Câu chuyện kể về một thiếu phụ Bắc Phi. Tên cô là Perpetua. Cô sống cách đây vào khoảng 2,000 năm. Nhưng ngày nay người ta vẫn thường kể về cuộc đời của cô. Vào thời của Perpetua, một phần của Bắc Phi thuộc đế quốc La Mã. Người dân bản xứ phải tuân thủ những điều luật La Mã và theo cách ứng xử của La Mã. Đây là một thực tế trong mọi lĩnh vực cuộc sống – bao gồm cả tôn giáo.
Thời đó, những nhà lãnh đạo đế chế La Mã, hoàng đế, Septimius Severus. Severus cũng từ là người Bắc Phi. Thuc ra, ông cũng chỉ là hoàng đế Phi Châu trong lịch sử La mã! Ông đã tranh giành với những ứng viên khác để trở thành hoàng đế. Ông là người cầm quyền tàn bạo, hung ác.
Mọi công dân phải tôn thờ hoàng đế. Điều này chỉ ra rằng họ là hoàng tộc đối với hoàng đế. Hoàng đế này thôn chiếm nhiều đất nước khác. Cư dân ở những nơi đó đã có những truyền thống tôn giáo riêng của họ. Nhưng họ cũng sẵn sàng tôn thờ hoàng đế. Hoàng đế coi vấn đề này là một giải pháp hữu hiệu để duy trì đế chế trở thành một khối thống nhất.
Septimius severus biết tầm quan trọng của một đế chế yên ổn. Và ông ta đã phải để ý đến việc những tôn giáo khác có thể phân chia quyền lực đế chế. Nên vào năm 202, ông đã đề ra một điều luật tôn giáo mới cấm mọi người không được theo Do Thái giáo và Ki-tô giáo. Vào thời điểm đó, Ki-tô giáo đang trong giai đoạn mới mẻ và niềm tin vào Ki-tô giáo đang gây ảnh hưởng đến nhiều người trong xã hội La Mã. Những người Ki-tô giáo tin rằng chỉ một Thiên Chúa là Thiên Chúa thật. Họ tin rằng họ không được phép tôn thờ một con người của sự sống nào khác. Và họ tin rằng họ sẽ được sống cùng Thiên Chúa trong thiên đàng sau khi chết. thế nên những Ki-tô hữu trong đế quốc La Mã từ chối thi hành bất cứ đạo luật hoàng gia nào đối với hoàng đế. Ông hoàng này tin rằng họ đã đe dọa đến quyền lực của mình – điều mà ông ta phải tiêu diệt họ.
Perpetua là một tín đồ Ki-tô giáo. Cô và vài người bạn đã từ chối tham gia những nghi lễ tôn thờ hoàng đế. Vì thế, chính quyền La Mã bắt họ vào tù. Nhưng gia đình Perpetua không phải là người Ki-tô giáo. Và họ không hiểu cách đối xử của cô. Nhất là khi cô có một cháu trai yêu quí. Trong khi ở trong tù, Perpetua đã viết một cuốn nhật ký – ghi chép lại những gì đã xảy đến với cô. Một phần của cuốn nhật ký mà Perpwtua đã viết:
Bạn tôi và tôi vẫn bị giam giữ. Bố tôi đến thăm tôi. Tôi biết bố tôi rất yêu thương tôi. Và ông đã cố gắng thuyết phục tôi thay đổi suy nghĩ.
- Này bố, tôi nói, ‘bố có nhìn thấy cái thùng đựng nước ở đây không?’
- Có, bố thấy.
- Nó có thể được gọi bằng cái tên bất kỳ nào khác được không?
- Không, ông trả lời.
- ‘Vâng, cũng vậy con không thể đựơc gọi bằng bất cứ cái tên nào khác hơn rằng con là một Ki-tô hữu.
- Cái từ “Ki-tô giáo” đã làm cho bố tôi rất giận. Ông tiến về phía tôi và như ông nhìn thấy nước mắt tôi rưng rưng. Nhưng ông không nói thêm điều gì với tôi. Đoạn, ông bỏ đi.
Vài ngày sau chúng tôi nghe thêm một số tin tức. Chúng tôi sẽ ra trước hội đồng La Mã. Bố tôi cũng từ thành phố đến, đầy ưu tư, lo lắng. Ông lại đến gặp tôi vẫn ý tưởng ông khuyên tôi thay đổi ý định.
‘Náy con gái,’ ông nói, ‘hãy thương bố… nghĩ về các anh của con, nghĩ về mẹ của con… nghĩ về con trai của con. Nó sẽ không thể sống một khi con vĩnh viễn ra đi. Đừng quá tự hào! Con sẽ giết chết tất cả chúng ta!’
Tôi cảm thấy buồn cho bố tôi. Tôi cố gắng làm cho ông cảm thấy yên tâm, tôi nói: ‘Tất cả mọi điều xảy ra đều do Thánh Ý Chúa. Bố có thể chắc rằng chúng ta đang sống không phải là do chúng ta. Mà chúng ta đang sống trong tất cả quyền năng của Người.’ Rồi bố tôi bỏ đi – tâm hồn ông chất chứa một nỗi buồn vời vợi.”
Perpetua và bạn bè cô sau đó phải ra trước những viên chức chính quyền địa phương để chịu xét xử. Cô viết:
“Hilarianus người chánh án nói với tôi:
- Hãy thương đến bố cô; hãy thương đến đứa con trai bé bỏng của cô. Hãy hiến dâng sự hy sinh cho hoàng đế.
- Sẽ không bao giờ, tôi trả lời.
- cô là tín đồ Ki-tô giáo phải không? Hilarianus hỏi tôi.
- Phải, tôi là một Ki-tô hữu,’ tôi trả lời.
Rồi Hilarianus tuyên án tất cả chúng tôi. Ông lên án chúng tôi phải chịu chết. chúng tôi sẽ phải đối diện với những dã thú tại hý trường công cộng. chúng tôi trở lại nhà tù. Chúng tôi đã vinh dự trải qua vì đức tin của mình.”
Trong những ngày sau đó, Perpetua cùng bạn bè dọn mình để lãnh nhận cái chết. Họ không sợ mất đi sự sống. thay vì, họ đón mừng cơ hội để được sống cùng Thiên Chúa kính yêu của họ.
Thời gian sống trong tù, Perpetua có vài lần nằm mơ. Trong những giấc mơ đó, Thiên Chúa đã cho cô biết cô và bạn bè cô sẽ phải chịu đau đớn. Nhưng họ sẽ chết một cách dũng cảm. Và với những hành động về đức tin của họ cổ vũ nhiều Ki-tô hữu. Perpetua không thể viết trong nhật ký về ngày chết của cô. Nhưng một vài người khác đã viết lại về những gì đã xảy ra. Nhân chứng này đã miêu tả những bạn trẻ đối phó với ngày cuối cùng của họ ở trần gian can đảm tuyệt vời như thế nào.
“Ngày vinh quang của họ đã đến. Họ bước đều với niềm hân hoan từ nhà tù đến hý trường công cộng – như thể họ đang đi đến thiên đàng. Những người lính dẫn họ đến khu vực trung tâm của hý trường.”
Ở đó, hai người nữ và bốn ngừoi nam đương đầu với những dã thú khác – đám đông hoan hô ầm ĩ khi những con vật tấn công họ. Nhưng Perpetua và bạn bè cô tràn đầy sức mạnh của Thiên Chúa. Họ đã bị thương tích. Nhưng họ ai nấy đều sống sót. Cuối cùng nhà cầm quyền đã ra lệnh cho những nguời lính giết những bạn trẻ này bằng gươm – ngay trước đám đông. Nhân chứng viết:
“Và những người bạn đứng dậy đi về phía những người lính. Họ trao nhau nụ hôn bình an. Bạn bè của Petpetua bình thản nhận những nhát gươm. Tuy nhiên, perpetua đã trải qua sự đau đớn nhiều hơn. Lưỡi gươm của những người lính đã chạm phải xương của cô. Và cô đã hét lên. Sau đó, cô đến bắt tay người lính trẻ và đặt lưỡi gươm của hắn vào cổ mình.”
Và thế là ngày bảy tháng Ba năm 203, các bạn trẻ này đã bước đến cái chết. Nhưng họ đã biết rằng họ sẽ gặp Thiên Chúa trên chốn thiên đàng. Ngày nay, vẫn còn đài kỷ niệm tại trung tâm hý trường nơi họ tử nạn. Điều này muốn nói đến sự hy sinh của Perpetua, Felicitas, Revocatus, Saturninus, Secundulus, Saturus, và Rusticus. Câu chuyện về đức tin và lòng can đảm của họ sống mãi với thời gian.
(“A Woman of Faith” – R. Jones}
Thời đó, những nhà lãnh đạo đế chế La Mã, hoàng đế, Septimius Severus. Severus cũng từ là người Bắc Phi. Thuc ra, ông cũng chỉ là hoàng đế Phi Châu trong lịch sử La mã! Ông đã tranh giành với những ứng viên khác để trở thành hoàng đế. Ông là người cầm quyền tàn bạo, hung ác.
Mọi công dân phải tôn thờ hoàng đế. Điều này chỉ ra rằng họ là hoàng tộc đối với hoàng đế. Hoàng đế này thôn chiếm nhiều đất nước khác. Cư dân ở những nơi đó đã có những truyền thống tôn giáo riêng của họ. Nhưng họ cũng sẵn sàng tôn thờ hoàng đế. Hoàng đế coi vấn đề này là một giải pháp hữu hiệu để duy trì đế chế trở thành một khối thống nhất.
Septimius severus biết tầm quan trọng của một đế chế yên ổn. Và ông ta đã phải để ý đến việc những tôn giáo khác có thể phân chia quyền lực đế chế. Nên vào năm 202, ông đã đề ra một điều luật tôn giáo mới cấm mọi người không được theo Do Thái giáo và Ki-tô giáo. Vào thời điểm đó, Ki-tô giáo đang trong giai đoạn mới mẻ và niềm tin vào Ki-tô giáo đang gây ảnh hưởng đến nhiều người trong xã hội La Mã. Những người Ki-tô giáo tin rằng chỉ một Thiên Chúa là Thiên Chúa thật. Họ tin rằng họ không được phép tôn thờ một con người của sự sống nào khác. Và họ tin rằng họ sẽ được sống cùng Thiên Chúa trong thiên đàng sau khi chết. thế nên những Ki-tô hữu trong đế quốc La Mã từ chối thi hành bất cứ đạo luật hoàng gia nào đối với hoàng đế. Ông hoàng này tin rằng họ đã đe dọa đến quyền lực của mình – điều mà ông ta phải tiêu diệt họ.
Perpetua là một tín đồ Ki-tô giáo. Cô và vài người bạn đã từ chối tham gia những nghi lễ tôn thờ hoàng đế. Vì thế, chính quyền La Mã bắt họ vào tù. Nhưng gia đình Perpetua không phải là người Ki-tô giáo. Và họ không hiểu cách đối xử của cô. Nhất là khi cô có một cháu trai yêu quí. Trong khi ở trong tù, Perpetua đã viết một cuốn nhật ký – ghi chép lại những gì đã xảy đến với cô. Một phần của cuốn nhật ký mà Perpwtua đã viết:
Bạn tôi và tôi vẫn bị giam giữ. Bố tôi đến thăm tôi. Tôi biết bố tôi rất yêu thương tôi. Và ông đã cố gắng thuyết phục tôi thay đổi suy nghĩ.
- Này bố, tôi nói, ‘bố có nhìn thấy cái thùng đựng nước ở đây không?’
- Có, bố thấy.
- Nó có thể được gọi bằng cái tên bất kỳ nào khác được không?
- Không, ông trả lời.
- ‘Vâng, cũng vậy con không thể đựơc gọi bằng bất cứ cái tên nào khác hơn rằng con là một Ki-tô hữu.
- Cái từ “Ki-tô giáo” đã làm cho bố tôi rất giận. Ông tiến về phía tôi và như ông nhìn thấy nước mắt tôi rưng rưng. Nhưng ông không nói thêm điều gì với tôi. Đoạn, ông bỏ đi.
Vài ngày sau chúng tôi nghe thêm một số tin tức. Chúng tôi sẽ ra trước hội đồng La Mã. Bố tôi cũng từ thành phố đến, đầy ưu tư, lo lắng. Ông lại đến gặp tôi vẫn ý tưởng ông khuyên tôi thay đổi ý định.
‘Náy con gái,’ ông nói, ‘hãy thương bố… nghĩ về các anh của con, nghĩ về mẹ của con… nghĩ về con trai của con. Nó sẽ không thể sống một khi con vĩnh viễn ra đi. Đừng quá tự hào! Con sẽ giết chết tất cả chúng ta!’
Tôi cảm thấy buồn cho bố tôi. Tôi cố gắng làm cho ông cảm thấy yên tâm, tôi nói: ‘Tất cả mọi điều xảy ra đều do Thánh Ý Chúa. Bố có thể chắc rằng chúng ta đang sống không phải là do chúng ta. Mà chúng ta đang sống trong tất cả quyền năng của Người.’ Rồi bố tôi bỏ đi – tâm hồn ông chất chứa một nỗi buồn vời vợi.”
Perpetua và bạn bè cô sau đó phải ra trước những viên chức chính quyền địa phương để chịu xét xử. Cô viết:
“Hilarianus người chánh án nói với tôi:
- Hãy thương đến bố cô; hãy thương đến đứa con trai bé bỏng của cô. Hãy hiến dâng sự hy sinh cho hoàng đế.
- Sẽ không bao giờ, tôi trả lời.
- cô là tín đồ Ki-tô giáo phải không? Hilarianus hỏi tôi.
- Phải, tôi là một Ki-tô hữu,’ tôi trả lời.
Rồi Hilarianus tuyên án tất cả chúng tôi. Ông lên án chúng tôi phải chịu chết. chúng tôi sẽ phải đối diện với những dã thú tại hý trường công cộng. chúng tôi trở lại nhà tù. Chúng tôi đã vinh dự trải qua vì đức tin của mình.”
Trong những ngày sau đó, Perpetua cùng bạn bè dọn mình để lãnh nhận cái chết. Họ không sợ mất đi sự sống. thay vì, họ đón mừng cơ hội để được sống cùng Thiên Chúa kính yêu của họ.
Thời gian sống trong tù, Perpetua có vài lần nằm mơ. Trong những giấc mơ đó, Thiên Chúa đã cho cô biết cô và bạn bè cô sẽ phải chịu đau đớn. Nhưng họ sẽ chết một cách dũng cảm. Và với những hành động về đức tin của họ cổ vũ nhiều Ki-tô hữu. Perpetua không thể viết trong nhật ký về ngày chết của cô. Nhưng một vài người khác đã viết lại về những gì đã xảy ra. Nhân chứng này đã miêu tả những bạn trẻ đối phó với ngày cuối cùng của họ ở trần gian can đảm tuyệt vời như thế nào.
“Ngày vinh quang của họ đã đến. Họ bước đều với niềm hân hoan từ nhà tù đến hý trường công cộng – như thể họ đang đi đến thiên đàng. Những người lính dẫn họ đến khu vực trung tâm của hý trường.”
Ở đó, hai người nữ và bốn ngừoi nam đương đầu với những dã thú khác – đám đông hoan hô ầm ĩ khi những con vật tấn công họ. Nhưng Perpetua và bạn bè cô tràn đầy sức mạnh của Thiên Chúa. Họ đã bị thương tích. Nhưng họ ai nấy đều sống sót. Cuối cùng nhà cầm quyền đã ra lệnh cho những nguời lính giết những bạn trẻ này bằng gươm – ngay trước đám đông. Nhân chứng viết:
“Và những người bạn đứng dậy đi về phía những người lính. Họ trao nhau nụ hôn bình an. Bạn bè của Petpetua bình thản nhận những nhát gươm. Tuy nhiên, perpetua đã trải qua sự đau đớn nhiều hơn. Lưỡi gươm của những người lính đã chạm phải xương của cô. Và cô đã hét lên. Sau đó, cô đến bắt tay người lính trẻ và đặt lưỡi gươm của hắn vào cổ mình.”
Và thế là ngày bảy tháng Ba năm 203, các bạn trẻ này đã bước đến cái chết. Nhưng họ đã biết rằng họ sẽ gặp Thiên Chúa trên chốn thiên đàng. Ngày nay, vẫn còn đài kỷ niệm tại trung tâm hý trường nơi họ tử nạn. Điều này muốn nói đến sự hy sinh của Perpetua, Felicitas, Revocatus, Saturninus, Secundulus, Saturus, và Rusticus. Câu chuyện về đức tin và lòng can đảm của họ sống mãi với thời gian.
(“A Woman of Faith” – R. Jones}