristốt đã cảnh cáo chúng ta rằng lý do ta không chấp nhận chân lý ngay cả khi chân lý ấy được trình bày với ta là vì thực ra ta không muốn biết chân lý ấy mà thôi. Vì biết nó, ta buộc phải thay đổi lối sống, lối suy nghĩ của mình. Và nếu đã không muốn thay đổi lối sống, lối suy nghĩ của mình, ta sẽ sáng chế ra một thứ “lý thuyết” nào đó để sống, để suy nghĩ không cần tới chân lý.

Nói tóm lại, nguồn “đệ nhất đẳng” của tâm thức Công Giáo chính là thực tại, trong đó có thực tại mạc khải. Trước hết và trên hết, ta không phải là học trò của điều người khác nghĩ, mà là học trò của điều có thật, hiện hữu thật. Chính bởi thế, người tầm thường và người vô học không bị loại khỏi tâm thức Công Giáo.

Nguồn nhận thức của ta không phải là một cuốn sách mà là kinh nghiệm hiện hữu và kinh nghiệm sống, một kinh nghiệm thường cũng bao gồm những người mà cuộc đời từng được ơn thánh tác động. Bởi thế tâm thức Công Giáo tìm đọc mọi người từ Justin Tử Đạo, tới Tôma Aquinô và Bênêđictô XVI. Nhưng các vị này không dẫn họ tới chính các vị mà là tới chân lý.

Thành thử, đối với Cha Schall, thực hành quan trọng nhất là nhìn nhận chân lý khi ta gặp nó. Điều này bao hàm cả việc lý trí và ơn thánh không phải là một, nhưng cũng không mâu thuẫn nhau.

Đối với hệ thống giáo dục Công Giáo hiện nay, Cha Schall cho rằng học trình cũng như tinh thần tại các trường Công Giáo hiện nay bị nhiều người phê phán là đi trệch ra ngoài truyền thống tâm thức đặc thù Công Giáo. Tâm thức ấy đòi phải có kỷ luật, chuyên cần và đức hạnh.

Trong thế giới hiện đại, ta thấy không có nhóm nào thiếu vinh quang về tâm thức hơn người trẻ Công Giao. Cho nên những thiểu số nào biết chỉnh trang về phương diện này quả là đáng lưu ý. Các định chế giáo dục cao đẳng hiện đã từ bỏ nét đặc thù của chính mình và các lý do từng khiến họ tạo ra các đại học Công Giáo. Cái nguồn đã mất đi ấy chính là sức sống tích cực của tâm thức Công Giáo, không được coi chỉ như một hiện tượng lịch sử hay chủ nghĩa tranh đấu xã hội, mà như một tìm kiếm và một chứng tá cho sự thật, cho chân lý, một chân lý mà mọi tâm thức đều phải hướng về.

Trong số những nhân vật hiện đại, Cha Schall nêu một số người được coi như hiện thân của tâm thức Công Giáo đúng nghĩa. Đứng đầu là Chesterton và E. F. Schumacher. Cha cũng cho rằng Đức Đương Kim Giáo Hoàng và vị tiền nhiệm của ngài đều là những kỳ công của tâm thức Công Giáo, một tâm thức nắm bắt mọi sự, nhưng dưới ánh sáng của ơn thánh và mạc khải. Còn về các định chế, Cha Schall cho rằng phân khoa triết học tại Đại Học Công Giáo America là một nguồn suối bất tận của khôn ngoan và tri thức nghiêm minh. Cha cho rằng ít có định chế nào được như thế, nhưng trong số các giáo sư tại đây, Cha rất khâm phục Đức Ông Sokolowski, tác giả một cuốn sách vừa được xuất bản tựa là “Hiện Tượng Luận về Con Người Nhân Bản” (The Phenomenology of the Human Person), được coi như tâm thức Công Giáo trong hành động; đây là một tâm thức biết rõ lý trí và các giới hạn cũng như tầm với của nó. Lý do tại sao các vị trên này và nhiều tư tưởng gia khác được coi là hiện thân của tâm thức Công Giáo? Theo cha Schall đó chính là vì họ xem sét mọi sự. Nét đặc thù đối với Đạo Công Giáo phải là việc từ khước loại bỏ bất cứ điều gì. Trong cuốn bình luận “Bài Diễn Văn Regensberg” (The Regensburg Lecture), Cha hết sức thán phục phạm vi bao la trong tâm trí Đức Đương Kim Giáo Hoàng. Nói một cách đơn giản, không có một tâm trí ở bất cứ đại học hay định chế công nào có thể so sánh được với tâm trí của Đức Bênêđictô XVI. Nhưng trên thực tế, ngài lại là một người khiêm hạ.

Đối với thế giới và đôi khi đối với các nhà “trí thức” Công Giáo, quả là bối rối khi thấy tâm trí thông minh nhất của mình ngự trên Tòa Phêrô. Cha cho rằng sự sâu sắc trí thức của vị giáo hoàng này quả là một trò nhạo cười nho nhỏ của Thiên Chúa gửi cho tâm thức hiện đại. Tâm thức này đã tự dựng cho mình nhiều lý thuyết và ý thức hệ để tự ngăn ngừa mình khỏi nhìn thấy sự thật mà một người như Đức Bênêđíctô XVI đã chỉ ra cho họ bằng những lời lẽ khúc chiết và luận bác chắc chắc nhất, những lời lẽ mà nền triết lý hiện đại rất biết và rất quen thuộc. Nhưng Đức Bênêđíctô XVI là sứ giả của Ngôi Lời. Chúng ta không đi quanh tâm trí ngài, chúng ta hình như đang không chịu xem sét tâm trí ấy.

Cha Schall nhấn mạnh thêm rằng: tâm thức Công Giáo không dành riêng cho các triết gia, các thần học gia và nói chung, các nhà trí thức mà thôi. Nó là điều mà người Công Giáo nào cũng phải theo đuổi, cũng phải mưu cầu. Bởi nét đặc thù trong mạc khải Kitô Giáo là mạc khải này dành cho mọi người, trong đó có các triết gia.

Chính Aristốt cũng đã thừa nhận rằng mọi tâm trí đều mở cửa đón nhận thực tại và do đó có thể biết điều gì là chân lý, dĩ nhiên có thể không tường tận. Nhưng hồ sơ của các triết gia và thần học gia trong phạm vi này cũng chả có chi là ấn tượng cả. Từ lời khuyên của Thánh Phaolô cho đến nay, ta từng phải quan tâm tới các thiệt hại do các triết gia gây cho người tầm thường. Đó chính là điểm được Socrates tranh luận với phe Ngụy Biện.

Kitô Giáo chưa bao giờ phong thánh nhiều cho các học giả. Hẳn ai cũng nhớ câu nhận xét của Đức Hồng Y von Schönborn rằng: Thánh Tôma Aquinô là người duy nhất được phong thánh nhờ suy nghĩ! Thực vậy, tai hại lớn lao có thể xẩy tới và thực sự đã xẩy tới cho những con người bé nhỏ tầm thường qua các lầm lạc của các triết gia. Ta cần phải lưu ý điều ấy.

Tuy nhiên, Đạo Công Giáo rất cần, rất muốn có và rất hân hoan nơi các nhà tư tưởng của mình. Người ta vẫn cho rằng chức năng của thầy cô là dẫn học trò tới gặp các tâm trí khác nơi họ có thể tìm ra chân lý. Nhưng chân lý không hiện diện trong sách vở. Nó hiện diện trong đàm thoại, nó hiện diện trong việc tích cực suy tư về điều có thật, điều đang hiện hữu.

Đạo Công Giáo biết tất cả mọi thứ và mọi nguồn nhận thức ùa vào tâm trí mình, mà một trong các nguồn ấy, nguồn đệ nhất đẳng làm nó thành độc đáo, chính là mạc khải. Nhưng đó là một mạc khải biết dùng chính lời lẽ của mình mà nói truyện với lý trí tích cực. Cả điểm đó nữa cũng thuộc tâm thức Công Giáo.

Có người cho rằng triết học được hoàn hợp trong phụng vụ. Điều này có nghĩa gì và các bí tích cũng như cuộc sống linh đạo đóng góp ra sao đối với tâm thức Công Giáo? Cha Schall cho hay người nói câu đó là Catherine Pickstocks, tác giả bài “Sau Khi Viết: Sự Hoàn Hợp Phụng Vụ của Triết Học” (After Writing: The Liturgical Consummation of Philosophy). Trong chiều hướng này, Cha Schall cũng có một bài tựa là “Thờ Phượng và Triết Học Chính Trị” (Worship and Political Philosophy). Ý tưởng chủ chốt là triết học không kết thúc nơi ý niệm hay hệ thống mà là nơi thực tại là điều vốn giải thích mọi sự. Quan điểm này bắt nguồn từ chính bộ “Luật” của Platông, trong đó, ông viết một câu hết sức ý nhị: ta nên sống cuộc sống mình trong “ca hát, hiến tế và nhẩy múa”. Đó chính là “phụng vụ”. Tuy nhiên, điểm đặc thù đối với Đạo Công Giáo là trong đó có một điều mà nhân loại đã hoài công tìm kiếm xưa nay đó là cách xứng hợp để thờ phượng Thiên Chúa.

Nhân loại đã đạt tới nhiều phương cách; một số cách ấy, như cách của Platông chẳng hạn, khá gần với cách xứng hợp. Những cách khác, như cách của người Aztec trong việc sát tế người trẻ, quả là quá xa vời. Tựu chung, cách duy nhất ta có thể thờ phượng Thiên Chúa một cách xứng hợp phải là cách chính Người dạy dỗ ta. Đó là tất cả nội dung của Thánh Lễ, với sự hiện diện của thực tại hy lễ Thánh Giá, cách xứng hợp nhất để thờ phượng Thiên Chúa. Cuối cùng, chỉ có Thiên Chúa mới nói cho ta biết điều ấy, mới ban cho ta một điển hình phải thực hành việc thờ phượng Chúa Cha ra sao. Thành thử, quả là đúng khi bảo tâm thức Công Giáo tự nhiên dẫn ta tới phụng vụ và tới sự kính yêu Thiên Chúa Ba Ngôi mà ta được mời gọi bước vào nếu ta biết chấp nhận lời mời của Thiên Chúa và sống cuộc sống ta ra sao để đừng bác bỏ lời mời ấy. Tâm thức Công Giáo biết tìm tới nguồn của điều có thật, của điều hiện hữu thật và vui mừng hân hoan trong đó. Đó chính là vinh quang.