Cielito Almazan Ofm
Phan Du Sinh chuyển ý
Bài đọc 1: I-sai-a 8,23-9,3
23 Thời đầu, Người đã hạ nhục đất Dơ-vu-lun và đất Náp-ta-li, nhưng thời sau, Người sẽ làm vẻ vang cho con đường ra biển, miền bên kia sông Gio-đan, vùng đất của dân ngoại.
1 Dân đang lần bước giữa tối tăm
đã thấy một ánh sáng huy hoàng;
đám người sống trong vùng bóng tối,
nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi.
2 Chúa đã ban chứa chan niềm hoan hỷ,
đã tăng thêm nỗi vui mừng.
Họ mừng vui trước nhan Ngài
như thiên hạ mừng vui trong mùa gặt,
như người ta hỷ hoan khi chia nhau chiến lợi phẩm.
3 Vì cái ách đè lên cổ dân, cây gậy đập xuống vai họ,
và ngọn roi của kẻ hà hiếp, Ngài đều bẻ gãy
như trong ngày chiến thắng quân Ma-đi-an.
Bố cục
§ Đảo ngược số phận của đất Dơ-vu-lun và đất Náp-ta-li c. 23
§ Đảo ngược số phận của dân chúng c.1-3
Chú giải
§ C.23 trình bày sự đảo ngược số phận của hai miền đất, Dơ-vu-lun và Náp-ta-li (2 chi tộc của Ít-ra-en, thời các thẩm phán)
* thời đầu họ bị hạ nhục, nay được tôn vinh
* thời đầu có đau khổ và tối tăm, nay không còn nữa
§ 9,1 tiếp tục c.23. Nhưng giờ đây nói về dân tộc, chứ không về đất đai nữa.
* trước đây dân đi trong tối tăm, nay trong ánh sáng
* trước đây dân ở trong bóng tối, nay trong ánh sáng.
§ C.2 nhìn nhận Thiên Chúa là nguồn gốc của sự đảo ngược.
§ Niềm vui mà Thiên Chúa đem đến không chỉ là một niềm vui bình thường, nhưng là một niềm vui to lớn, đầy tràn.
§ C.3 nói đến lý do của niềm vui: Cái ách, cây gậy, ngọn roi đã bị bẻ gãy.
Suy tư trên Bài đọc 1
§ Công việc của vị ngôn sứ là loan báo sự đảo ngược số phận.
§ Với người đang sống trong bóng tối, ngôn sứ loan báo ánh sáng.
§ Với người đang u sầu, ngôn sứ loan báo niềm vui.
§ Bài đọc chỉ nói đến một sự đảo ngược.
§ Trong những nơi khác, ngôn sứ loan báo sự huỷ diệt cho những người tự mãn.
§ Các ngài loan báo sự huỷ diệt cho những ai nghĩ rằng mọi sự đều tốt đẹp.
Bài đọc 2: 1 Cô-rin-tô 1,10-13.17
10 Thưa anh em, nhân danh Ðức Giê-su Kitô, Chúa chúng ta, tôi khuyên tất cả anh em hãy nhất trí với nhau trong lời ăn tiếng nói, và đừng để có sự chia rẽ giữa anh em, nhưng hãy sống hòa thuận một lòng một ý với nhau. 11 Thật vậy, thưa anh em, người nhà của bà Khơlôe cho tôi hay tin có chuyện bè phái giữa anh em. 12 Tôi muốn nói là trong anh em có những luận điệu như: tôi thuộc về ông Phaolô, tôi thuộc về ông Apôlô, tôi thuộc về ông Kêpha, tôi thuộc về Ðức Kitô. 13 Thế ra Ðức Kitô đã bị chia năm sẻ bảy rồi ư? Có phải Phaolô đã chịu đóng đinh vào khổ giá vì anh em chăng? Hay anh em đã chịu phép rửa nhân danh Phaolô sao? 17 Vì Ðức Kitô đã chẳng sai tôi đi làm phép rửa, nhưng sai tôi đi rao giảng Tin Mừng, và rao giảng không phải bằng lời lẽ khôn khéo, để thập giá Ðức Kitô khỏi trở nên vô hiệu.
Bố cục
§ Khuyên nhủ hiệp nhất c. 10
§ Báo cáo về nạn bè phái c. 11-12
§ Đặt vấn đề c. 13
§ Ơn gọi của Phao-lô c. 17
Chú giải
§ Bài đọc nói về sự hiệp nhất ki-tô giáo.
§ Trong c.10, Phao-lô, tác giả và người tổ chức Giáo hội ở Cô-rin-tô, khuyên nhủ anh chị em của mình sống hiệp nhất, đừng chia rẽ.
§ Sự hiệp nhất được mời gọi đây là một lòng một ý.
§ C.11 nói đến các nguyên nhân của chia rẽ: nạn bè phái
§ C.12 giải thích rõ hơn vấn đề:
§ Đó đúng hơn là một sự chia rẽ, vì hiểu sai ý nghĩa của sự thuộc về.
§ Trong c.13, Phao-lô làm lại trật tự nơi các ki-tô hữu chia rẽ, bằng cách nêu lên tính độc nhất của Đức Ki-tô.
§ Chỉ có một ý nghĩa của sự thuộc về.
§ Mọi ki-tô hữu thuộc về Đức Ki-tô, chứ không thuộc về ai khác.
§ Phao-lô, A-pô-lô và Kê-pha đều là những dụng cụ của Đức Ki-tô.
§ C.17 nói lại ơn gọi của Phao-lô: không làm phép rửa nhưng loan báo Tin mừng.
§ Phao-lô cũng làm phép rửa cho dân, nhưng ở đây ngài nói đến mục đích chính của ngài: loan báo Tin mừng.
§ Cách thức loan báo Tin mừng của ngài không giống như những người ăn nói hay ho.
§ Ngài nói cách đơn sơ và rõ ràng về Đức Ki-tô.
§ Vì ngài muốn gìn giữ sự toàn vẹn của thập giá Đức Ki-tô.
§ Hùng biện có thể làm cho ý nghĩa của thập giá Đức Ki-tô nên vô nghĩa.
§ Những nhà giảng thuyết khác có thể đã được dạy dỗ để loan báo, rao truyền, giới thiệu Tin mừng khá tốt đến nỗi ngời ta ưa thích phương pháp hơn là chính nội dung tức là thập giá Đức Ki-tô.
§ Những nhà giảng thuyết tài hoa có thể giảng hay và dược mến chuộng, nhưng có thể không sản sinh những ki-tô hữu dấn thân, có thể mang lấy thập giá.
Suy tư trên Bài đọc 2
§ Là ki-tô hữu, ta phải tập trung vào Đức Ki-tô.
§ Chúng ta không tập trung vào người đã rửa tội chúng ta.
§ Chúng ta không tập trung vào người đã soi sáng chúng ta, gợi hứng chúng ta.
§ Chúng ta không thần tượng hoá nhóm đặc sủng của chúng ta, sự ghi danh của chúng ta vào một tôn giáo, thừa tác vụ của chúng ta hay những người bạn linh mục của chúng ta.
§ Điều quan trọng là là đề cao việc chúng ta thuộc về Đức Ki-tô và chúng ta cũng có thể mang lấy thập giá của chúng ta.
§ Giờ đây chúng ta hiểu loan báo Tin mừng và hy sinh nghĩa là gì.
§ Phép rửa trong Đức Ki-tô phải hiệp nhất chúng ta, bất kể ai đã rửa tội chúng ta, dạy giáo lý cho chúng ta, hay giúp đỡ chúng ta trong đức tin.
§ Chia rẽ và bè phái không có chỗ đứng trong cộng đoàn ki-tô hữu.
Bài Tin mừng: Mát-thêu 4,12-23
12 Khi Ðức Giê-su nghe tin ông Gio-an đã bị nộp, Người lánh qua miền Ga-li-lê. 13 Rồi Người bỏ Na-da-rét, đến ở Ca-phác-na-um, một thành ven biển hồ Ga-li-lê, thuộc địa hạt Dơ-vu-lun và Náp-ta-li, 14 để ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia nói:
15 Này đất Dơ-vu-lun, và đất Náp-ta-li,
hỡi con đường ven biển, và vùng tả ngạn sông Gio-đan,
hỡi Ga-li-lê, miền đất của dân ngoại!
16 Ðoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm
đã thấy một ánh sáng huy hoàng,
những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần
nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi.
17 Từ lúc đó, Ðức Giê-su bắt đầu rao giảng và nói rằng: "Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần".
18 Người đang đi dọc theo biển hồ Ga-li-lê, thì thấy hai anh em kia, là Si-mon, cũng gọi là Phê-rô, và người anh là ông An-rê, đang quăng chài xuống biển, vì các ông làm nghề đánh cá. 19 Người bảo các ông: "Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá". 20 lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Người.
21 Ði một quảng nữa, Người thấy hai anh em khác con ông Dê-bê-dê, là ông Gia-cô-bê và người em là ông Gio-an. Hai ông này đang cùng với cha là ông Dê-bê-dê vá lưới ở trong thuyền. Người gọi các ông. 22 lập tức, các ông bỏ thuyền, bỏ cha lại mà theo Người.
23 Thế rồi Ðức Giê-su đi khắp miền Ga-li-lê, giảng dạy trong các hội đường của họ, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền của dân.
Bố cục
§ Ứng nghiệm lời ngôn sứ c. 12-16
§ Kêu gọi các tông đồ c. 17-22
§ Hoạt động của Đức Giê-su c. 23
Chú giải
§ C.12-16 nói đến bối cảnh của việc kêu gọi các tông đồ:
* Gio-an bị bắt
* Đức Giê-su đi đến miền Ga-li-lê
* Đức Giê-su rời Na-da-rét
* Đức Giê-su ở Ca-phác-na-um, một thành ven biển hồ Ga-li-lê, thuộc địa hạt Dơ-vu-lun và Náp-ta-li.
§ C.14 giải thích sự di chuyển của Đức Giê-su như ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a trong Bài đọc 1.
§ C.15 mô tả miền này như con đường đi ra biển (Ga-li-lê).
§ Giờ đây trong miền này đã thấy ánh sáng. Họ đã ngồi trong vùng tối tăm, trong bóng tối tử thần.
§ Đâu là ánh sáng?
§ C.17 nói với chúng ta về ánh sáng: Đức Giê-su rao giảng về sự thống hối và Nước Thiên Chúa.
§ C.18-22 mô tả việc kêu gọi 4 tông đồ.
§ Họ được kêu gọi trong bối cảnh Đức Giê-su rao giảng và trong bối cảnh đánh cá.
§ C.18-19 nói về hai anh em Phê-rô và An-rê được kêu gọi khi họ đang giặt lưới.
§ C.20 mô tả họ đáp lại lời kêu gọi như thế nào: lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Người.
§ C.21-22 nói về hai anh em Gia-cô-bê và Gio-an đang ngồi vá lưới trong thuyền.
§ C. 23 mô tả họ đáp lại lời kêu gọi như thế nào: lập tức, các ông bỏ thuyền, bỏ cha lại mà theo Người
§ C.23 nói đến các hoạt dộng của Đức Giê-su:
* giảng dạy trong các hội đường
* loan báo Tin mừng Nước Thiên Chúa
* chữa lành các bệnh hoạn, tật nguyền.
Suy tư trên Bài Tin mừng
§ Miền đất Dơ-vu-lun và Náp-ta-li giờ đây thấy ánh sáng vì sự hiện diện của Đức Giê-su, Người rao giảng, dạy dỗ, kêu gọi và chữa lành.
§ Ánh sáng mà họ thấy chính là Đức Giê-su.
§ Những người dân ấy được biết trong quá khứ là những người ngồi trong vùng tối tăm, trong bóng tối tử thần.
§ Chính tại nơi đây mà Đức Giê-su kêu gọi các tông đồ đầu tiên, họ làm nghề đánh cá.
§ Tại nơi đây, chúng ta thấy những con người sẵn sàng đáp trả lời kêu gọi.
Nối kết 3 Bài đọc
§ Bài đọc 1 nói đến miền đất Dơ-vu-lun và Náp-ta-li, vùng tăm tối.
§ Bài đọc 2 nói về sự hiệp nhất các ki-tô hữu tại Cô-rin-tô, nơi có bè phái và chia rẽ.
§ Bài Tin mừng lại nói về miền đất Dơ-vu-lun và Náp-ta-li, nơi đó giờ đây có ánh sáng.
Cách triển khai bài giảng
§ Chúng ta nói về các dân cư tại Dơ-vu-lun và Náp-ta-li đã thay đổi như thế nào nhờ sự hiện diện của Đức Giê-su.
§ Đức Giê-su loại trừ tối tăm, buồn rầu, bóng tối, (Bài đọc 1) bè phái và chia rẽ (Bài đọc 2).
§ Đức Giê-su bắt đầu sứ vụ tại miền Gali-lê, chung quanh biển hồ. (Bài Tin mừng)
§ Người bắt đầu rao giảng sự thống hối.
§ Lý do: “Nước Thiên Chúa đã đến gần.”
§ Dân cư tại Dơ-vu-lun và Náp-ta-li đáp trả. Họ được lợi từ sứ vụ của Đức Giê-su.
§ 4 ngư phủ sẵn sàng đáp lại lời kêu gọi của Đức Giê-su để đi theo Người.
§ Không đặt câu hỏi, họ liền bỏ lưới, thuyền, cha mẹ và đi theo Người.
§ Họ đi bất cứ nơi nào Đức Giê-su đến.
§ Trong câu cuối của Bài đọc, c.23, Đức Giê-su được mô tả như ở một mình.
§ Tác giả chú ý đến một mình Đức Giê-su. Là độc giả, chúng ta phải thêm vào điều ngài không nói.
§ Các môn đệ đi theo Người và học hỏi từ điều Người nói và làm, như chúng ta sẽ thấy sau, khi họ dấn thân làm tông đồ.
§ Mọi Ki-tô hữu, chứ không chỉ các linh mục và tu sĩ, được mời gọi đi theo Đức Ki-tô.
§ Chúng ta cũng có ánh sáng khi chịu phép Thánh tẩy và khi học giáo lý, tham dự phụng vụ.
§ Câu hỏi mà chúng ta phải đặt ra:
* Chúng ta đã từ bỏ bao nhiêu?
* Chúng ta đã dành bao nhiêu thời giờ để lắng nghe Đức Giê-su?
* Chúng ta đã dành bao nhiêu thời giờ để chia sẻ sứ vụ của Người?
* Chúng ta đã trung thành như thế nào trong việc cổ võ sự hiệp nhất trong Giáo hội?
§ Không phải là một môn đề tốt khi từ chối được đào tạo.
§ Không lắng nghe những ai biết rõ hơn thì không giúp vun trồng đức tin.
§ Gieo rắc bất hoà, so sánh, không biết tầm nhìn và sứ vụ của Giáo hội là những nguồn mạch của chia rẽ. (Bài đọc 2)
§ Đó là những bất toàn của người môn đệ.
§ Nếu Đức Giê-su sinh sống ngày hôm nay, chúng ta sẽ đi theo Người thế nào khi Người rao giảng Nước Trời, chữa lành bệnh nhân, xua trừ ma quỷ?
§ Trong bí tích Thánh Thể này, Đức Giê-su lại đến loan báo cho chúng ta sự thống hối “vì Nước trời đã đến gần.”
§ Tiếp nhận bí tích Thánh Thể là dấu chỉ chúng ta bằng lòng để Người cai trị chúng ta.
§ Không thống hối, chúng ta không thể đáp trả cách đúng đắn lời mời gọi của Thiên Chúa và và tham dự vào bàn tiệc Thánh Thể.
§ Bí tích Thánh Thể là bí tích của người môn đệ và sự hiệp nhất ki-tô hữu.
§ Bí tích Thánh Thể ban sức mạnh cho chúng ta khi đi theo Đức Giê-su và khi mang thập giá của chúng ta.
Phan Du Sinh chuyển ý
Bài đọc 1: I-sai-a 8,23-9,3
23 Thời đầu, Người đã hạ nhục đất Dơ-vu-lun và đất Náp-ta-li, nhưng thời sau, Người sẽ làm vẻ vang cho con đường ra biển, miền bên kia sông Gio-đan, vùng đất của dân ngoại.
1 Dân đang lần bước giữa tối tăm
đã thấy một ánh sáng huy hoàng;
đám người sống trong vùng bóng tối,
nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi.
2 Chúa đã ban chứa chan niềm hoan hỷ,
đã tăng thêm nỗi vui mừng.
Họ mừng vui trước nhan Ngài
như thiên hạ mừng vui trong mùa gặt,
như người ta hỷ hoan khi chia nhau chiến lợi phẩm.
3 Vì cái ách đè lên cổ dân, cây gậy đập xuống vai họ,
và ngọn roi của kẻ hà hiếp, Ngài đều bẻ gãy
như trong ngày chiến thắng quân Ma-đi-an.
Bố cục
§ Đảo ngược số phận của đất Dơ-vu-lun và đất Náp-ta-li c. 23
§ Đảo ngược số phận của dân chúng c.1-3
Chú giải
§ C.23 trình bày sự đảo ngược số phận của hai miền đất, Dơ-vu-lun và Náp-ta-li (2 chi tộc của Ít-ra-en, thời các thẩm phán)
* thời đầu họ bị hạ nhục, nay được tôn vinh
* thời đầu có đau khổ và tối tăm, nay không còn nữa
§ 9,1 tiếp tục c.23. Nhưng giờ đây nói về dân tộc, chứ không về đất đai nữa.
* trước đây dân đi trong tối tăm, nay trong ánh sáng
* trước đây dân ở trong bóng tối, nay trong ánh sáng.
§ C.2 nhìn nhận Thiên Chúa là nguồn gốc của sự đảo ngược.
§ Niềm vui mà Thiên Chúa đem đến không chỉ là một niềm vui bình thường, nhưng là một niềm vui to lớn, đầy tràn.
§ C.3 nói đến lý do của niềm vui: Cái ách, cây gậy, ngọn roi đã bị bẻ gãy.
Suy tư trên Bài đọc 1
§ Công việc của vị ngôn sứ là loan báo sự đảo ngược số phận.
§ Với người đang sống trong bóng tối, ngôn sứ loan báo ánh sáng.
§ Với người đang u sầu, ngôn sứ loan báo niềm vui.
§ Bài đọc chỉ nói đến một sự đảo ngược.
§ Trong những nơi khác, ngôn sứ loan báo sự huỷ diệt cho những người tự mãn.
§ Các ngài loan báo sự huỷ diệt cho những ai nghĩ rằng mọi sự đều tốt đẹp.
Bài đọc 2: 1 Cô-rin-tô 1,10-13.17
10 Thưa anh em, nhân danh Ðức Giê-su Kitô, Chúa chúng ta, tôi khuyên tất cả anh em hãy nhất trí với nhau trong lời ăn tiếng nói, và đừng để có sự chia rẽ giữa anh em, nhưng hãy sống hòa thuận một lòng một ý với nhau. 11 Thật vậy, thưa anh em, người nhà của bà Khơlôe cho tôi hay tin có chuyện bè phái giữa anh em. 12 Tôi muốn nói là trong anh em có những luận điệu như: tôi thuộc về ông Phaolô, tôi thuộc về ông Apôlô, tôi thuộc về ông Kêpha, tôi thuộc về Ðức Kitô. 13 Thế ra Ðức Kitô đã bị chia năm sẻ bảy rồi ư? Có phải Phaolô đã chịu đóng đinh vào khổ giá vì anh em chăng? Hay anh em đã chịu phép rửa nhân danh Phaolô sao? 17 Vì Ðức Kitô đã chẳng sai tôi đi làm phép rửa, nhưng sai tôi đi rao giảng Tin Mừng, và rao giảng không phải bằng lời lẽ khôn khéo, để thập giá Ðức Kitô khỏi trở nên vô hiệu.
Bố cục
§ Khuyên nhủ hiệp nhất c. 10
§ Báo cáo về nạn bè phái c. 11-12
§ Đặt vấn đề c. 13
§ Ơn gọi của Phao-lô c. 17
Chú giải
§ Bài đọc nói về sự hiệp nhất ki-tô giáo.
§ Trong c.10, Phao-lô, tác giả và người tổ chức Giáo hội ở Cô-rin-tô, khuyên nhủ anh chị em của mình sống hiệp nhất, đừng chia rẽ.
§ Sự hiệp nhất được mời gọi đây là một lòng một ý.
§ C.11 nói đến các nguyên nhân của chia rẽ: nạn bè phái
§ C.12 giải thích rõ hơn vấn đề:
§ Đó đúng hơn là một sự chia rẽ, vì hiểu sai ý nghĩa của sự thuộc về.
§ Trong c.13, Phao-lô làm lại trật tự nơi các ki-tô hữu chia rẽ, bằng cách nêu lên tính độc nhất của Đức Ki-tô.
§ Chỉ có một ý nghĩa của sự thuộc về.
§ Mọi ki-tô hữu thuộc về Đức Ki-tô, chứ không thuộc về ai khác.
§ Phao-lô, A-pô-lô và Kê-pha đều là những dụng cụ của Đức Ki-tô.
§ C.17 nói lại ơn gọi của Phao-lô: không làm phép rửa nhưng loan báo Tin mừng.
§ Phao-lô cũng làm phép rửa cho dân, nhưng ở đây ngài nói đến mục đích chính của ngài: loan báo Tin mừng.
§ Cách thức loan báo Tin mừng của ngài không giống như những người ăn nói hay ho.
§ Ngài nói cách đơn sơ và rõ ràng về Đức Ki-tô.
§ Vì ngài muốn gìn giữ sự toàn vẹn của thập giá Đức Ki-tô.
§ Hùng biện có thể làm cho ý nghĩa của thập giá Đức Ki-tô nên vô nghĩa.
§ Những nhà giảng thuyết khác có thể đã được dạy dỗ để loan báo, rao truyền, giới thiệu Tin mừng khá tốt đến nỗi ngời ta ưa thích phương pháp hơn là chính nội dung tức là thập giá Đức Ki-tô.
§ Những nhà giảng thuyết tài hoa có thể giảng hay và dược mến chuộng, nhưng có thể không sản sinh những ki-tô hữu dấn thân, có thể mang lấy thập giá.
Suy tư trên Bài đọc 2
§ Là ki-tô hữu, ta phải tập trung vào Đức Ki-tô.
§ Chúng ta không tập trung vào người đã rửa tội chúng ta.
§ Chúng ta không tập trung vào người đã soi sáng chúng ta, gợi hứng chúng ta.
§ Chúng ta không thần tượng hoá nhóm đặc sủng của chúng ta, sự ghi danh của chúng ta vào một tôn giáo, thừa tác vụ của chúng ta hay những người bạn linh mục của chúng ta.
§ Điều quan trọng là là đề cao việc chúng ta thuộc về Đức Ki-tô và chúng ta cũng có thể mang lấy thập giá của chúng ta.
§ Giờ đây chúng ta hiểu loan báo Tin mừng và hy sinh nghĩa là gì.
§ Phép rửa trong Đức Ki-tô phải hiệp nhất chúng ta, bất kể ai đã rửa tội chúng ta, dạy giáo lý cho chúng ta, hay giúp đỡ chúng ta trong đức tin.
§ Chia rẽ và bè phái không có chỗ đứng trong cộng đoàn ki-tô hữu.
Bài Tin mừng: Mát-thêu 4,12-23
12 Khi Ðức Giê-su nghe tin ông Gio-an đã bị nộp, Người lánh qua miền Ga-li-lê. 13 Rồi Người bỏ Na-da-rét, đến ở Ca-phác-na-um, một thành ven biển hồ Ga-li-lê, thuộc địa hạt Dơ-vu-lun và Náp-ta-li, 14 để ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia nói:
15 Này đất Dơ-vu-lun, và đất Náp-ta-li,
hỡi con đường ven biển, và vùng tả ngạn sông Gio-đan,
hỡi Ga-li-lê, miền đất của dân ngoại!
16 Ðoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm
đã thấy một ánh sáng huy hoàng,
những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần
nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi.
17 Từ lúc đó, Ðức Giê-su bắt đầu rao giảng và nói rằng: "Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần".
18 Người đang đi dọc theo biển hồ Ga-li-lê, thì thấy hai anh em kia, là Si-mon, cũng gọi là Phê-rô, và người anh là ông An-rê, đang quăng chài xuống biển, vì các ông làm nghề đánh cá. 19 Người bảo các ông: "Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá". 20 lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Người.
21 Ði một quảng nữa, Người thấy hai anh em khác con ông Dê-bê-dê, là ông Gia-cô-bê và người em là ông Gio-an. Hai ông này đang cùng với cha là ông Dê-bê-dê vá lưới ở trong thuyền. Người gọi các ông. 22 lập tức, các ông bỏ thuyền, bỏ cha lại mà theo Người.
23 Thế rồi Ðức Giê-su đi khắp miền Ga-li-lê, giảng dạy trong các hội đường của họ, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền của dân.
Bố cục
§ Ứng nghiệm lời ngôn sứ c. 12-16
§ Kêu gọi các tông đồ c. 17-22
§ Hoạt động của Đức Giê-su c. 23
Chú giải
§ C.12-16 nói đến bối cảnh của việc kêu gọi các tông đồ:
* Gio-an bị bắt
* Đức Giê-su đi đến miền Ga-li-lê
* Đức Giê-su rời Na-da-rét
* Đức Giê-su ở Ca-phác-na-um, một thành ven biển hồ Ga-li-lê, thuộc địa hạt Dơ-vu-lun và Náp-ta-li.
§ C.14 giải thích sự di chuyển của Đức Giê-su như ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a trong Bài đọc 1.
§ C.15 mô tả miền này như con đường đi ra biển (Ga-li-lê).
§ Giờ đây trong miền này đã thấy ánh sáng. Họ đã ngồi trong vùng tối tăm, trong bóng tối tử thần.
§ Đâu là ánh sáng?
§ C.17 nói với chúng ta về ánh sáng: Đức Giê-su rao giảng về sự thống hối và Nước Thiên Chúa.
§ C.18-22 mô tả việc kêu gọi 4 tông đồ.
§ Họ được kêu gọi trong bối cảnh Đức Giê-su rao giảng và trong bối cảnh đánh cá.
§ C.18-19 nói về hai anh em Phê-rô và An-rê được kêu gọi khi họ đang giặt lưới.
§ C.20 mô tả họ đáp lại lời kêu gọi như thế nào: lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Người.
§ C.21-22 nói về hai anh em Gia-cô-bê và Gio-an đang ngồi vá lưới trong thuyền.
§ C. 23 mô tả họ đáp lại lời kêu gọi như thế nào: lập tức, các ông bỏ thuyền, bỏ cha lại mà theo Người
§ C.23 nói đến các hoạt dộng của Đức Giê-su:
* giảng dạy trong các hội đường
* loan báo Tin mừng Nước Thiên Chúa
* chữa lành các bệnh hoạn, tật nguyền.
Suy tư trên Bài Tin mừng
§ Miền đất Dơ-vu-lun và Náp-ta-li giờ đây thấy ánh sáng vì sự hiện diện của Đức Giê-su, Người rao giảng, dạy dỗ, kêu gọi và chữa lành.
§ Ánh sáng mà họ thấy chính là Đức Giê-su.
§ Những người dân ấy được biết trong quá khứ là những người ngồi trong vùng tối tăm, trong bóng tối tử thần.
§ Chính tại nơi đây mà Đức Giê-su kêu gọi các tông đồ đầu tiên, họ làm nghề đánh cá.
§ Tại nơi đây, chúng ta thấy những con người sẵn sàng đáp trả lời kêu gọi.
Nối kết 3 Bài đọc
§ Bài đọc 1 nói đến miền đất Dơ-vu-lun và Náp-ta-li, vùng tăm tối.
§ Bài đọc 2 nói về sự hiệp nhất các ki-tô hữu tại Cô-rin-tô, nơi có bè phái và chia rẽ.
§ Bài Tin mừng lại nói về miền đất Dơ-vu-lun và Náp-ta-li, nơi đó giờ đây có ánh sáng.
Cách triển khai bài giảng
§ Chúng ta nói về các dân cư tại Dơ-vu-lun và Náp-ta-li đã thay đổi như thế nào nhờ sự hiện diện của Đức Giê-su.
§ Đức Giê-su loại trừ tối tăm, buồn rầu, bóng tối, (Bài đọc 1) bè phái và chia rẽ (Bài đọc 2).
§ Đức Giê-su bắt đầu sứ vụ tại miền Gali-lê, chung quanh biển hồ. (Bài Tin mừng)
§ Người bắt đầu rao giảng sự thống hối.
§ Lý do: “Nước Thiên Chúa đã đến gần.”
§ Dân cư tại Dơ-vu-lun và Náp-ta-li đáp trả. Họ được lợi từ sứ vụ của Đức Giê-su.
§ 4 ngư phủ sẵn sàng đáp lại lời kêu gọi của Đức Giê-su để đi theo Người.
§ Không đặt câu hỏi, họ liền bỏ lưới, thuyền, cha mẹ và đi theo Người.
§ Họ đi bất cứ nơi nào Đức Giê-su đến.
§ Trong câu cuối của Bài đọc, c.23, Đức Giê-su được mô tả như ở một mình.
§ Tác giả chú ý đến một mình Đức Giê-su. Là độc giả, chúng ta phải thêm vào điều ngài không nói.
§ Các môn đệ đi theo Người và học hỏi từ điều Người nói và làm, như chúng ta sẽ thấy sau, khi họ dấn thân làm tông đồ.
§ Mọi Ki-tô hữu, chứ không chỉ các linh mục và tu sĩ, được mời gọi đi theo Đức Ki-tô.
§ Chúng ta cũng có ánh sáng khi chịu phép Thánh tẩy và khi học giáo lý, tham dự phụng vụ.
§ Câu hỏi mà chúng ta phải đặt ra:
* Chúng ta đã từ bỏ bao nhiêu?
* Chúng ta đã dành bao nhiêu thời giờ để lắng nghe Đức Giê-su?
* Chúng ta đã dành bao nhiêu thời giờ để chia sẻ sứ vụ của Người?
* Chúng ta đã trung thành như thế nào trong việc cổ võ sự hiệp nhất trong Giáo hội?
§ Không phải là một môn đề tốt khi từ chối được đào tạo.
§ Không lắng nghe những ai biết rõ hơn thì không giúp vun trồng đức tin.
§ Gieo rắc bất hoà, so sánh, không biết tầm nhìn và sứ vụ của Giáo hội là những nguồn mạch của chia rẽ. (Bài đọc 2)
§ Đó là những bất toàn của người môn đệ.
§ Nếu Đức Giê-su sinh sống ngày hôm nay, chúng ta sẽ đi theo Người thế nào khi Người rao giảng Nước Trời, chữa lành bệnh nhân, xua trừ ma quỷ?
§ Trong bí tích Thánh Thể này, Đức Giê-su lại đến loan báo cho chúng ta sự thống hối “vì Nước trời đã đến gần.”
§ Tiếp nhận bí tích Thánh Thể là dấu chỉ chúng ta bằng lòng để Người cai trị chúng ta.
§ Không thống hối, chúng ta không thể đáp trả cách đúng đắn lời mời gọi của Thiên Chúa và và tham dự vào bàn tiệc Thánh Thể.
§ Bí tích Thánh Thể là bí tích của người môn đệ và sự hiệp nhất ki-tô hữu.
§ Bí tích Thánh Thể ban sức mạnh cho chúng ta khi đi theo Đức Giê-su và khi mang thập giá của chúng ta.