Chúa Nhật thứ 30 Mùa Thường Niên (B) (Jeremiah 31:7-9; Hebrews 5:1-6; Mark 10:46-52)
Cha Capuchin Raniero Cantalamessa, kẻ Giảng Phủ giáo Hoàng, giải thích về các bài đọc từ phụng vụ Chúa Nhật 30 Thường niên B:.
Đoạn Tin Mừng tường thuật việc chữa lành người mù thành Jericô, Bartimaeus.
Bartinaeus là một con người không bỏ lỡ cơ hội. Anh nghe Chúa Giêsu đang đi ngang qua, thì hiểu rằng đó là cơ hội của sự sống anh và anh hành động mau lẹ. Phản ứng của những người hiện diện—“nhiều người quát nạt bảo anh ta im đi”—cho thấy thái độ tự phụ không thể chấp nhận của những kẻ giàu có trong mọi thời đại: là sự khốn khổ vẫn bị giấu kín, là nó không bộc lộ mính, là nó không quấy rầy sự thấy và những giấc mộng của những kẻ may mắn.
Từ ngữ “đui mù” có rất nhiều nghĩa tiêu cực đến nỗi dành nó là đúng, như khuynh hướng ngày nay, cho sự đui mù luân lý của sự dốt nát và sự vô tình. Bartimaeus không đui, anh chỉ không thấy. Anh thấy rõ với tâm hồn anh hơn là nhiều kẻ chung quanh anh, bởi vì anh có đức tin và ưa chuộng sự hy vọng. Còn hơn điều đó, chính cái nhìn nội tại này của đức tin cũng giúp anh phục hồi sự nhìn bên ngoài của anh về những sự vật. “Lòng tin của anh đã cứu anh,” Chúa Gêsu nói với anh.
Tôi tạm ngừng ở đây trong việc giải thích bài Tin Mừng bởi vì tôi muốn phát triển một chủ đề hiện diện trong bài đọc thứ hai Chúa Nhật này, để nhìn xem gương mặt và vai trò của linh mục. Linh mục trước hết được nói là “được chọn từ giữa những con người.” Do đó, ngài không phải là một hữu thể mất gốc hay từ trời rơi xuống, nhưng là một con người có sau mình một gia đình và một lịch sử như bao kẻ khác.
“Được chọn từ giữa những con người” cũng có nghĩa là linh mục được tạo thành bằng cũng một chất liệu như bất cứ tạo vật nhân bản nào khác: với những sự cảm xúc, những tranh đấu, những nghi nan và những yếu hèn của mọi người khác. Kinh Thánh thấy trong sự này một cái lợi cho những người khác, không phải là một lý do sinh gương xấu. Bằng cách này, trên thực tế, linh mục sẽ sẵn sàng có lòng thương cảm, vì ngài cũng bị bao phủ trong sự yếu đuối.
Được chọn từ giữa những con người, linh mục càng được “chỉ định hành động vì những con người,” nghĩa là, được trao trở lại cho họ, được đặt để phục vụ họ—một phục vụ ảnh hưởng chiều kích thâm sâu nhất của con người, vận mạng đời đời của họ.
Thánh Phaolo tóm tắt thừa tác vụ linh mục với một câu: “Vậy chớ gì thiên hạ coi chúng tôi như những đầy tớ của Đức kitô, những người quản lý các mầu nhiệm của Thiên Chúa” ( 1 Corinthians 4:1). Điều này không có nghĩa là linh mục ở dửng dưng đối với các nhu cầu—gòm những nhu cầu nhân bản—của dân chúng, nhưng ngài cũng quan tâm đến những người này với một tinh thần khác với tinh thần những nhà xã hội học và các nhà chính trị. Thường thường giáo xứ là một điểm mạnh nhất của sự liên kết, kể cả về mặt xã hội, trong sự sống của một xứ hay địa hạt.
Chúng ta đã phác họa cái nhìn tích cực về gương mặt linh mục. Chúng ta thấy không phải luôn như vậy. Thỉnh thoảng những tin tức nhắc chúng ta là một thực tại khác cũng hiện hữu, hình thành bởi sự yếu đuối và bất trung—về thực tại này Giáo Hội có thể không làm gì hơn là xin lỗi.
Nhưng có một sự thật phải được nhắc lại để an ủi dân chúng. Là con người, linh mục có thể lầm lạc, nhưng những cử chỉ ngài thực thi như linh mục, trên bàn thờ hay trong tòa giải tội, không phải là không thành sự hay vô hiệu năng vì đó. Dân chúng không mất ân sủng của Thiên Chúa vì sự bất xứng của linh mục. Chính Chúa Kitô rửa tội, cử hành, tha thứ; linh mục chỉ là dụng cụ.
Tôi thích nhắc đến trong trường hợp này, những lời một linh mục xứ Georges Bernanos nói trươc khi chết: “Tất cả là ân sủng.”
Cả sự khốn khổ về nạn say rượu của ngài xem ra là một ân sủng cho ngài, bởi vì nó làm cho ngài có lòng thương xót hơn đối với dân chúng. Thiên Chúa không quan tâm tới sự kiện những đại diện của Người trên mặt đất này phải nên trọn lành, nhưng sao cho họ có lòng thương xót.
“Những kẻ được chọn từ và cho những con người”
Cha Capuchin Raniero Cantalamessa, kẻ Giảng Phủ giáo Hoàng, giải thích về các bài đọc từ phụng vụ Chúa Nhật 30 Thường niên B:.
Đoạn Tin Mừng tường thuật việc chữa lành người mù thành Jericô, Bartimaeus.
Bartinaeus là một con người không bỏ lỡ cơ hội. Anh nghe Chúa Giêsu đang đi ngang qua, thì hiểu rằng đó là cơ hội của sự sống anh và anh hành động mau lẹ. Phản ứng của những người hiện diện—“nhiều người quát nạt bảo anh ta im đi”—cho thấy thái độ tự phụ không thể chấp nhận của những kẻ giàu có trong mọi thời đại: là sự khốn khổ vẫn bị giấu kín, là nó không bộc lộ mính, là nó không quấy rầy sự thấy và những giấc mộng của những kẻ may mắn.
Từ ngữ “đui mù” có rất nhiều nghĩa tiêu cực đến nỗi dành nó là đúng, như khuynh hướng ngày nay, cho sự đui mù luân lý của sự dốt nát và sự vô tình. Bartimaeus không đui, anh chỉ không thấy. Anh thấy rõ với tâm hồn anh hơn là nhiều kẻ chung quanh anh, bởi vì anh có đức tin và ưa chuộng sự hy vọng. Còn hơn điều đó, chính cái nhìn nội tại này của đức tin cũng giúp anh phục hồi sự nhìn bên ngoài của anh về những sự vật. “Lòng tin của anh đã cứu anh,” Chúa Gêsu nói với anh.
Tôi tạm ngừng ở đây trong việc giải thích bài Tin Mừng bởi vì tôi muốn phát triển một chủ đề hiện diện trong bài đọc thứ hai Chúa Nhật này, để nhìn xem gương mặt và vai trò của linh mục. Linh mục trước hết được nói là “được chọn từ giữa những con người.” Do đó, ngài không phải là một hữu thể mất gốc hay từ trời rơi xuống, nhưng là một con người có sau mình một gia đình và một lịch sử như bao kẻ khác.
“Được chọn từ giữa những con người” cũng có nghĩa là linh mục được tạo thành bằng cũng một chất liệu như bất cứ tạo vật nhân bản nào khác: với những sự cảm xúc, những tranh đấu, những nghi nan và những yếu hèn của mọi người khác. Kinh Thánh thấy trong sự này một cái lợi cho những người khác, không phải là một lý do sinh gương xấu. Bằng cách này, trên thực tế, linh mục sẽ sẵn sàng có lòng thương cảm, vì ngài cũng bị bao phủ trong sự yếu đuối.
Được chọn từ giữa những con người, linh mục càng được “chỉ định hành động vì những con người,” nghĩa là, được trao trở lại cho họ, được đặt để phục vụ họ—một phục vụ ảnh hưởng chiều kích thâm sâu nhất của con người, vận mạng đời đời của họ.
Thánh Phaolo tóm tắt thừa tác vụ linh mục với một câu: “Vậy chớ gì thiên hạ coi chúng tôi như những đầy tớ của Đức kitô, những người quản lý các mầu nhiệm của Thiên Chúa” ( 1 Corinthians 4:1). Điều này không có nghĩa là linh mục ở dửng dưng đối với các nhu cầu—gòm những nhu cầu nhân bản—của dân chúng, nhưng ngài cũng quan tâm đến những người này với một tinh thần khác với tinh thần những nhà xã hội học và các nhà chính trị. Thường thường giáo xứ là một điểm mạnh nhất của sự liên kết, kể cả về mặt xã hội, trong sự sống của một xứ hay địa hạt.
Chúng ta đã phác họa cái nhìn tích cực về gương mặt linh mục. Chúng ta thấy không phải luôn như vậy. Thỉnh thoảng những tin tức nhắc chúng ta là một thực tại khác cũng hiện hữu, hình thành bởi sự yếu đuối và bất trung—về thực tại này Giáo Hội có thể không làm gì hơn là xin lỗi.
Nhưng có một sự thật phải được nhắc lại để an ủi dân chúng. Là con người, linh mục có thể lầm lạc, nhưng những cử chỉ ngài thực thi như linh mục, trên bàn thờ hay trong tòa giải tội, không phải là không thành sự hay vô hiệu năng vì đó. Dân chúng không mất ân sủng của Thiên Chúa vì sự bất xứng của linh mục. Chính Chúa Kitô rửa tội, cử hành, tha thứ; linh mục chỉ là dụng cụ.
Tôi thích nhắc đến trong trường hợp này, những lời một linh mục xứ Georges Bernanos nói trươc khi chết: “Tất cả là ân sủng.”
Cả sự khốn khổ về nạn say rượu của ngài xem ra là một ân sủng cho ngài, bởi vì nó làm cho ngài có lòng thương xót hơn đối với dân chúng. Thiên Chúa không quan tâm tới sự kiện những đại diện của Người trên mặt đất này phải nên trọn lành, nhưng sao cho họ có lòng thương xót.