ĐỨC MẸ TRỌN ĐỜI ĐỒNG TRINH,
CUỘC BÚT CHIẾN CỦA THÁNH GIÊRÔM
Cuộc bút chiến của Thánh Giêrôm với Helviđiô về việc Đức Mẹ trọn đời đồng trinh vừa cho thấy tư tưởng thâm thúy của một trong những giáo phụ sáng chói của Giáo Hội vừa cho thấy văn phong bút chiến của một vị thánh, dù là thánh lớn và thuộc thời sơ khai của Giáo Hội, vẫn không kém sắc bén và thú vị như văn phong bút chiến của bất cứ ai khác.
Bài này xuất hiện khỏang năm 383, lúc cả thánh Giêrôm lẫn Helviđiô đều đang có mặt tại Rôma, và Đức Đamasô đang trị vì ngôi giáo hoàng (người ta chỉ còn biết được những gì Helviđiô viết là do Thánh Giêrôm thuật lại trong bài này). Vấn đề tranh luận lúc đó là liệu Thân Mẫu Chúa Giêsu có còn đồng trinh sau khi đã sinh hạ ra Ngài hay không. Helviđiô chủ trương rằng vì Phúc âm nhắc đến “các chị em” và “các anh em” của Chúa nên rõ ràng Đức Mẹ có những người con khác sau khi sinh ra Chúa Giêsu, ông dựa suy luận của mình vào các trước tác của Tertuliô và Victorinô. Hệ luận là đức đồng trinh phải được xếp sau hôn nhân.
Thánh Giêrôm mạnh mẽ đứng về phía đối lập và đưa ra ba mệnh đề chống lại Helviđiô:
1. Thánh Giuse chỉ là chồng Đức Mẹ trên danh nghĩa chứ không phải chồng thật.
2. “Anh em” của Chúa là anh em họ của Ngài, chứ không phải anh em ruột.
3. Bậc đồng trinh tốt hơn bậc vợ chồng.
Mệnh đề đầu được bàn đến trong các số từ 3 đến 8, cố ý nhận định về đoạn Phúc âm Matthêu 1:18-25, nhất là các từ “Trước khi hai ông bà về chung sống” (số 4) và “không ăn ở với bà cho đến khi” (số 5-8). Mệnh đề hai (9-17) đề cập đến các từ “con đầu lòng” (9-10), mà theo Thánh Giêrôm áp dụng cho người con cả của nhiều anh em, nhưng cũng áp dụng cho người con một nữa. Còn “các anh em” là ám chỉ các con của bà Maria, vợ của Cleopas hay Clopas (11-16). Ngài dùng nhiều trước tác của các giáo phụ khác để bênh vực quan điểm của mình (17). Trong khi bênh vực việc Ngài coi trọng đức đồng trinh hơn bậc vợ chồng, Thánh Giêrôm cho rằng không những Đức Mẹ, mà thánh Giuse cũng giữ mình đồng trinh (19), và mặc dù hôn nhân là bậc sống thánh thiện, nhưng đôi khi nó gây trở ngại cho việc cầu nguyện. Đàng khác, giáo huấn của Thánh Kinh vẫn cho rằng bậc đồng trinh và tiết dục đẹp lòng Chúa hơn bậc vợ chồng (21,22).
NHẬP ĐỀ
1. Gần đây, một số anh em yêu cầu tôi lên tiếng đáp lại bài viết của một người tên Helviđiô. Tôi đã hoãn làm việc ấy không phải vì thấy khó việc bênh vực sự thật cũng như bác bỏ tên lỗ mãng ngu dốt mà sở học chỉ có chút chiu ấy, nhưng vì sợ rằng việc tôi lên tiếng có thể làm hắn được người ta coi là đáng để mình đánh bại. Tuy nhiên cân nhắc thêm thì thấy cái tên gây rối ấy, con người duy nhất trên trần đời tự coi mình vừa là giáo sĩ vừa là giáo dân, con người, như đã nói, coi hùng biện chỉ là lắm lời và nói xấu về người khác như là chứng tỏ mình có một lương tâm tốt, rất có thể sẽ còn nói phạm thượng hơn nữa nếu không cho hắn cơ hội tranh luận. Hắn có thể coi mình như đang chễm chệ ngồi trên bệ cao tự tung tự tác quảng bá quan điểm của mình ra khắp bốn phương. Cũng còn một lý do để sợ rằng khi sự thật không được trình bày cho hắn, hắn có thể sẽ tấn công đối phương bằng vũ khí lăng nhục. Nhưng giờ đây tất cả những lý do ngần ngại trên, dù chính đáng, cũng không còn ảnh hưởng trên tôi nữa, vì những gương mù gương xấu đã gây đến cho nhiều anh em vốn đã trở thành những phát ngôn viên điên dại của hắn. Cái rìu của Phúc âm do đó cần được đặt vào gốc thân cây không sinh hoa trái, và cả nó lẫn cành lá không hoa không quả phải được liệng vào lửa, để Helviđiô, người chưa bao giờ học cách phát ngôn, cuối cùng sẽ phải học cách giữ mồm giữ miệng.
2. Tôi khẩn khoản xin Chúa Thánh Thần dùng miệng tôi mà triển khai điều Ngài muốn nói và bênh vực đức đồng trinh của Đấng Diễm Phúc Maria. Tôi cũng khẩn khoản xin Chúa Giêsu gìn giữ cung lòng thánh thiện mà Ngài đã ngự trong mười tháng trường khỏi mọi hoài nghi của giao hợp tính dục. Và tôi cũng van xin Đức Chúa Cha chứng tỏ cho mọi người thấy rằng thân mẫu của Con Một Ngài, đấng đã là mẹ trước khi là cô dâu, mãi mãi còn đồng trinh sau khi sinh con. Chúng tôi không hề có ý muốn bước chân vào lãnh vực hùng biện cũng như chạy đến với những bẫy rập của các nhà luận lý hay các nguyên lý phức tạp của Aristôt. Chúng tôi chỉ xin diễn dịch các ngôn từ trích từ Thánh Kinh. Xin hãy để hắn bị bác bỏ bởi cùng những chứng cớ mà hắn đã dùng chống lại chúng ta, ngõ hầu hắn thấy được rằng hắn có thể đọc điều đã được viết ra nhưng vẫn không hiểu được câu kết luận vững chắc của một đức tin lành mạnh.
Thánh Giuse chỉ là chồng trên danh nghĩa, chứ không phải chồng thật của Đức Maria
3. Phát biểu đầu tiên của hắn như sau: “Matthêu cho hay: Sau đây là gốc tích Chúa Giêsu Kitô. Bà Maria, mẹ Người, đã đính hôn với ông Giuse. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. Ông Giuse, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. Ông đang tính toán như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: Này ông Giuse, con cháu Đavít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần (Mt. 1:18-20). Xin nhớ rằng, chữ dùng ở đây là đính hôn, chứ không phải được trao phó như qúi vị nghĩ, và dĩ nhiên lý do đính hôn là để một ngày kia thành hôn. Và tác giả Phúc âm sẽ không nói trước khi hai ông bà về chung sống, nếu cuối cùng họ không thực sự về chung sống với nhau, vì chẳng ai lại dùng thuật ngữ trước khi anh ta ăn nếu anh ta không sắp sửa ăn. Còn nữa, sứ thần đã gọi bà là vợ và nói về bà như là người kết hiệp nên một với Giuse. Sau đây, xin hãy lắng nghe chính lời Thánh Kinh: Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà. Ông không ăn ở với bà, cho đến khi bà sinh một con trai” (Mt 1:24-25)
4. Ta hãy lần lượt xét từng điểm một, và cứ đi theo bước chân của tên vô đạo này để chứng minh cho hắn thấy hắn đã tự mâu thuẫn với chính hắn. Hắn nhìn nhận rằng bà mới chỉ đính hôn, nhưng liền một hơi lại nói rằng bà là vợ người đàn ông mà chính hắn đã nhìn nhận là vị hôn phu của bà. Một lần nữa, hắn gọi bà là vợ nhưng rồi lại nói rằng lý do duy nhất bà được đính hôn là để một ngày kia bà thành hôn. Và như sợ rằng ta chưa nghĩ đó là đủ, hắn còn nói: “chữ dùng ở đây là đính hôn, chứ không phải được trao phó, nghĩa là, chưa phải là vợ, chưa kết hiệp nên một qua dây hôn phối”. Nhưng khi hắn tiếp tục thêm rằng “Tác giả Phúc âm sẽ không bao giờ sử dụng những từ ngữ trước khi hai ông bà về chung sống với những người sẽ không về chung sống với nhau hệt như không thể nói trước khi hắn ăn mà thực tế ra hắn lại không ăn”, thì quả tôi không biết nên khóc hay nên cười đây. Liệu có nên kết tội hắn là dốt hay nên kết tội hắn là thiếu suy nghĩ? Hệt như thể, giả thiết người nào đó nói, “trước khi ăn tại bến tầu, tôi dương buồm đi Châu Phi”, lời ông ta nói chỉ có giá trị khi một ngày kia ông ta bó buộc phải ăn tại bến tầu. Nếu tôi nói: “trước khi đi Tây Ban Nha, tông đồ Phaolô bị cùm tù tại Rôma” hoặc (tôi rất muốn nói) “trước khi hối lỗi, Helviđiô bỗng đột ngột qua đời” liệu có phải vì thế mà sau khi được thả, thánh Phaolô phải lập tức đi Tây Ban Nha, hay Helviđiô phải hối lỗi sau khi đã chết không, dù Thánh Kinh có nói: “Trong âm phủ, ai sẽ cảm tạ Ngài?” (Tv 6:6). Đúng hơn, há không phải ta nên hiểu rằng giới từ trước khi, dù vẫn thường chỉ thứ tự trong thời gian, nhưng đôi khi chỉ có ý nói đến thứ tự trong ý nghĩ. Thành thử, nếu có đủ nguyên nhân can thiệp vào khiến chúng không xẩy ra nữa, thì các ý nghĩ của ta đâu có cần thiết phải được thể hiện. Như thế nếu tác giả Phúc âm nói trước khi hai ông bà về chung sống, ngài chỉ muốn nói đến thời gian ngay trước ngày cưới, và cho ta thấy rằng sự việc đã tiến khá xa rồi để người thiếu nữ đính hôn sắp sửa trở thành người vợ. Như thể tác giả muốn nói, trước khi họ ôm hôn nhau, nghĩa là trước khi họ hoàn hợp mối nhân duyên của họ, thì bà bị phát giác là đã có thai. Và người phát giác ra chuyện ấy không ai khác hơn là Giuse, người đã nhìn vào cái bụng đang lớn lên của vị hôn thê với một cái nhìn lo lắng và, lúc ấy, gần như với đặc quyền của một người chồng. Nhưng như trên đã nói, không phải vì vậy mà diễn dịch được là ông sẽ ân ái với Maria sau khi bà đã sinh đứa con kia, vì trước đó, các thèm muốn của ông bị dập tắt vì sự kiện bà đã mang thai. Và mặc dù trong giấc mộng, Giuse được loan báo là “đừng ngại đón bà Maria vợ ông về” và “Khi tỉnh giấc, Ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà”, ta cũng chẳng nên vì thế mà lúng túng, như thể vì được kêu là vợ mà bà hết còn là người đính hôn, vì ai cũng biết rằng trong Thánh Kinh, vốn có thói quen gán cái tước vị ấy cho người đã đính hôn. Chứng cớ sau đây từ Sách Đệ Nhị Luật cho thấy rõ điều đó:”Nếu một người đàn ông gặp một trinh nữ đã đính hôn ở ngoài đồng và cưỡng bức nàng phải ăn nằm với mình, thì anh ta phải chết, vì đã hạ nhục vợ người lân cận mình” (Đnl 22:25). Và ở một đoạn khác, “Nếu là một thiếu nữ còn trinh đã đính hôn với một người chồng, và có người đàn ông gặp nàng nơi phố thị và ăn nằm với nàng; thì các ngươi phải mang cả hai ra khỏi cửa thành mà ném đá chúng cho đến chết; người thiếu nữ vì đã không chịu hô hoán lên khi đang ở nơi phố thị; còn người đàn ông vì đã hạ nhục vợ người lân cận mình: như thế các ngươi sẽ loại được sự dữ xa khỏi các ngươi” (Đnl 22:23-24). Lại nơi khác nữa: “Còn người đàn ông đã đính hôn với vợ nhưng chưa rước nàng về thì sao? Hãy cho anh ta trở về nhà, kẻo anh ta phải chết nơi trận tiền mà người đàn ông khác cướp mất vợ chăng” (Đnl 20:7). Nhưng nếu có ai thắc mắc tại sao Trinh Nữ Maria lại có thai sau khi đã đính hôn hơn là trước khi chưa đính hôn với ai, hay như ngôn ngữ của Thánh Kinh, chưa có chồng, thì tôi xin giải thích như thế này: có ba lý do. Trước nhất, qua gia phả Giuse, mà Maria cũng là người họ hàng, nguồn gốc của Maria cũng được đề cập đến. Thứ hai, nhờ thế bà không bị ném đá như kẻ ngoại tình theo luật Mô-sen. Thứ ba, trong cuộc lánh nạn qua Ai-Cập, bà tìm được nơi nương tựa ủi an, dù chỉ là của người giám hộ chứ không phải của một người chồng. Vì có ai lúc đó lại có thể tin được lời của Trinh Nữ rằng mình thụ thai bởi Chúa Thánh Thần, và rằng thiên thần Gabriel đã đến và loan báo cho bà ý định của Thiên Chúa? hay trái lại mọi người đều sẽ cho bà là đồ ngoại tình giống như Su-san-na? Vì cho đến tận ngày nay, khi cả thế giới đều đã vâng theo đức tin, mà người Do thái vẫn còn cho rằng khi Isaia nói rằng: “kìa một trinh nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai” (Is 7:14) thì ông có ý chỉ một người đàn bà trẻ chứ không phải một người con gái còn trinh, vì chữ ông dùng là ALMAH chứ không phải BETHULAH. Ta sẽ đề cập đến chuyện đó một cách chi tiết sau này. Cuối cùng, ngoại trừ Giuse, Elizabet và chính Maria ra, và có thể một số nhỏ khác ta tin là đã được ba vị này kể cho nghe, ai cũng coi Chúa Giêsu là con của Giuse. Kể cả chính các tác giả Phúc Âm nữa cũng đã theo ý kiến chung của mọi người, một khuôn vàng thước ngọc của bất cứ sử gia nào, mà gọi Giuse là cha Đấng Cứu Thế, như trong đoạn “Được Thần Khí thúc đẩy, ông (Simeon) lên đền thờ. Vào lúc cha mẹ Hài nhi Giêsu đem con tới để chu toàn tập tục Luật đã truyền liên quan đến Người” (Lc 2:27) và nơi khác, “Hằng năm, cha mẹ Chúa Giêsu trẩy hội đền Giêrusalem mừng lễ Vượt Qua” (Lc 2:41). Và sau đó, “Xong kỳ lễ, hai ông bà trở về, còn cậu bé Giêsu thì ở lại Giêrusalem, mà cha mẹ chẳng hay biết” (Lc 2:43). Ta cũng nên lưu ý chính Đức Maria, dù đã dùng những lời lẽ sau đây mà thưa chuyện với Thần sứ Gabriel: “Việc ấy sẽ xẩy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!” (Lc 1:34), cũng đã nói như sau để chỉ về Giuse: “Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!” (Lc 2:48). Ở đây, ngôn từ ấy đâu phải ngôn từ của người Do-Thái hay quân nhạo báng đâu, như nhiều người vốn nghĩ. Chính các Phúc âm gia đã gọi Giuse là cha: đức Maria cũng tuyên xưng ông là cha. Tuy nhiên, như tôi đã nói ở trên, ông Giuse không thực sự là cha của đấng Cứu Thế: ông được mọi người coi là cha của Ngài là để giữ danh thơm tiếng tốt cho Maria, mặc dù trước khi nghe được lời nhắn nhủ của Thần sứ rằng “Này ông Giuse, con cháu Đavít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần” ông đã định tâm bỏ bà cách kín đáo; như thế chứng tỏ ông đã biết rõ đứa bé trong bụng kia không phải là con mình. Thiết nghĩ ta đã chứng minh đủ tại sao Giuse được gọi là cha của Chúa, và tại sao Maria được gọi là vợ của Giuse, với mục đích đưa ra lời giáo huấn chứ không hẳn để trả lời một đối thủ. Điều này cũng một lúc trả lời cho vấn nạn tại sao một số người được gọi là anh em của Chúa.
5. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ bàn riêng đến điểm đó sau này. Bây giờ, chúng tôi xin vội qua vấn đề khác. Đoạn mà ta phải tranh luận bây giờ là: “Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà. Ông không ăn ở với bà, cho đến khi bà sinh một con trai.” Ở đây, trước nhất, chẳng cần đối thủ của ta phải dài dòng chứng tỏ rằng hạn từ "biết" có ý ám chỉ việc giao hợp, chứ không phải hành vi nhận thức thuộc tri thức: như thể có ai đó đã phủ nhận việc ấy hay có ai đó đã tưởng tượng ra điều trái nghĩa khiến Helviđiô phải tốn công bài bác. Sau đó, hắn ta giảng giải để ta biết rằng trạng từ “cho đến khi” có ý ám chỉ một thời điểm nhất định và rõ rệt mà theo hắn khi thời điểm ấy hoàn tất, cái biến cố mà trước đó chưa xẩy ra giờ đây phải xẩy ra, như trường hợp của chúng ta “Không ăn ở với bà, cho đến khi bà sinh một con trai”. Hắn cho hay, rõ ràng là bà đã được “biết” sau khi sinh con, vì cái “biết” ấy chỉ bị đình hoãn vì việc sinh con mà thôi. Để bênh vực cho quan điểm của mình, hắn chất chồng hết văn bản này đến văn bản khác, múa kiếm múa đao như một hiệp sĩ mù, uốn lưỡi uốn môi ồn ào náo nhiệt, để cuối cùng chẳng đả thương được ai ngoại trừ chính hắn.
6. Chúng tôi xin trả lời vắn tắt như thế này, --Các hạn từ “biết” và “cho đến khi” trong ngôn ngữ của Thánh Kinh có thể có hai nghĩa. Như chữ đầu chẳng hạn, tuy hắn dẫn giải để ta thấy phải hiểu như nó ám chỉ việc giao hợp tính dục, tuy nhiên không ai chối cãi nó cũng thường được dùng để chỉ nghĩa hiểu biết nữa, như trong câu “con trẻ Giêsu còn nấn ná ở lại Giêrusalem; mà cha mẹ ngài không biết”. Bây giờ, ta hãy chứng tỏ rằng cũng như trường hợp vừa rồi, việc hắn sử dụng hạn từ “cho đến khi” cũng sẽ bị bác bỏ hoàn toàn bằng chính thế giá của Thánh Kinh, là chữ thường được hiểu chỉ về một thời điểm nhất định (chính hắn ta bảo vậy), nhưng đôi khi cũng không chỉ thời điểm nhất định nào, tỷ dụ khi Chúa dùng miệng tiên tri mà phán với một số người: “ta là đấng ấy cho đến khi chúng già” Liệu có phải vì thế mà Ngài hết là Chúa khi họ đã già đâu? Còn Chúa Cứu Thế thì phán với các Tông đồ trong Phúc âm: “Này thầy ở với chúng con luôn mãi, cho đến ngày tận thế”(Mt 28:20). Liệu có phải như thế là Chúa sẽ quên các Tông đồ sau khi thế đã tận không, và cứ mỗi khi ngồi trên 12 ngôi để phán xử 12 chi họ Israel, các vị không còn có Chúa bên cạnh nữa hay sao? Lại nữa, khi Tông đồ Phaolô viết cho tín hữu Côrintô rằng “Mở đường là Chúa Kitô, rồi khi Chúa Kitô quang lâm, thì đến lượt những kẻ thuộc về Người. Sau đó mọi sự đều hoàn tất, khi Người đã tiêu diệt hết mọi quản thần, mọi quyền thần và mọi dũng thần, rồi trao vương quyền lại cho Thiên Chúa là Cha. Thật vậy, Chúa Kitô phải nắm vững vương quyền cho đến khi Thiên Chúa đặt mọi thù địch dưới chân Người” (1Cor 15:23-25). Dù đoạn văn này có ý nói đến bản tính nhân loại của Chúa, ta cũng không thể chối cãi là chúng có ý đề cập đến việc Ngài chịu chết trên Thánh giá để sau đó được ngồi bên tay phải (Thiên Chúa). Nhưng Thánh Phaolô có ý chỉ gì khi nói “cho đến khi Thiên Chúa đặt mọi thù địch dưới chân Người”? Có phải Chúa chỉ trị vì cho đến lúc mọi kẻ thù đã ở dưới chân Người rồi hay không, nên khi chúng vừa ở dưới chân Người thì Người hết trị vì? Không phải thế đâu, trái lại, triều đại Người sẽ viên mãn khi mọi kẻ thù đều đã phục dưới chân Người. Cũng thế, Đavit, trong Ca khúc Lên Đền thứ tư, đã nói như sau: “Này đây, như đôi mắt bày tôi ngước nhìn tay chủ thế nào, như đôi mắt nữ tỳ ngước nhìn lên tay nữ chủ ra sao, mắt chúng con cũng ngước nhìn lên Chúa, Chúa chúng con, như vậy, cho đến khi Ngài tỏ lòng từ bi trên chúng con” (Tv 123:2). Có phải như thế là tiên tri nhà ta chỉ nhìn lên Chúa cho đến khi nhận được lòng từ bi của Ngài, và khi đã nhận được lòng từ bi của Ngài rồi, thì bèn quay nhìn xuống đất chăng? dù ở một nơi khác, ông có nói: “mắt con không nhìn thấy ơn Ngài cứu độ, và lời công chính của Ngài” (Tv 119:123). Còn muôn vàn những thí dụ như thế để có thể kể ra đây ngõ hầu phủ dập cái thói lắm lời của kẻ tấn công ta; tuy nhiên tôi chỉ xin thêm một vài đoạn nữa, ngoài ra xin để độc giả tự tìm ra những câu tương tự.
7. Lời Chúa trong sách Sáng Thế: “Và họ trao cho Gia-cóp nhiều thần ngoại giáo mà họ có trong tay, và nhiều chiếc nhẫn họ đang đeo trên tai; và Gia-cóp dấu chúng xuống cây sồi gần Sechem, rồi mất chúng cho đến ngày nay” (St 35:4). Cũng thế cuối sách Đệ Nhị Luật, ta đọc “Thế là Mô-sen, tôi tớ Chúa, qua đời tại đó trong đất Mô-áp, theo như lời của Chúa. Và họ chôn ông tại thung lũng trong đất Mô-áp ngó qua Beth-pear: nhưng không ai biết mộ phần ông cho đến ngày nay” (Đnl 34:5-6). Chắc chắn ta phải hiểu chữ ngày nay là thời điểm lúc soạn ra câu truyện, bất luận bạn cho chính Mô-sen là tác giả của Ngũ Kinh hay Ezra đã nhuận sắc lại. Cả hai trường hợp, tôi đều không phản đối. Bây giờ vấn đề là các chữ “cho đến ngày nay” ám chỉ hoặc lúc công bố hoặc lúc soạn thảo sách, và nếu thế, thì hãy để hắn chứng minh rằng giờ đây sau bao năm tháng từ cái ngày ấy, các thần ngoại giáo dấu dưới cây sồi kia đã được tìm ra hay mộ phần Mô-sen đã được tìm thấy lại; vì hắn cứ nằng nặc cho rằng điều chưa xẩy ra bao lâu cái thời điểm do chữ “cho đến khi” ấn định chưa xẩy tới, sẽ bắt đầu hiện hữu khi thời điểm ấy xuất hiện. Hắn nên chú ý đến các thành ngữ của Thánh Kinh, và nên hiểu như chúng ta, (chính ở đây hắn bị sa lầy), rằng có những sự việc người ngoài thấy tối nghĩa nếu không được nói rõ ra nhưng lại được những người quen biết hiểu một cách rành mạch, trong khi đó có những sự vật khác ta phải sử dụng đến trí thông minh mới hiểu ra. Vì nếu, khi sự việc còn mới mẻ trong kí ức và đối với những người còn sống đã được thấy Mô-sen, mà mộ phần ông còn không ai hay, thì cả hàng bao năm tháng sau, người ta lại càng không hay biết gì hơn đến mộ phần ấy nữa. Cũng phải giải thích như thế về những điều ta được kể về Giuse. Phúc âm gia vạch cho ta thấy một hoàn cảnh có thể dẫn đến gương mù gương xấu, tức là đức Maria không ăn nằm với chồng cho đến ngày sinh con, và tường thuật như thế để ta thêm chắc chắn hơn rằng bà, người mà Giuse đã kiêng cữ khi còn có chỗ để hoài nghi ý nghĩa của giấc mộng, cũng không ăn nằm với chồng sau khi đã sinh con.
8. Tóm lại, điều tôi muốn biết là tại sao Giuse lại kiêng cữ cho đến ngày bà sinh con? Đương nhiên Helviđiô sẽ đáp ngay là vì ông được thần sứ cho hay “vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần”. Nhưng nên nhớ sau đó ông cũng nghe Thần sứ nói: “Này ông Giuse, con cháu Đavít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về”. Lý do khiến ông bị cấm không được bỏ vợ là để ông đừng nghĩ rằng bà là kẻ ngoại tình. Như thế có đúng là ông bị cấm không được ân ái với vợ không? Há việc ông bị cảnh cáo không được lìa xa vợ đã không hiển nhiên đó sao? Và theo hắn ta, liệu một người công chính có dám nghĩ đến việc đụng đến bà, khi đã biết rằng người con trong bụng bà chính là Con Thiên Chúa không? Tuyệt! Như vậy ta phải tin rằng cũng cái người đàn ông đã từng tin vào giấc mộng như thế hẳn sau đó càng không dám đụng đến vợ khi được các mục đồng kể cho nghe rằng các thần sứ của Chúa đã từ trời xuống báo tin cho họ: “Đừng sợ, này ta mang tới cho các ngươi một tin vui lớn cho toàn dân, vì hôm nay tại thành Đavit, đấng Cứu Thế, tức đấng Kitô của Chúa, đã được sinh ra cho các ngươi” (Lc 2: 10-11); khi mà các thiên thần đã cùng ông đồng thanh ca hát rằng: “Vinh danh Chúa cả trên trời, bình an dưới thế cho người lòng ngay” (Lc 2:14); và khi ông đã thấy Simêon ẵm hài nhi mà thốt lên: “Lạy Chúa, giờ đây xin để tôi tớ Chúa ra đi trong an bình như lời Người đã hứa vì mắt tôi tớ Chúa đã nhìn thấy ơn cứu độ của Người” (Lc 2:29); sau đó ông còn thấy nữ tiên tri Anna, Ba Nhà Đạo sĩ, Ngôi sao, Hêrôđ, các thiên thần; Helviđiô, tôi dám nói thế, cứ khăng khăng thuyết phục ta phải tin rằng Giuse, dù đã quen thuộc với những dấu lạ điềm thiêng kia, vẫn cứ dám đụng tới đền thờ của Thiên Chúa, nơi ngụ cư của Chúa Thánh Thần, là chính Mẹ của Thiên Chúa ông ta? Maria, trong mọi biến cố, luôn “giữ mọi điều nghe thấy trong tâm hồn” (Lc 2:51). Ngươi không thể trâng tráo mà cho rằng Giuse không biết gì đến những điều ấy, vì Luca cho hay “Cha Người và Mẹ Người hết sức lạ lùng về những điều người ta nói về Người” (Lc 2:23). Thế nhưng ngươi vẫn trâng tráo cho rằng các bản Hy-Lạp bị sai lạc, mặc dù hầu như mọi nhà trước tác Hy-Lạp đều đề cập đến việc ấy với chúng ta trong các bản viết của họ, và không phải chỉ có thế mà thôi, mà một số văn sĩ La-Tinh cũng có những lời như thế theo cùng một cách như vậy. Giờ đây, ta cũng chẳng cần phải sét đến những dị biệt của các bản chép làm chi nữa, vì trọn bộ Cựu và Tân Ước kể từ ngày ấy đã được dịch sang La-Tinh, và ta có thể tin rằng nước giếng trong hơn nước trên nguồn.
“Anh em” của Chúa là anh em họ của Ngài, chứ không phải anh em ruột.
9. Helviđiô sẽ trả lời, “điều anh nói, theo thiển ý, chỉ là chuyện tầm phào. Các luận chứng của anh chỉ làm mất thì giờ, vì cuộc bàn luận của anh chỉ cho thấy cái tài uyên bác chứ đâu phải là sự thật. Tại sao Thánh Kinh không nói, như đã nói về Thamar và Judah, ‘Anh ta rước vợ về, và không biết nàng nữa’ (St 38:26)? Phải chăng Matthêu không tìm được lời để diễn cái ý của mình? mà lại viết “Ông không ăn ở với bà, cho đến khi bà sinh một con trai”. Như thế rõ ràng là ông ăn ở với bà sau khi bà sinh con, người mà ông kiêng cữ không ăn nằm với cho đến khi bà sinh con.
10. Nếu ngươi tranh cãi kiểu đó, thì tư tưởng ngươi đã thành ông chúa của ngươi rồi đấy. Ngươi không được để bất cứ khoảng thời gian nào chen vào giữa lúc sinh và lúc giao hợp. Ngươi không được nói, “Khi một người đàn bà có thai và sinh, thì sẽ ra ô uế trong vòng bẩy ngày, nó sẽ ra ô uế như những ngày bị khó ở vì kinh nguyệt. Đến ngày thứ tám, đứa trẻ sẽ được cắt bì nơi da qui đầu. Rồi người đàn bà phải đợi ba mươi ba ngày cho máu được thanh tẩy; nó không được đụng đến vật thánh nào” (Lv 12:2-4) v.v... Vì trong trình bày của ngươi, Giuse phải lập tức lại gần bà và do đó chịu lời quở mắng của Giêrêmia, “chúng là những con ngựa động cỡn và bất kham: đứa nào cũng hú hí với vợ hàng xóm” (Gr 5:8). Chứ nếu không làm sao câu văn kia đúng được “Ông không ăn ở với bà cho đến khi bà sinh một con trai”? nếu phải đợi cho đến khi hết kỳ thanh tẩy, các thèm muốn phải chịu kìm hãm trong bốn mươi ngày dài đằng đẵng? Người mẹ như thế sẽ không được thanh tẩy khỏi cái dơ bẩn của giường đẻ, và đứa con khóc như di phải trao cho vú nuôi trông coi, để cho ông chồng vồ lấy người vợ đang mệt nhoài của mình. Như thế, cuộc hôn nhân mới thực sự bắt đầu để Phúc âm gia khỏi bị tố cáo là giả tạo chứ. Nhưng Thiên Chúa đâu chịu để ta có cơ hội suy nghĩ như thế về Mẹ đấng Cứu Thế và về một người đàn ông công chính như vậy. Đâu có vú nuôi giúp lúc sinh; làm gì có người đàn bà nào lăng xăng can thiệp. Bà phải tự tay quấn tã cho con, vừa làm mẹ vừa phải làm bà đỡ, và “đặt con vào máng cỏ, vì không có phòng cho họ tại quán trọ” (Lc 2:7), một câu văn một mặt đã đánh đổ tính mê dại của các trình thuật ngụy thư, vì chính đức Maria đã phải tự tay quấn tã cho con, và mặt khác đã làm cho ý niệm đầy xác thịt của Helviđiô trở thành không thể có được, vì làm gì có chỗ để diễn ra cảnh ân ái vợ chồng cho hai vị được.
11. Câu trả lời như thế đã đầy đủ đối với điều hắn đưa ra liên quan đến các chữ “trước khi ông bà về chung sống” và “ông không ăn ở với bà cho đến khi bà sinh một con trai”. Giờ đây, để cho câu trả lời của tôi theo đúng thứ tự trong luận chứng của hắn, tôi xin qua điểm ba. Theo hắn thì đức Maria còn sinh nhiều người con khác, vì hắn trích đoạn văn sau đây: “Và Giuse cũng trẩy đi thành Đavid để khai tên cùng với Maria, người đã đính hôn với ông, lúc đó đang có thai. Và xẩy ra là lúc họ đang ở đó, thì bà đến kỳ mãn nguyệt khai hoa, và bà đã hạ sinh người con trai đầu lòng của mình” (Lc 2:5-6). Từ câu văn đó hắn diễn dịch rằng hạn từ “con đầu lòng” chỉ được áp dụng cho một người nếu người đó có anh em khác nữa, còn nếu là con một thì phải gọi là con độc nhất.
12. Quan điểm của chúng tôi như sau: người con độc nhất nào cũng là người con đầu lòng, nhưng không phải người con đầu lòng nào cũng là người con độc nhất. Chúng tôi hiểu hạn từ con đầu lòng không những chỉ là người con mà sau đó còn có những người con khác, mà cũng là người con mà trước đó không có người con nào cả. Thiên Chúa đã phán với Aaron như sau: “mọi sự khai trương dạ xác phàm mà người ta hiến dâng cho Chúa, kể cả người lẫn thú vật, đều thuộc về ta: tuy vậy ngươi phải chuộc đứa con đầu lòng của người ta, và đứa con đầu lòng của các thú vật dơ bẩn” (Xh 13:12). Như thế lời Chúa đã xác định rằng đứa con đầu lòng là đứa con khai trương dạ mẹ. Chứ nếu tước hiệu ấy chỉ thuộc về những ai có em, thì làm sao các thày tế lễ có quyền đòi hỏi đứa thứ nhất trước khi những đứa em của nó ra đời, kẻo rất có thể không có lần sinh sau thì nó phải chứng minh nó là đứa con đầu chứ không phải chỉ là đứa con duy nhất. “Còn những con phải được chuộc, ngươi phải chuộc chúng lúc một tháng, theo sự ước lượng của ngươi bằng tiền là 5 shekels, tính bằng đồng shekel của đền thờ (trị giá bằng 20 gerahs). Nhưng những con đầu lòng của bò, của chiên và dê, thì ngươi không cần chuộc; vì chúng là thánh” (Ds 18:16-17). Lời Chúa buộc tôi phải dâng hiến cho Ngài bất cứ con vật nào khai trương lòng dạ mẹ nếu đó là con vật sạch: nếu là con vật dơ, tôi phải chuộc chúng và trao tiền chuộc đó cho các thầy Tế lễ. Có thể tôi sẽ thưa lại như sau: tại sao Ngài lại buộc tôi vào khoảng thời gian ngắn ngủi chỉ có một tháng? Tại sao Ngài lại nói về đứa con đầu lòng trong khi chính tôi không biết liệu còn có những đứa em của nó sinh ra nữa không? Hãy đợi đến khi đứa thứ hai sinh ra rồi hãy hay. Tôi sẽ không nợ thầy tế lễ chi hết, trước khi đứa thứ hai sinh ra khiến cho đứa thứ nhất tôi có trước đây trở thành đứa con đầu lòng. Há chính những chữ kia đã không lên tiếng chỉ trích và kết án tôi điên rồi hay sao, vì danh hiệu con đầu lòng là cái tước áp dụng cho bất cứ đứa nào khai trương dạ mẹ, chứ không chỉ giới hạn vào những đứa có em? Và rồi hãy lấy trường hợp của Gioan: chúng ta đồng ý ông là con trai duy nhất: nhưng tôi muốn biết liệu ông có phải cũng là con đầu lòng không, và ông có tuyệt đối phục tùng lề luật hay không. Về vấn đề này thì chẳng còn hồ nghi chi nữa. Còn về đấng Cứu Thế, thì Thánh Kinh đã nói như thế này: “Và khi ngày thanh tẩy theo luật Mô-sen của bà đã đến, họ mang hài nhi lên Giêrusalem để dâng cho Thiên Chúa (như đã chép trong Luật rằng mọi trẻ nam đầu lòng đều được gọi là thánh đối với Thiên Chúa) và dâng một lễ hy sinh theo như đã ghi chép trong Luật của Chúa là một cặp chim gáy và hai con bồ câu” (LC 2: 22-24). Nếu luật này chỉ liên hệ đến con đầu lòng, và sẽ không có con đầu lòng nếu không có những đứa con sau, thì không ai bị buộc theo luật con đầu lòng nếu họ chưa biết liệu họ có những đứa con khác hay không. Nhưng bao lâu người không có em trai mà vẫn bị trói buộc vào luật con đầu lòng, thì ta phải kết luận rằng được gọi là con đầu lòng bất cứ ai khai trương dạ mẹ mà trước đó chưa có ai khai trương cả, chứ không phải người sinh (đầu tiên) và sau đó còn nhiều em khác. Trong sách Xuất Hành, Mô-sen viết như sau: “Và qua nửa đêm, Thiên Chúa đánh mọi con đầu lòng trên đất Ai-Cập, từ con đầu lòng của Pharaoh đang trị vì trên ngôi đến con đầu lòng của tên tội đồ đang bị giam trong ngục, và mọi con đầu lòng của thú vật” (Xh 12:29). Hãy cho tôi hay những trẻ bị giết kia có phải chỉ là con đầu lòng hay còn tóm luôn cả con một nữa? Nếu chỉ những trẻ có em mới gọi là con đầu lòng, thì những con duy nhất phải thoát chết mới đúng chứ. Còn nếu thực tế cả những con duy nhất cũng bị sát hại nữa, thì điều ấy đi ngược với án phạt đã được công bố rồi, vì cả con một lẫn con đầu lòng đều bị sát phạt cả. Ngươi phải hoặc là tha những đứa con một, và như thế ngươi quả là kỳ cục, hoặc là cứ để chúng bị sát phạt, thì chúng ta thắng, dù chúng ta không cám ơn ngươi, chỉ là vì con một cũng là con đầu lòng mà thôi.
CUỘC BÚT CHIẾN CỦA THÁNH GIÊRÔM
Cuộc bút chiến của Thánh Giêrôm với Helviđiô về việc Đức Mẹ trọn đời đồng trinh vừa cho thấy tư tưởng thâm thúy của một trong những giáo phụ sáng chói của Giáo Hội vừa cho thấy văn phong bút chiến của một vị thánh, dù là thánh lớn và thuộc thời sơ khai của Giáo Hội, vẫn không kém sắc bén và thú vị như văn phong bút chiến của bất cứ ai khác.
Bài này xuất hiện khỏang năm 383, lúc cả thánh Giêrôm lẫn Helviđiô đều đang có mặt tại Rôma, và Đức Đamasô đang trị vì ngôi giáo hoàng (người ta chỉ còn biết được những gì Helviđiô viết là do Thánh Giêrôm thuật lại trong bài này). Vấn đề tranh luận lúc đó là liệu Thân Mẫu Chúa Giêsu có còn đồng trinh sau khi đã sinh hạ ra Ngài hay không. Helviđiô chủ trương rằng vì Phúc âm nhắc đến “các chị em” và “các anh em” của Chúa nên rõ ràng Đức Mẹ có những người con khác sau khi sinh ra Chúa Giêsu, ông dựa suy luận của mình vào các trước tác của Tertuliô và Victorinô. Hệ luận là đức đồng trinh phải được xếp sau hôn nhân.
Thánh Giêrôm mạnh mẽ đứng về phía đối lập và đưa ra ba mệnh đề chống lại Helviđiô:
1. Thánh Giuse chỉ là chồng Đức Mẹ trên danh nghĩa chứ không phải chồng thật.
2. “Anh em” của Chúa là anh em họ của Ngài, chứ không phải anh em ruột.
3. Bậc đồng trinh tốt hơn bậc vợ chồng.
Mệnh đề đầu được bàn đến trong các số từ 3 đến 8, cố ý nhận định về đoạn Phúc âm Matthêu 1:18-25, nhất là các từ “Trước khi hai ông bà về chung sống” (số 4) và “không ăn ở với bà cho đến khi” (số 5-8). Mệnh đề hai (9-17) đề cập đến các từ “con đầu lòng” (9-10), mà theo Thánh Giêrôm áp dụng cho người con cả của nhiều anh em, nhưng cũng áp dụng cho người con một nữa. Còn “các anh em” là ám chỉ các con của bà Maria, vợ của Cleopas hay Clopas (11-16). Ngài dùng nhiều trước tác của các giáo phụ khác để bênh vực quan điểm của mình (17). Trong khi bênh vực việc Ngài coi trọng đức đồng trinh hơn bậc vợ chồng, Thánh Giêrôm cho rằng không những Đức Mẹ, mà thánh Giuse cũng giữ mình đồng trinh (19), và mặc dù hôn nhân là bậc sống thánh thiện, nhưng đôi khi nó gây trở ngại cho việc cầu nguyện. Đàng khác, giáo huấn của Thánh Kinh vẫn cho rằng bậc đồng trinh và tiết dục đẹp lòng Chúa hơn bậc vợ chồng (21,22).
NHẬP ĐỀ
1. Gần đây, một số anh em yêu cầu tôi lên tiếng đáp lại bài viết của một người tên Helviđiô. Tôi đã hoãn làm việc ấy không phải vì thấy khó việc bênh vực sự thật cũng như bác bỏ tên lỗ mãng ngu dốt mà sở học chỉ có chút chiu ấy, nhưng vì sợ rằng việc tôi lên tiếng có thể làm hắn được người ta coi là đáng để mình đánh bại. Tuy nhiên cân nhắc thêm thì thấy cái tên gây rối ấy, con người duy nhất trên trần đời tự coi mình vừa là giáo sĩ vừa là giáo dân, con người, như đã nói, coi hùng biện chỉ là lắm lời và nói xấu về người khác như là chứng tỏ mình có một lương tâm tốt, rất có thể sẽ còn nói phạm thượng hơn nữa nếu không cho hắn cơ hội tranh luận. Hắn có thể coi mình như đang chễm chệ ngồi trên bệ cao tự tung tự tác quảng bá quan điểm của mình ra khắp bốn phương. Cũng còn một lý do để sợ rằng khi sự thật không được trình bày cho hắn, hắn có thể sẽ tấn công đối phương bằng vũ khí lăng nhục. Nhưng giờ đây tất cả những lý do ngần ngại trên, dù chính đáng, cũng không còn ảnh hưởng trên tôi nữa, vì những gương mù gương xấu đã gây đến cho nhiều anh em vốn đã trở thành những phát ngôn viên điên dại của hắn. Cái rìu của Phúc âm do đó cần được đặt vào gốc thân cây không sinh hoa trái, và cả nó lẫn cành lá không hoa không quả phải được liệng vào lửa, để Helviđiô, người chưa bao giờ học cách phát ngôn, cuối cùng sẽ phải học cách giữ mồm giữ miệng.
2. Tôi khẩn khoản xin Chúa Thánh Thần dùng miệng tôi mà triển khai điều Ngài muốn nói và bênh vực đức đồng trinh của Đấng Diễm Phúc Maria. Tôi cũng khẩn khoản xin Chúa Giêsu gìn giữ cung lòng thánh thiện mà Ngài đã ngự trong mười tháng trường khỏi mọi hoài nghi của giao hợp tính dục. Và tôi cũng van xin Đức Chúa Cha chứng tỏ cho mọi người thấy rằng thân mẫu của Con Một Ngài, đấng đã là mẹ trước khi là cô dâu, mãi mãi còn đồng trinh sau khi sinh con. Chúng tôi không hề có ý muốn bước chân vào lãnh vực hùng biện cũng như chạy đến với những bẫy rập của các nhà luận lý hay các nguyên lý phức tạp của Aristôt. Chúng tôi chỉ xin diễn dịch các ngôn từ trích từ Thánh Kinh. Xin hãy để hắn bị bác bỏ bởi cùng những chứng cớ mà hắn đã dùng chống lại chúng ta, ngõ hầu hắn thấy được rằng hắn có thể đọc điều đã được viết ra nhưng vẫn không hiểu được câu kết luận vững chắc của một đức tin lành mạnh.
Thánh Giuse chỉ là chồng trên danh nghĩa, chứ không phải chồng thật của Đức Maria
3. Phát biểu đầu tiên của hắn như sau: “Matthêu cho hay: Sau đây là gốc tích Chúa Giêsu Kitô. Bà Maria, mẹ Người, đã đính hôn với ông Giuse. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. Ông Giuse, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. Ông đang tính toán như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: Này ông Giuse, con cháu Đavít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần (Mt. 1:18-20). Xin nhớ rằng, chữ dùng ở đây là đính hôn, chứ không phải được trao phó như qúi vị nghĩ, và dĩ nhiên lý do đính hôn là để một ngày kia thành hôn. Và tác giả Phúc âm sẽ không nói trước khi hai ông bà về chung sống, nếu cuối cùng họ không thực sự về chung sống với nhau, vì chẳng ai lại dùng thuật ngữ trước khi anh ta ăn nếu anh ta không sắp sửa ăn. Còn nữa, sứ thần đã gọi bà là vợ và nói về bà như là người kết hiệp nên một với Giuse. Sau đây, xin hãy lắng nghe chính lời Thánh Kinh: Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà. Ông không ăn ở với bà, cho đến khi bà sinh một con trai” (Mt 1:24-25)
4. Ta hãy lần lượt xét từng điểm một, và cứ đi theo bước chân của tên vô đạo này để chứng minh cho hắn thấy hắn đã tự mâu thuẫn với chính hắn. Hắn nhìn nhận rằng bà mới chỉ đính hôn, nhưng liền một hơi lại nói rằng bà là vợ người đàn ông mà chính hắn đã nhìn nhận là vị hôn phu của bà. Một lần nữa, hắn gọi bà là vợ nhưng rồi lại nói rằng lý do duy nhất bà được đính hôn là để một ngày kia bà thành hôn. Và như sợ rằng ta chưa nghĩ đó là đủ, hắn còn nói: “chữ dùng ở đây là đính hôn, chứ không phải được trao phó, nghĩa là, chưa phải là vợ, chưa kết hiệp nên một qua dây hôn phối”. Nhưng khi hắn tiếp tục thêm rằng “Tác giả Phúc âm sẽ không bao giờ sử dụng những từ ngữ trước khi hai ông bà về chung sống với những người sẽ không về chung sống với nhau hệt như không thể nói trước khi hắn ăn mà thực tế ra hắn lại không ăn”, thì quả tôi không biết nên khóc hay nên cười đây. Liệu có nên kết tội hắn là dốt hay nên kết tội hắn là thiếu suy nghĩ? Hệt như thể, giả thiết người nào đó nói, “trước khi ăn tại bến tầu, tôi dương buồm đi Châu Phi”, lời ông ta nói chỉ có giá trị khi một ngày kia ông ta bó buộc phải ăn tại bến tầu. Nếu tôi nói: “trước khi đi Tây Ban Nha, tông đồ Phaolô bị cùm tù tại Rôma” hoặc (tôi rất muốn nói) “trước khi hối lỗi, Helviđiô bỗng đột ngột qua đời” liệu có phải vì thế mà sau khi được thả, thánh Phaolô phải lập tức đi Tây Ban Nha, hay Helviđiô phải hối lỗi sau khi đã chết không, dù Thánh Kinh có nói: “Trong âm phủ, ai sẽ cảm tạ Ngài?” (Tv 6:6). Đúng hơn, há không phải ta nên hiểu rằng giới từ trước khi, dù vẫn thường chỉ thứ tự trong thời gian, nhưng đôi khi chỉ có ý nói đến thứ tự trong ý nghĩ. Thành thử, nếu có đủ nguyên nhân can thiệp vào khiến chúng không xẩy ra nữa, thì các ý nghĩ của ta đâu có cần thiết phải được thể hiện. Như thế nếu tác giả Phúc âm nói trước khi hai ông bà về chung sống, ngài chỉ muốn nói đến thời gian ngay trước ngày cưới, và cho ta thấy rằng sự việc đã tiến khá xa rồi để người thiếu nữ đính hôn sắp sửa trở thành người vợ. Như thể tác giả muốn nói, trước khi họ ôm hôn nhau, nghĩa là trước khi họ hoàn hợp mối nhân duyên của họ, thì bà bị phát giác là đã có thai. Và người phát giác ra chuyện ấy không ai khác hơn là Giuse, người đã nhìn vào cái bụng đang lớn lên của vị hôn thê với một cái nhìn lo lắng và, lúc ấy, gần như với đặc quyền của một người chồng. Nhưng như trên đã nói, không phải vì vậy mà diễn dịch được là ông sẽ ân ái với Maria sau khi bà đã sinh đứa con kia, vì trước đó, các thèm muốn của ông bị dập tắt vì sự kiện bà đã mang thai. Và mặc dù trong giấc mộng, Giuse được loan báo là “đừng ngại đón bà Maria vợ ông về” và “Khi tỉnh giấc, Ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà”, ta cũng chẳng nên vì thế mà lúng túng, như thể vì được kêu là vợ mà bà hết còn là người đính hôn, vì ai cũng biết rằng trong Thánh Kinh, vốn có thói quen gán cái tước vị ấy cho người đã đính hôn. Chứng cớ sau đây từ Sách Đệ Nhị Luật cho thấy rõ điều đó:”Nếu một người đàn ông gặp một trinh nữ đã đính hôn ở ngoài đồng và cưỡng bức nàng phải ăn nằm với mình, thì anh ta phải chết, vì đã hạ nhục vợ người lân cận mình” (Đnl 22:25). Và ở một đoạn khác, “Nếu là một thiếu nữ còn trinh đã đính hôn với một người chồng, và có người đàn ông gặp nàng nơi phố thị và ăn nằm với nàng; thì các ngươi phải mang cả hai ra khỏi cửa thành mà ném đá chúng cho đến chết; người thiếu nữ vì đã không chịu hô hoán lên khi đang ở nơi phố thị; còn người đàn ông vì đã hạ nhục vợ người lân cận mình: như thế các ngươi sẽ loại được sự dữ xa khỏi các ngươi” (Đnl 22:23-24). Lại nơi khác nữa: “Còn người đàn ông đã đính hôn với vợ nhưng chưa rước nàng về thì sao? Hãy cho anh ta trở về nhà, kẻo anh ta phải chết nơi trận tiền mà người đàn ông khác cướp mất vợ chăng” (Đnl 20:7). Nhưng nếu có ai thắc mắc tại sao Trinh Nữ Maria lại có thai sau khi đã đính hôn hơn là trước khi chưa đính hôn với ai, hay như ngôn ngữ của Thánh Kinh, chưa có chồng, thì tôi xin giải thích như thế này: có ba lý do. Trước nhất, qua gia phả Giuse, mà Maria cũng là người họ hàng, nguồn gốc của Maria cũng được đề cập đến. Thứ hai, nhờ thế bà không bị ném đá như kẻ ngoại tình theo luật Mô-sen. Thứ ba, trong cuộc lánh nạn qua Ai-Cập, bà tìm được nơi nương tựa ủi an, dù chỉ là của người giám hộ chứ không phải của một người chồng. Vì có ai lúc đó lại có thể tin được lời của Trinh Nữ rằng mình thụ thai bởi Chúa Thánh Thần, và rằng thiên thần Gabriel đã đến và loan báo cho bà ý định của Thiên Chúa? hay trái lại mọi người đều sẽ cho bà là đồ ngoại tình giống như Su-san-na? Vì cho đến tận ngày nay, khi cả thế giới đều đã vâng theo đức tin, mà người Do thái vẫn còn cho rằng khi Isaia nói rằng: “kìa một trinh nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai” (Is 7:14) thì ông có ý chỉ một người đàn bà trẻ chứ không phải một người con gái còn trinh, vì chữ ông dùng là ALMAH chứ không phải BETHULAH. Ta sẽ đề cập đến chuyện đó một cách chi tiết sau này. Cuối cùng, ngoại trừ Giuse, Elizabet và chính Maria ra, và có thể một số nhỏ khác ta tin là đã được ba vị này kể cho nghe, ai cũng coi Chúa Giêsu là con của Giuse. Kể cả chính các tác giả Phúc Âm nữa cũng đã theo ý kiến chung của mọi người, một khuôn vàng thước ngọc của bất cứ sử gia nào, mà gọi Giuse là cha Đấng Cứu Thế, như trong đoạn “Được Thần Khí thúc đẩy, ông (Simeon) lên đền thờ. Vào lúc cha mẹ Hài nhi Giêsu đem con tới để chu toàn tập tục Luật đã truyền liên quan đến Người” (Lc 2:27) và nơi khác, “Hằng năm, cha mẹ Chúa Giêsu trẩy hội đền Giêrusalem mừng lễ Vượt Qua” (Lc 2:41). Và sau đó, “Xong kỳ lễ, hai ông bà trở về, còn cậu bé Giêsu thì ở lại Giêrusalem, mà cha mẹ chẳng hay biết” (Lc 2:43). Ta cũng nên lưu ý chính Đức Maria, dù đã dùng những lời lẽ sau đây mà thưa chuyện với Thần sứ Gabriel: “Việc ấy sẽ xẩy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!” (Lc 1:34), cũng đã nói như sau để chỉ về Giuse: “Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!” (Lc 2:48). Ở đây, ngôn từ ấy đâu phải ngôn từ của người Do-Thái hay quân nhạo báng đâu, như nhiều người vốn nghĩ. Chính các Phúc âm gia đã gọi Giuse là cha: đức Maria cũng tuyên xưng ông là cha. Tuy nhiên, như tôi đã nói ở trên, ông Giuse không thực sự là cha của đấng Cứu Thế: ông được mọi người coi là cha của Ngài là để giữ danh thơm tiếng tốt cho Maria, mặc dù trước khi nghe được lời nhắn nhủ của Thần sứ rằng “Này ông Giuse, con cháu Đavít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần” ông đã định tâm bỏ bà cách kín đáo; như thế chứng tỏ ông đã biết rõ đứa bé trong bụng kia không phải là con mình. Thiết nghĩ ta đã chứng minh đủ tại sao Giuse được gọi là cha của Chúa, và tại sao Maria được gọi là vợ của Giuse, với mục đích đưa ra lời giáo huấn chứ không hẳn để trả lời một đối thủ. Điều này cũng một lúc trả lời cho vấn nạn tại sao một số người được gọi là anh em của Chúa.
5. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ bàn riêng đến điểm đó sau này. Bây giờ, chúng tôi xin vội qua vấn đề khác. Đoạn mà ta phải tranh luận bây giờ là: “Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà. Ông không ăn ở với bà, cho đến khi bà sinh một con trai.” Ở đây, trước nhất, chẳng cần đối thủ của ta phải dài dòng chứng tỏ rằng hạn từ "biết" có ý ám chỉ việc giao hợp, chứ không phải hành vi nhận thức thuộc tri thức: như thể có ai đó đã phủ nhận việc ấy hay có ai đó đã tưởng tượng ra điều trái nghĩa khiến Helviđiô phải tốn công bài bác. Sau đó, hắn ta giảng giải để ta biết rằng trạng từ “cho đến khi” có ý ám chỉ một thời điểm nhất định và rõ rệt mà theo hắn khi thời điểm ấy hoàn tất, cái biến cố mà trước đó chưa xẩy ra giờ đây phải xẩy ra, như trường hợp của chúng ta “Không ăn ở với bà, cho đến khi bà sinh một con trai”. Hắn cho hay, rõ ràng là bà đã được “biết” sau khi sinh con, vì cái “biết” ấy chỉ bị đình hoãn vì việc sinh con mà thôi. Để bênh vực cho quan điểm của mình, hắn chất chồng hết văn bản này đến văn bản khác, múa kiếm múa đao như một hiệp sĩ mù, uốn lưỡi uốn môi ồn ào náo nhiệt, để cuối cùng chẳng đả thương được ai ngoại trừ chính hắn.
6. Chúng tôi xin trả lời vắn tắt như thế này, --Các hạn từ “biết” và “cho đến khi” trong ngôn ngữ của Thánh Kinh có thể có hai nghĩa. Như chữ đầu chẳng hạn, tuy hắn dẫn giải để ta thấy phải hiểu như nó ám chỉ việc giao hợp tính dục, tuy nhiên không ai chối cãi nó cũng thường được dùng để chỉ nghĩa hiểu biết nữa, như trong câu “con trẻ Giêsu còn nấn ná ở lại Giêrusalem; mà cha mẹ ngài không biết”. Bây giờ, ta hãy chứng tỏ rằng cũng như trường hợp vừa rồi, việc hắn sử dụng hạn từ “cho đến khi” cũng sẽ bị bác bỏ hoàn toàn bằng chính thế giá của Thánh Kinh, là chữ thường được hiểu chỉ về một thời điểm nhất định (chính hắn ta bảo vậy), nhưng đôi khi cũng không chỉ thời điểm nhất định nào, tỷ dụ khi Chúa dùng miệng tiên tri mà phán với một số người: “ta là đấng ấy cho đến khi chúng già” Liệu có phải vì thế mà Ngài hết là Chúa khi họ đã già đâu? Còn Chúa Cứu Thế thì phán với các Tông đồ trong Phúc âm: “Này thầy ở với chúng con luôn mãi, cho đến ngày tận thế”(Mt 28:20). Liệu có phải như thế là Chúa sẽ quên các Tông đồ sau khi thế đã tận không, và cứ mỗi khi ngồi trên 12 ngôi để phán xử 12 chi họ Israel, các vị không còn có Chúa bên cạnh nữa hay sao? Lại nữa, khi Tông đồ Phaolô viết cho tín hữu Côrintô rằng “Mở đường là Chúa Kitô, rồi khi Chúa Kitô quang lâm, thì đến lượt những kẻ thuộc về Người. Sau đó mọi sự đều hoàn tất, khi Người đã tiêu diệt hết mọi quản thần, mọi quyền thần và mọi dũng thần, rồi trao vương quyền lại cho Thiên Chúa là Cha. Thật vậy, Chúa Kitô phải nắm vững vương quyền cho đến khi Thiên Chúa đặt mọi thù địch dưới chân Người” (1Cor 15:23-25). Dù đoạn văn này có ý nói đến bản tính nhân loại của Chúa, ta cũng không thể chối cãi là chúng có ý đề cập đến việc Ngài chịu chết trên Thánh giá để sau đó được ngồi bên tay phải (Thiên Chúa). Nhưng Thánh Phaolô có ý chỉ gì khi nói “cho đến khi Thiên Chúa đặt mọi thù địch dưới chân Người”? Có phải Chúa chỉ trị vì cho đến lúc mọi kẻ thù đã ở dưới chân Người rồi hay không, nên khi chúng vừa ở dưới chân Người thì Người hết trị vì? Không phải thế đâu, trái lại, triều đại Người sẽ viên mãn khi mọi kẻ thù đều đã phục dưới chân Người. Cũng thế, Đavit, trong Ca khúc Lên Đền thứ tư, đã nói như sau: “Này đây, như đôi mắt bày tôi ngước nhìn tay chủ thế nào, như đôi mắt nữ tỳ ngước nhìn lên tay nữ chủ ra sao, mắt chúng con cũng ngước nhìn lên Chúa, Chúa chúng con, như vậy, cho đến khi Ngài tỏ lòng từ bi trên chúng con” (Tv 123:2). Có phải như thế là tiên tri nhà ta chỉ nhìn lên Chúa cho đến khi nhận được lòng từ bi của Ngài, và khi đã nhận được lòng từ bi của Ngài rồi, thì bèn quay nhìn xuống đất chăng? dù ở một nơi khác, ông có nói: “mắt con không nhìn thấy ơn Ngài cứu độ, và lời công chính của Ngài” (Tv 119:123). Còn muôn vàn những thí dụ như thế để có thể kể ra đây ngõ hầu phủ dập cái thói lắm lời của kẻ tấn công ta; tuy nhiên tôi chỉ xin thêm một vài đoạn nữa, ngoài ra xin để độc giả tự tìm ra những câu tương tự.
7. Lời Chúa trong sách Sáng Thế: “Và họ trao cho Gia-cóp nhiều thần ngoại giáo mà họ có trong tay, và nhiều chiếc nhẫn họ đang đeo trên tai; và Gia-cóp dấu chúng xuống cây sồi gần Sechem, rồi mất chúng cho đến ngày nay” (St 35:4). Cũng thế cuối sách Đệ Nhị Luật, ta đọc “Thế là Mô-sen, tôi tớ Chúa, qua đời tại đó trong đất Mô-áp, theo như lời của Chúa. Và họ chôn ông tại thung lũng trong đất Mô-áp ngó qua Beth-pear: nhưng không ai biết mộ phần ông cho đến ngày nay” (Đnl 34:5-6). Chắc chắn ta phải hiểu chữ ngày nay là thời điểm lúc soạn ra câu truyện, bất luận bạn cho chính Mô-sen là tác giả của Ngũ Kinh hay Ezra đã nhuận sắc lại. Cả hai trường hợp, tôi đều không phản đối. Bây giờ vấn đề là các chữ “cho đến ngày nay” ám chỉ hoặc lúc công bố hoặc lúc soạn thảo sách, và nếu thế, thì hãy để hắn chứng minh rằng giờ đây sau bao năm tháng từ cái ngày ấy, các thần ngoại giáo dấu dưới cây sồi kia đã được tìm ra hay mộ phần Mô-sen đã được tìm thấy lại; vì hắn cứ nằng nặc cho rằng điều chưa xẩy ra bao lâu cái thời điểm do chữ “cho đến khi” ấn định chưa xẩy tới, sẽ bắt đầu hiện hữu khi thời điểm ấy xuất hiện. Hắn nên chú ý đến các thành ngữ của Thánh Kinh, và nên hiểu như chúng ta, (chính ở đây hắn bị sa lầy), rằng có những sự việc người ngoài thấy tối nghĩa nếu không được nói rõ ra nhưng lại được những người quen biết hiểu một cách rành mạch, trong khi đó có những sự vật khác ta phải sử dụng đến trí thông minh mới hiểu ra. Vì nếu, khi sự việc còn mới mẻ trong kí ức và đối với những người còn sống đã được thấy Mô-sen, mà mộ phần ông còn không ai hay, thì cả hàng bao năm tháng sau, người ta lại càng không hay biết gì hơn đến mộ phần ấy nữa. Cũng phải giải thích như thế về những điều ta được kể về Giuse. Phúc âm gia vạch cho ta thấy một hoàn cảnh có thể dẫn đến gương mù gương xấu, tức là đức Maria không ăn nằm với chồng cho đến ngày sinh con, và tường thuật như thế để ta thêm chắc chắn hơn rằng bà, người mà Giuse đã kiêng cữ khi còn có chỗ để hoài nghi ý nghĩa của giấc mộng, cũng không ăn nằm với chồng sau khi đã sinh con.
8. Tóm lại, điều tôi muốn biết là tại sao Giuse lại kiêng cữ cho đến ngày bà sinh con? Đương nhiên Helviđiô sẽ đáp ngay là vì ông được thần sứ cho hay “vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần”. Nhưng nên nhớ sau đó ông cũng nghe Thần sứ nói: “Này ông Giuse, con cháu Đavít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về”. Lý do khiến ông bị cấm không được bỏ vợ là để ông đừng nghĩ rằng bà là kẻ ngoại tình. Như thế có đúng là ông bị cấm không được ân ái với vợ không? Há việc ông bị cảnh cáo không được lìa xa vợ đã không hiển nhiên đó sao? Và theo hắn ta, liệu một người công chính có dám nghĩ đến việc đụng đến bà, khi đã biết rằng người con trong bụng bà chính là Con Thiên Chúa không? Tuyệt! Như vậy ta phải tin rằng cũng cái người đàn ông đã từng tin vào giấc mộng như thế hẳn sau đó càng không dám đụng đến vợ khi được các mục đồng kể cho nghe rằng các thần sứ của Chúa đã từ trời xuống báo tin cho họ: “Đừng sợ, này ta mang tới cho các ngươi một tin vui lớn cho toàn dân, vì hôm nay tại thành Đavit, đấng Cứu Thế, tức đấng Kitô của Chúa, đã được sinh ra cho các ngươi” (Lc 2: 10-11); khi mà các thiên thần đã cùng ông đồng thanh ca hát rằng: “Vinh danh Chúa cả trên trời, bình an dưới thế cho người lòng ngay” (Lc 2:14); và khi ông đã thấy Simêon ẵm hài nhi mà thốt lên: “Lạy Chúa, giờ đây xin để tôi tớ Chúa ra đi trong an bình như lời Người đã hứa vì mắt tôi tớ Chúa đã nhìn thấy ơn cứu độ của Người” (Lc 2:29); sau đó ông còn thấy nữ tiên tri Anna, Ba Nhà Đạo sĩ, Ngôi sao, Hêrôđ, các thiên thần; Helviđiô, tôi dám nói thế, cứ khăng khăng thuyết phục ta phải tin rằng Giuse, dù đã quen thuộc với những dấu lạ điềm thiêng kia, vẫn cứ dám đụng tới đền thờ của Thiên Chúa, nơi ngụ cư của Chúa Thánh Thần, là chính Mẹ của Thiên Chúa ông ta? Maria, trong mọi biến cố, luôn “giữ mọi điều nghe thấy trong tâm hồn” (Lc 2:51). Ngươi không thể trâng tráo mà cho rằng Giuse không biết gì đến những điều ấy, vì Luca cho hay “Cha Người và Mẹ Người hết sức lạ lùng về những điều người ta nói về Người” (Lc 2:23). Thế nhưng ngươi vẫn trâng tráo cho rằng các bản Hy-Lạp bị sai lạc, mặc dù hầu như mọi nhà trước tác Hy-Lạp đều đề cập đến việc ấy với chúng ta trong các bản viết của họ, và không phải chỉ có thế mà thôi, mà một số văn sĩ La-Tinh cũng có những lời như thế theo cùng một cách như vậy. Giờ đây, ta cũng chẳng cần phải sét đến những dị biệt của các bản chép làm chi nữa, vì trọn bộ Cựu và Tân Ước kể từ ngày ấy đã được dịch sang La-Tinh, và ta có thể tin rằng nước giếng trong hơn nước trên nguồn.
“Anh em” của Chúa là anh em họ của Ngài, chứ không phải anh em ruột.
9. Helviđiô sẽ trả lời, “điều anh nói, theo thiển ý, chỉ là chuyện tầm phào. Các luận chứng của anh chỉ làm mất thì giờ, vì cuộc bàn luận của anh chỉ cho thấy cái tài uyên bác chứ đâu phải là sự thật. Tại sao Thánh Kinh không nói, như đã nói về Thamar và Judah, ‘Anh ta rước vợ về, và không biết nàng nữa’ (St 38:26)? Phải chăng Matthêu không tìm được lời để diễn cái ý của mình? mà lại viết “Ông không ăn ở với bà, cho đến khi bà sinh một con trai”. Như thế rõ ràng là ông ăn ở với bà sau khi bà sinh con, người mà ông kiêng cữ không ăn nằm với cho đến khi bà sinh con.
10. Nếu ngươi tranh cãi kiểu đó, thì tư tưởng ngươi đã thành ông chúa của ngươi rồi đấy. Ngươi không được để bất cứ khoảng thời gian nào chen vào giữa lúc sinh và lúc giao hợp. Ngươi không được nói, “Khi một người đàn bà có thai và sinh, thì sẽ ra ô uế trong vòng bẩy ngày, nó sẽ ra ô uế như những ngày bị khó ở vì kinh nguyệt. Đến ngày thứ tám, đứa trẻ sẽ được cắt bì nơi da qui đầu. Rồi người đàn bà phải đợi ba mươi ba ngày cho máu được thanh tẩy; nó không được đụng đến vật thánh nào” (Lv 12:2-4) v.v... Vì trong trình bày của ngươi, Giuse phải lập tức lại gần bà và do đó chịu lời quở mắng của Giêrêmia, “chúng là những con ngựa động cỡn và bất kham: đứa nào cũng hú hí với vợ hàng xóm” (Gr 5:8). Chứ nếu không làm sao câu văn kia đúng được “Ông không ăn ở với bà cho đến khi bà sinh một con trai”? nếu phải đợi cho đến khi hết kỳ thanh tẩy, các thèm muốn phải chịu kìm hãm trong bốn mươi ngày dài đằng đẵng? Người mẹ như thế sẽ không được thanh tẩy khỏi cái dơ bẩn của giường đẻ, và đứa con khóc như di phải trao cho vú nuôi trông coi, để cho ông chồng vồ lấy người vợ đang mệt nhoài của mình. Như thế, cuộc hôn nhân mới thực sự bắt đầu để Phúc âm gia khỏi bị tố cáo là giả tạo chứ. Nhưng Thiên Chúa đâu chịu để ta có cơ hội suy nghĩ như thế về Mẹ đấng Cứu Thế và về một người đàn ông công chính như vậy. Đâu có vú nuôi giúp lúc sinh; làm gì có người đàn bà nào lăng xăng can thiệp. Bà phải tự tay quấn tã cho con, vừa làm mẹ vừa phải làm bà đỡ, và “đặt con vào máng cỏ, vì không có phòng cho họ tại quán trọ” (Lc 2:7), một câu văn một mặt đã đánh đổ tính mê dại của các trình thuật ngụy thư, vì chính đức Maria đã phải tự tay quấn tã cho con, và mặt khác đã làm cho ý niệm đầy xác thịt của Helviđiô trở thành không thể có được, vì làm gì có chỗ để diễn ra cảnh ân ái vợ chồng cho hai vị được.
11. Câu trả lời như thế đã đầy đủ đối với điều hắn đưa ra liên quan đến các chữ “trước khi ông bà về chung sống” và “ông không ăn ở với bà cho đến khi bà sinh một con trai”. Giờ đây, để cho câu trả lời của tôi theo đúng thứ tự trong luận chứng của hắn, tôi xin qua điểm ba. Theo hắn thì đức Maria còn sinh nhiều người con khác, vì hắn trích đoạn văn sau đây: “Và Giuse cũng trẩy đi thành Đavid để khai tên cùng với Maria, người đã đính hôn với ông, lúc đó đang có thai. Và xẩy ra là lúc họ đang ở đó, thì bà đến kỳ mãn nguyệt khai hoa, và bà đã hạ sinh người con trai đầu lòng của mình” (Lc 2:5-6). Từ câu văn đó hắn diễn dịch rằng hạn từ “con đầu lòng” chỉ được áp dụng cho một người nếu người đó có anh em khác nữa, còn nếu là con một thì phải gọi là con độc nhất.
12. Quan điểm của chúng tôi như sau: người con độc nhất nào cũng là người con đầu lòng, nhưng không phải người con đầu lòng nào cũng là người con độc nhất. Chúng tôi hiểu hạn từ con đầu lòng không những chỉ là người con mà sau đó còn có những người con khác, mà cũng là người con mà trước đó không có người con nào cả. Thiên Chúa đã phán với Aaron như sau: “mọi sự khai trương dạ xác phàm mà người ta hiến dâng cho Chúa, kể cả người lẫn thú vật, đều thuộc về ta: tuy vậy ngươi phải chuộc đứa con đầu lòng của người ta, và đứa con đầu lòng của các thú vật dơ bẩn” (Xh 13:12). Như thế lời Chúa đã xác định rằng đứa con đầu lòng là đứa con khai trương dạ mẹ. Chứ nếu tước hiệu ấy chỉ thuộc về những ai có em, thì làm sao các thày tế lễ có quyền đòi hỏi đứa thứ nhất trước khi những đứa em của nó ra đời, kẻo rất có thể không có lần sinh sau thì nó phải chứng minh nó là đứa con đầu chứ không phải chỉ là đứa con duy nhất. “Còn những con phải được chuộc, ngươi phải chuộc chúng lúc một tháng, theo sự ước lượng của ngươi bằng tiền là 5 shekels, tính bằng đồng shekel của đền thờ (trị giá bằng 20 gerahs). Nhưng những con đầu lòng của bò, của chiên và dê, thì ngươi không cần chuộc; vì chúng là thánh” (Ds 18:16-17). Lời Chúa buộc tôi phải dâng hiến cho Ngài bất cứ con vật nào khai trương lòng dạ mẹ nếu đó là con vật sạch: nếu là con vật dơ, tôi phải chuộc chúng và trao tiền chuộc đó cho các thầy Tế lễ. Có thể tôi sẽ thưa lại như sau: tại sao Ngài lại buộc tôi vào khoảng thời gian ngắn ngủi chỉ có một tháng? Tại sao Ngài lại nói về đứa con đầu lòng trong khi chính tôi không biết liệu còn có những đứa em của nó sinh ra nữa không? Hãy đợi đến khi đứa thứ hai sinh ra rồi hãy hay. Tôi sẽ không nợ thầy tế lễ chi hết, trước khi đứa thứ hai sinh ra khiến cho đứa thứ nhất tôi có trước đây trở thành đứa con đầu lòng. Há chính những chữ kia đã không lên tiếng chỉ trích và kết án tôi điên rồi hay sao, vì danh hiệu con đầu lòng là cái tước áp dụng cho bất cứ đứa nào khai trương dạ mẹ, chứ không chỉ giới hạn vào những đứa có em? Và rồi hãy lấy trường hợp của Gioan: chúng ta đồng ý ông là con trai duy nhất: nhưng tôi muốn biết liệu ông có phải cũng là con đầu lòng không, và ông có tuyệt đối phục tùng lề luật hay không. Về vấn đề này thì chẳng còn hồ nghi chi nữa. Còn về đấng Cứu Thế, thì Thánh Kinh đã nói như thế này: “Và khi ngày thanh tẩy theo luật Mô-sen của bà đã đến, họ mang hài nhi lên Giêrusalem để dâng cho Thiên Chúa (như đã chép trong Luật rằng mọi trẻ nam đầu lòng đều được gọi là thánh đối với Thiên Chúa) và dâng một lễ hy sinh theo như đã ghi chép trong Luật của Chúa là một cặp chim gáy và hai con bồ câu” (LC 2: 22-24). Nếu luật này chỉ liên hệ đến con đầu lòng, và sẽ không có con đầu lòng nếu không có những đứa con sau, thì không ai bị buộc theo luật con đầu lòng nếu họ chưa biết liệu họ có những đứa con khác hay không. Nhưng bao lâu người không có em trai mà vẫn bị trói buộc vào luật con đầu lòng, thì ta phải kết luận rằng được gọi là con đầu lòng bất cứ ai khai trương dạ mẹ mà trước đó chưa có ai khai trương cả, chứ không phải người sinh (đầu tiên) và sau đó còn nhiều em khác. Trong sách Xuất Hành, Mô-sen viết như sau: “Và qua nửa đêm, Thiên Chúa đánh mọi con đầu lòng trên đất Ai-Cập, từ con đầu lòng của Pharaoh đang trị vì trên ngôi đến con đầu lòng của tên tội đồ đang bị giam trong ngục, và mọi con đầu lòng của thú vật” (Xh 12:29). Hãy cho tôi hay những trẻ bị giết kia có phải chỉ là con đầu lòng hay còn tóm luôn cả con một nữa? Nếu chỉ những trẻ có em mới gọi là con đầu lòng, thì những con duy nhất phải thoát chết mới đúng chứ. Còn nếu thực tế cả những con duy nhất cũng bị sát hại nữa, thì điều ấy đi ngược với án phạt đã được công bố rồi, vì cả con một lẫn con đầu lòng đều bị sát phạt cả. Ngươi phải hoặc là tha những đứa con một, và như thế ngươi quả là kỳ cục, hoặc là cứ để chúng bị sát phạt, thì chúng ta thắng, dù chúng ta không cám ơn ngươi, chỉ là vì con một cũng là con đầu lòng mà thôi.