Đã có lúc người ta khinh chê lòng khiêm nhường là sự hèn nhát, trốn chạy khỏi thực tế, thế nhưng người ta không biết chính sự khiêm nhường đó lại là một lợi thế để đạt được nhân. Lão Tử nghiệm thấy: “Giang hải sở dĩ năng vi, bách cốc vuơng giả, dĩ kỳ thiên hạ chi”. Sở dĩ đại dương làm vua các sông ngòi bởi vì đại dương ở thấp hơn sông ngòi.

Sự khiêm nhường.

Người ta thường thấy một Hưng Đạo Vương uy nghi vung kiếm trên lưng voi trận, đã mấy lần thấy một Hưng Đạo Vương Khiêm nhừơng để lo cho quốc gia đại sự. Năm 1281, cuộc đấu tranh trên bàn tròn ngoại giao giữa Đại Việt với nhà Nguyên đang lâm vào vòng bế tắc. Vua Nguyên thời bấy giờ là Hốt tất Liệt liên tiếp ra chiếu bắt vua Trần phải đến chầu. Trong bàn ngoại giao đó có một âm mưu, khi vua Trần Nhân Tông (1278 - 1293) muốn kéo thời gian dài ra để chuẩn bị binh lực, nên sai Trần Di Ái là ông chú của mình sang thay chầu vua Nguyên. Hốt Tất Liệt thấy vua Trần sai Trần Di Ái sang chầu đã thấy sự lép vế của vua đất Đại Việt, nên cho Trần Di Ái một chức cao là An Nam Quốc Vương, cùng cho đoàn tuỳ tùng làm hậu thuẫn cũng được nếm mùi chức quan tước. Để có quân hầu mưu phản, Hốt Tất Liệt cho thêm hơn ngàn quân hộ tống dưới sự điều khiển của Sài Thung, về phía Đại Việt. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép lại rằng:

“Thung ngạo mạn vô lễ, cưỡi ngựa đi thẳng vào cửa Dương Minh, quân sĩ Thiên Trường chặn lại. Thung dùng roi ngựa quất họ bị thương ở đầu. Đến điện Tập Hiền, thấy chăng đầy màn trướng, hắn mới chịu xuống ngựa. Vua sai Quang khải đến sứ quán khoản tiếp, Thung nằm kềnh không ra. Quang Khải vào hẳn trong phòng, hắn cũng không dậy tiếp, Hưng Đạo Vương Quốc Tuấn nghe thấy thế, tâu xin đến sứ quán để xem Thung làm gì. Lúc ấy Hưng Đạo Vương đã gọt tóc, mặc áo vải. Đến sứ quán, ông đi thẳng vào phòng. Thung đứng dậy, vái chào và mời ngồi. Mọi người đều kinh ngạc, bởi cứ ngỡ người gọt tóc và mặc áo vải này là một nhà sư phương Bắc. Ông ngồi xuống pha trà, cùng uống với hắn. sau, người hầu của Thung nhận ra Ông, cầm cái tên chọc vào đầu Quốc Tuấn đến chảy máu, nhưng sắc mặt Quốc Tuấn không hề thay đổi. Khi về, Thung ra tận cửa để tiễn ông”.

Là Vương để chịu gọt đầu, mặc áo vải để đến sứ, ai dám nói là một điều nhục. Khi Thung không chịu tiếp một đại sứ của vua thì cũng cần tiếp một người hiền sỹ. Với cung cách của kẻ cả thì có khi khinh thường những vị đại sứ, nhưng phải là người biết tôn trọng người nhà chùa chứ. Dù sao, Thung vẫn còn là một kẻ nhân, khinh cả vua, xem thường cả các quan, nhưng vẫn còn đủ lòng tự trọng để tiếp một nhà sư. Hưng Đạo Vương, biết thế của mình, không nhục khi hạ mình xuống, nhưng không hạ mình như cung cách của một tiểu nhân luồn cúi khom lưng để chạy chọt, để được để ý và kiếm vị trí cao, giống như Trần Di Ái để được chức tước. Người ta vẫn thường chê những kẻ “cúi trên, hách dưới” là hạng tiểu nhân, chứ người ta không chê người “biết người và biết ta”. Đạt được sự tiếp đãi ân cần, chứ không đạt được cái liếc mắt để ý, đó là cung cách của người trên biết mình, Hưng Đạo Vương đã đạt được điều nhân trong cung cách của người gọt đầu mạc áo vải. Hạ mình nhưng không để khinh mà để được trọng.

Khi nhận ra nhà sư chính là Hưng Đạo Vương, Thung lại giở trò ngạo mạn của mình, lấy tên chọc vào đầu Hưng Đạo Vương đến chảy máu. Quyền hành thường dẫn đến hống hách, xem thường người khác như rơm, như cỏ. Quyền hành thường hay khinh thường người đối diện, không tôn trọng người đối thoại, đùa giỡn trên danh dự của người khác. Dù sao, Thung vẫn còn là người có “nhân”, khi bị chinh phục được sự bình tĩnh, thản nhiên của một người đúng là cung cách của một đại nhân. Thung tiễn Hưng Đạo ra đến tận cửa là hành vi của một người có lễ để là nhân.

Khiêm nhường không là luồn cúi như Trần Di Ái, nó là một hành vi mà Hưng Đạo Vương dùng để chinh phục một vị quan ngang ngược. Cho hay, ở đời người làm lớn mà biết cúi mình thì thật hoạ hiếm lắm. Người ta sợ khiêm nhường làm mất danh giá. Người ta sợ khiêm nhường vì sợ người đời cho rằng “nhịn là nhục”. Khi một người có quyền mà chỉ dùng quyền để trị, người đó chỉ là bù nhìn. Khi một người có quyền mà chỉ dùng những biện pháp chế tài để trị, người đó chỉ là tiểu nhân. Khi một người có quyền mà chỉ dùng bạo lực để trị, người đó không còn là người nữa. Sài Thung có ngạo ngược, nhưng cũng còn là người khi biết trọng người có lòng nhân.

Đức Khiêm nhường.

Lòng khiêm nhường không chỉ đạt ở nhân nhưng còn đạt cao hơn còn gọi là Đức trong bậc thánh nhân.

Đức khiêm nhừơng được biểu hiện nơi những con người biết đánh giá đúng về mình, biết mình còn cần có Chúa để hoàn thành con người của mình, như Lời Chúa kêu gọi: “Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện”.

Có một giai thoại về bài hát “Tantum Ergo” chầu Thánh Thể như sau: Một hôm Đức Giáo Hoàng mời hai Thánh Toma và Bonaventura soạn cho một bài hát chầu Thánh Thể thật sốt sắng. Đến ngày hẹn, cả hai vị thánh đều mang bài hát của mình lên trình cho Đức Giáo Hoàng, Thành Toma hát trước bài hát của mình, bài “Tantum Ergo”, quá hay lần đầu tiên được hát lên. Thánh Bonaventura nghe bài hát ấy cũng bị lôi cuốn vào trong lời hát, trên tay ngài còn cầm tờ bản thảo bài hát chưa được hát, nhưng có lẽ cũng chẳng cần phải hát nữa, ngài bèn âm thầm xe tờ bản thảo của mình. Khi Đức Giáo Hoàng hỏi đến bài hát của Bonaventura, thánh nhân thú thực bài hát của mình qua kém cỏi so với bài Tantum Ergo vừa hát, nên đã tự xé đi và hết lòng thán phục thánh Toma.

Cuốn sách cổ xưa, được Maiorica chuyển sang chữ Nôm, giúp các tu sinh trong nhà Dòng học biết để sửa mình đi đàng nhân nhân đức trọn lành. Bộ “sách dạy đi đàng nhân đức trọn lành” gồm 24 quyển được in bằng mộc bản, tại Kẻ Sở, năm 1865, riêng cuốn dạy Đức Khiêm nhường là quyển 11, đạt kỷ lục về số trang là 353 trang.

Theo sự chỉ dẫn của sách, Đức khiêm nhường là căn bản cho mọi nhân đức khác. Có lẽ vì sự trọng yếu đó mà sách dạy một cách kỹ hơn chăng? Thử đi vào nội dung, để có thể khám phá lại những gì cổ nhân đã dạy gần 150 năm về trước:

Nhân đức khiêm nhường là nhân đức cần: sách diễn giải một minh chứng cụ thể là nơi Đức giêsu, Ngài đã sống tự hạ (Kenose) : “ Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giê-su, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: "Đức Giê-su Ki-tô là Chúa"”.

Nhân đức khiêm nhường là nhân đức cội rễ, là cội rễ nên nhân đức ấy ở sâu, như chân móng cho toà nhà, như rễ cây bám chặt sâu dưới lòng đất. Toà nhà có đẹp nhưng vững nhờ móng, cây có nhiều hoa trái là nhờ gốc.

Đức khiêm nhường cần thiết cho được rỗi linh hồn: “Cây cao bóng cả” nhưng gặp nhiều nguy hiểm bởi bão tố. Nên đó, nếu có quyền cao thì hãy luyện tập biết khiêm nhường, ví như cây lau cây sậy, biết mềm mình trước gió nên không bật gốc. Nghe lời siểm nịnh mà không ngã lòng, nhận tiếng khen mà không tự đắc, đón lời chê mà không mặc cảm. Người khiêm nhường ở bậc cao hãy nên giống như Chúa Giêsu, đón nhận tất cả và yêu thương như Ngài.

Khiêm nhường là đức khi thấy mình vẫn chỉ là một con người thọ ơn giữa trời và đất và với những người anh chị em. Không gì có mà không do bởi Thiên Chúa ban cho, đó là tâm niệm của Đức Khiêm nhường. Có nhưng không hãy cho nhưng không.

Biết mình là cội rễ của Đức khiêm nhường. Điều nhận biết sâu xa nhất là biết mình “thân là bụi tro và sẽ trở về tro bụi”, sự nhận biết đó làm cho cuộc đời giữa đến và đi, ý thức rằng người sống với người cần nhất là có tấm lòng.

Nhận ra mình là tội nhân để gặp được lòng thương xót, đó là lối đi của đức khiêm nhường. Đức khiêm nhường giúp con người biết cúi xuống không để ban ơn nhưng biết cúi xuống để chia sẻ phận người mỏng dòn đầy yếu đuối. Đức khiêm nhường dạy cho các bậc thánh nhân biết nhận ra mình được Thiên Chúa giữ gìn khỏi những tội trọng mà giúp các tội nhân gặp được lòng thương xót của Thiên Chúa. Khiêm nhường giữ cho lòng mến tồn tại, như Thánh Phaolô cảm nghiệm: “Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm choẹ xoang xoảng. Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì. Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi”.

Khiêm nhường để giữ được đức cậy. Đời người sao khỏi lúc thăng trầm, những cuộc hóan đổi “lên voi xuống chó”, không có khiêm nhường lòng cậy trông cũng héo. Lúc ngã mới biết ai nâng, cuộc đời xô nhau như sóng xô bờ, đầy chán nản để rồi có khi tự nhủ “biển sóng, biển sóng đừng xô tôi, đừng xô tôi ngã dưới chân người”. Thân phận là thế. Cho nên, biết khiêm nhường là biết niềm cậy trông để đứng dậy sau khi ngã, có sao đâu miễn được cuộc sau cùng.

Khiêm nhường mang lại sự bằng an, khác với sự bằng an của một kẻ sĩ chán cảnh đời rút lui về ẩn sĩ. Sự bằng an vì biết mình có hơn ai là nhờ Thiên Chúa, có thua ai là một điều dĩ nhiên. Giống như Nguyễn Du ví von “Cái tài là cái quý, không ai là không có tài”. Mỗi người là một nụ hoa Thiên Chúa dùng để điểm tô trái đất, không có nụ hoa nào là phế bỏ. Hãy vui mừng luôn trong mọi hoàn cảnh của minh để từ ấy có thể bằng an vui bước.

Đức Khiêm nhường không làm cho người ta sợ mình, cũng không làm cho người ta khinh mình nhưng làm cho người ta yêu mến mình.

Khiêm nhường là đón nhận mình để tự tin vững bước, làm chủ được mình để không rơi vào cạm bẫy của cám dỗ. Gióp có lần cảm nghiệm: “Phàm nhân là gì để tự cho mình là thanh sạch, và đứa con do người phụ nữ sinh ra là gì, để tự cho mình là công chính?”

Khiêm nhường còn là biết thán phục trước những điều hay, tốt đẹp của người khác làm, dẫu cho mình có không làm được.

Một ý nghĩa khác của Đức khiêm nhường của bậc thánh nhân là biết cùng mừng vui trước những thành công chính đáng của anh chị em mình, biết tán thưởng những điều hay của người khác mà mình chưa đạt tới. Thầy Thượng Toạ Thích Thanh Từ giảng nghĩa chữ Hỳ của Phật Giáo cũng cùng một ý nghĩa ấy, khi ngài ví von “Nếu một người cúng dường năm triệu đồng mà tôi không thể có để cúng dường cho nhà chùa, nếu tôi biết vui cùng với người ấy, trước mặt Phật tôi cũng được hưởng ân lộc như người đã cúng dường năm triệu”. Biết mình để hoà hợp với mọi người là đức khiêm nhường vậy.

Kitô giáo gọi là Đức có nghĩa là cân phải có luyện tập sự khiêm nhường để trở thành thói quen thường ngày. Hay nói cách khác, Đức Khiêm nhường là một đức tính nhờ luyện tập sống khiêm nhường mà có.

Hưng Đạo Vương có lần cởi áo hoàng bào để mặc áo vải thô để được sứ đón tiếp mà an được dân. Vua Đavit đã có lần cởi áo hoàng bào để mặc áo ca công múa nhảy, hát mừng Đức Chúa với bài Thánh ca tuyệt mỹ của Đức Khiêm nhường:

“Lạy ĐỨC CHÚA là Chúa chúng con, lẫy lừng thay danh Chúa trên khắp cả địa cầu! Uy phong Ngài vượt quá trời cao. Ngài cho miệng con thơ trẻ nhỏ cất tiếng ngợi khen đối lại địch thù, khiến kẻ thù quân nghịch phải tiêu tan. Ngắm tầng trời tay Chúa sáng tạo, muôn trăng sao Chúa đã an bài, thì con người là chi, mà Chúa cần nhớ đến, phàm nhân là gì, mà Chúa phải bận tâm? Chúa cho con người chẳng thua kém thần linh là mấy, ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên, cho làm chủ công trình tay Chúa sáng tạo, đặt muôn loài muôn sự dưới chân: Nào chiên bò đủ loại, nào thú vật ngoài đồng, nào chim trời cá biển, mọi loài ngang dọc khắp trùng dương. Lạy ĐỨC CHÚA là Chúa chúng con, lẫy lừng thay danh Chúa trên khắp cả địa cầu!”

Thiên Chúa ưa thích những lối đường nhỏ, con đường lối nhỏ ấy là đức khiêm nhường, hãy mở lối đường ấy trong lòng mình để Thiên Chúa đi qua.