Con người mới trong Mùa Chay: Chấp Nhận và Hy Vọng IV

Chương Bốn: Tình Yêu và Hòa Giải


Sau khi thảo luận về hai giai đoạn đầu tiên của khái niệm chấp nhận, chấp nhận mình đã lỗi lầm và chấp nhận hòa giải với chính mình, chúng ta sẽ bàn thêm một giai đoạn khác, giai đoạn thứ ba của Mô Hình Chấp Nhận, đó là chấp nhận hòa giải với Thiên Chúa.

Hòa giải với Thiên Chúa là một điều tương đối dễ dàng hơn so với hòa giải với chính mình. Thực sự ra đã rất nhiều lần chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa, xin được hòa giải với Ngài qua Bí Tích Hòa Giải. Thiên Chúa là một Thiên Chúa của Hòa Giải, bởi vậy Ngài luôn luôn ngồi chờ ngày con người quay về xin được hòa giải với Ngài. Tại sao Thiên Chúa là Thiên Chúa của Hòa Giải? Rất đơn giản, bởi Thiên Chúa là Tình Yêu. Bởi yêu con người, Ngài lúc nào cũng sẵn sàng bỏ qua, tha thứ cho những lần chúng ta sa ngã.

Trong Chương Bốn, chúng ta sẽ bàn thảo về khuôn mặt tình yêu và hòa giải của Thiên Chúa trong Kinh Thánh.

I. Tình Yêu

Tình yêu nói một cách tổng quát có ba loại. Àgápê, Philôs, và Éros.

Àgápê là tình yêu không điều kiện. Yếu tố đặc biệt của Àgápê là trong tình yêu, nguời ta không đòi hỏi nhau điều gì. Thiên Chúa thương yêu con người là một trong những thí dụ đặc trưng cho tình yêu Àgápê. Thiên Chúa yêu con người bởi vì bản chất của Thiên Chúa là tình yêu không điều kiện. Chúa yêu con người và Chúa không đòi hỏi con người bất cứ một điều kiện nào để con người được Thiên Chúa yêu thương.

Tình yêu Philôs là tình yêu có điều kiện. Khi ràng buộc trong điều kiện, tình yêu đó mang tính chất của Philôs, thí dụ, tình yêu giữa bạn bè, bằng hữu hoặc tình yêu của anh chị em trong gia đình.

Tình yêu Éros cũng là tình yêu có điều kiện. Nhưng không giống như Philôs, tình yêu Éros liên quan đến dục tính. Khi ràng buộc trong điều kiện tính dục, tình yêu đó mang tính chất của Éros, thí dụ, tình yêu trai gái. Người con trai yêu bởi vì người con gái có khuôn mặt đẹp, dễ thương, tóc dài thướt tha, ăn nói duyên dáng như bài ca dao Mười Thương,

Một thương tóc bỏ đuôi gà,

Hai thương ăn nói mặn mà có duyên,

Ba thương má lúm đồng tiền,

Bốn thương răng nhánh, hạt huyền kém thua,

Năm thương cổ yếm đeo bùa,

Sáu thương nón thượng, quai tua dịu dàng,

Bẩy thương nết ở khôn ngoan,

Tám thương ăn nói lại càng thêm xinh,

Chín thương cô ở một mình,

Mười thương con mắt có tình với ai?


Ngược lại, một người con gái yêu bởi vì người thanh niên học giỏi, đẹp trai, có công ăn việc làm vững chắc, có địa vị trong xã hội như câu ca dao sau đây đã từng diễn tả,

Trai khôn tìm vợ chợ đông,

Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân.


Khi mình yêu một người bởi những điều kiện liên quan đến tính dục, tình yêu đó là tình yêu Éros.

Nhưng, để làm rõ hơn nét Hòa Giải của Thiên Chúa trong Mùa Chay, người viết sẽ bàn về Tình Yêu Àgápê của Thiên Chúa qua đặc tính Éros của tình yêu đôi lứa, một điều mà tác giả Sách Diễm Ca cũng đã từng làm. Tình yêu Àgápê của Thiên Chúa trong Chương Bốn sẽ được diễn tả qua khuôn mặt của một người tình. Chúa là Tình Lang. Con người là tình nhân. Chúa lúc nào cũng yêu người tình của Chúa. Chiêm niệm tình yêu của Thiên Chúa qua dung nhan của một người tình, hy vọng chúng ta sẽ hiểu và cảm nghiệm được nhiều hơn về chiều sâu vô bờ bến của tình yêu mà Thiên Chúa dành cho con người.

A. Chuyện Tình trong Kinh Thánh: Adong và Evà

Chuyện tình yêu không phải là chuyện mới. Đề tài này cũ rồi bởi vì từ những ngày đầu tiên trong dòng lịch sử ơn cứu độ, một trong những câu chuyện đầu tiên trong Sáng Thế Ký là một câu chuyện tình. Theo như Sáng Thế Ký Chương 2, sau khi Thiên Chúa tạo nên người đàn ông, Ngài thấy người tuổi trẻ buồn. Ngài nghĩ lại và Ngài hiểu. Người thanh niên buồn vì trong khu Vườn rộng thênh thang người thanh niên một mình một bóng. Thiên Chúa nghĩ lại, Ngài nói, “Người thanh niên ở một mình thì không tốt”. Và Ngài dựng nên chim trên trời, động vật trên mặt đất. Ngài mang lại cho người thanh niên. Nhưng rất tiếc, người tuổi trẻ vẫn không thay đổi nét mặt, bởi vì tất cả những sinh vật trên trời dưới đất đều không thích hợp với chàng.

Một lần nữa Thiên Chúa nghĩ lại. Lần này Ngài khiến cho người tuổi trẻ ngủ say. Trong khi người thanh niên đang chìm sâu trong giấc mộng, Thiên Chúa lấy ra cái xương sườn. Ngài lấy thịt đắp lên khúc xương. Thịt và xương hóa thành một người con gái. Khi Ngài mang người thiếu nữ lại, người tuổi trẻ không còn buồn nữa.

B. Đặc tính của Tình Yêu: Từ Bi và Tha Thứ

Tình yêu Àgápê và tình yêu Éros có chung một mẫu số: từ bi và tha thứ. Khi yêu nhau, người ta trở nên từ bi và dễ dàng bỏ qua những lỗi lầm mà người tình của mình mắc phải. Cho nên một người nhạc sỹ Việt Nam đã từng nói,

Yêu em yêu thêm tình phụ,

Yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ.


Người nhạc sỹ này tin rằng trong khi đang ngụp lặn, bơi lội trong biển tình yêu, người ta sẽ dễ dàng tha thứ, bỏ qua cho nhau, bởi vì cả hai tự nhiên trở nên từ bi và độ lượng. Bởi yêu nhau say đắm, ngay cả khi mình đã bị người kia phụ rẫy, ruồng bỏ, người còn lại vẫn cứ dại khờ, ngớ ngớ ngẩn ngẩn, đi ra đi vào, nhớ nhớ thương thương. Một cách tương tự, bởi Thiên Chúa yêu con người, Ngài lúc nào cũng sẵn sàng tha thứ cho con người, ngay cả khi con người đã từ bỏ Chúa thờ phượng tà thần.

1. Từ Bi và Tha Thứ trong Vườn Địa Đàng

Trong Vườn Địa Đàng, Thiên Chúa nói, nói rất rõ, “Tất cả những thứ cây ăn trái trong Vườn, con được quyền ăn, ngoại trừ trái của cây biết lành biết dữ. Ngày nào con ăn, ngày đó con sẽ chết”. Nhưng rất tiếc cuối cùng Adong và Evà rồi cũng ăn. Nhưng họ vẫn không chết. Thiên Chúa trong Cựu Ước đặc biệt trong Mười Một chương đầu tiên của Sáng Thế Ký là một Thiên Chúa của toàn năng. Từ trong bóng tối đêm đen hỗn độn, Ngài dựng nên trời đất cỏ cây muôn vật trên trái đất. Ngài không nói đùa hay nói giỡn chơi. Ngài đã nói, đừng có ăn, thì đừng có ăn. Nhưng rất lạ, sau khi hai người, người đàn bà ăn trước, rồi người đàn ông ăn sau, cả hai chẳng ai chết hết. Giống như Thiên Chúa nói chuyện giỡn chơi.

Một trong những lý do để giải thích tại sao Thiên Chúa không giữ lời là bởi vì Thiên Chúa yêu con người, cho nên lòng Ngài hóa nên từ bi. Và Ngài thay đổi. Hơn nữa, Ngài còn may quần áo cho hai người, rồi Ngài mới mời hai vợ chồng chàng Đất ra khỏi vườn Địa Đàng.

2. Từ Bi và Tha Thứ trong Mười Một Chương Đầu Tiên của Sáng Thế Ký

a. Ðại Hồng Thủy


Theo như Sáng Thế Ký Chương 6, từ người con trai thứ ba tên Sét, con cái của Adong và Evà sinh sản đông đảo trên mặt đất. Nhưng họ cũng chẳng khá gì hơn Adong và Evà. Càng xuất hiện đông đảo lan tràn trên địa cầu, họ càng làm nhiều điều nghịch lại với Thiên Chúa. Cuối cùng Thiên Chúa quyết định tiêu diệt con cái của Adong và Evà. Mưa từ trời cao đổ xuống mặt đất trong vòng 40 ngày 40 đêm liên tục.

Nhưng bởi yêu con người, Thiên Chúa quyết định giữ lại ông Noah và gia đình. Thiên Chúa truyền Noah đóng một cái tàu lớn trước khi những hạt mưa đầu tiên nặng hạt buông rơi. Nước càng dâng cao lên bao nhiêu, tàu của Noah càng dâng cao lên bấy nhiêu.

Sau trận đại hồng thủy, Ngài quyết định lập một giao ước mới với con người. Ngài phán với Noah là từ bây giờ trở về sau, sẽ không bao giờ còn đại hồng thủy tiêu diệt con người nữa. Chỉ vào cầu vồng bẩy mầu trên bầu trời, Giavê Thiên Chúa nói khi nào nổi giận, nhìn thấy cầu vồng, Ngài sẽ nhớ lại giao ước cầu vồng. Và Ngài sẽ không dâng nước làm lụt lội nhân gian.

b. Tháp Baben

Sáng Thế Ký Chương 11 trình bày thêm một câu chuyện khác về tình yêu của Thiên Chúa đối với con người. Sau trận đại hồng thủy, con người quyết định xây một cái tháp, tên gọi là Baben, vươn tới trời cao thách thức Thiên Chúa. Một ngày kia Ngài ghé xuống nhìn tháp cao Baben. Và Ngài khiến cho dân chúng nói những thứ tiếng khác nhau. Bởi vậy tháp Baben bị bỏ dở dang. Bởi ngôn ngữ bất đồng, người ta bắt đầu phân tán khắp nơi trên mặt đất. Nhưng bởi yêu con người, Thiên Chúa quyết định không bỏ dở chương trình cứu chuộc con người. Cuối chương thứ 11, độc giả Kinh Thánh được thông báo, Thiên Chúa quyết định chọn ông Ábraham để tiếp tục chương trình cứu rỗi nhân loại.

c. Mười Một Chương Ðầu Tiên

Mười một chương đầu tiên của Sáng Thế Ký do đó có chung một mẫu số:

(1). Thiên Chúa yêu con người

(2). Con người lỗi lầm

(3). Thiên Chúa phạt con người

(4). Thiên Chúa hòa giải, tha thứ con người bằng cách chọn ra một nhân vật mới cho chương trình cứu độ.

Adong và Evà trong chương 2 và chương 3, Cain trong chương thứ 4, và con người trong chương 6—11, tất cả những nhân vật vừa được liệt kê ở trên có chung một đặc điểm, họ lỗi lầm. Adong và Evà ăn trái cấm. Cain giết em. Con người trong chương thứ 6 tội lỗi. Con người trong chương thứ 11 xây tháp Baben cao tới trời thách thức uy quyền của Giavê Thiên Chúa. Thiên Chúa phạt ông bà nguyên tổ, phạt Cain, phạt con người. Nhưng cuối cùng Thiên Chúa lại chọn ra một nhân vật mới để tiếp tục chương trình cứu độ. Sau khi Cain và Aben đã biến mất, Evà sinh ra thêm một người con trai tên Sét. Bắt đầu từ ông Sét, con người bắt đầu sinh sản lan tràn khắp nơi trên mặt đất. Thiên Chúa làm lụt lội tiêu diệt con người, nhưng Ngài chọn ra gia đình ông Noah. Sau khi con người bị phân tán khắp nơi trên mặt đất, Thiên Chúa lại chọn ông Abram cho chương trình cứu chuộc.

3. Thiên Chúa Từ Bi và Người Tình Israen Bội Phản

Bắt đầu từ Abram, Thiên Chúa chuẩn bị cho một chương trình mới để cứu chuộc con người. Sau Abram, chúng ta có Isaac, Giacóp, và mười hai người con lưu lạc bên đất Ai Cập trong vòng 350 năm. Cuối cùng, tiếng khóc của dân chúng bay cao lên thấu trời xanh. Thiên Chúa hiện ra trong sa mạc, truyền lệnh Moses quay về lại Ai Cập dẫn dắt người tình của Chúa ra khỏi đất của nô lệ. Bởi vua Ai Cập cứng lòng, Thiên Chúa làm mười phép lạ, bắt đầu với phép lạ biến nước thành máu đỏ, ép Pharaoh thay lòng đổi dạ. Khi dân chúng bị Biển Đỏ chặn đường, trong khi binh lính Ai Cập đang ào ào phóng tới, Chúa tách đôi Biển Đỏ thành hai bức tường, dựng nên con đường mòn khô ráo cho người tình của Chúa đi qua. Trên con đường tiến về sa mạc, ban ngày Thiên Chúa làm cột mây tương tự như cây dù che chở người tình của Chúa; ban đêm Ngài khiến cột lửa đốt đèn soi sáng đường đi cho dân chúng. Khi người tình của Chúa khát khô lưỡi nứt môi, từ một tảng đá khô khan Thiên Chúa khai mở mạch nước cho người tình của Ngài giải khát. Khi dân chúng đói, Thiên Chúa cho Manna từ trời cao rơi xuống, cho chim cút bay tới phủ kín lều trại. Chúa săn sóc dân riêng của Ngài trong sa mạc nắng cháy khô khan như một người tình ân cần chăm sóc một người tình.

Sách Quan Án trình bày khía cạnh từ bi của Thiên Chúa và tình phụ của dân Do Thái một cách khá đặc biệt. Những khi người tình của Chúa phản bội, thờ phượng tà thần trong vùng đất mới, Chúa để quân thù tàn sát thống trị người Do Thái thẳng tay. Nhưng khi dân chúng biết metánoia, làm một đường vòng hình chữ U, quay về lại với Chúa, Chúa lòng chợt từ bi bất ngờ. Và thế là lại thêm một lần nữa, Ngài ra tay cứu vớt người tình phụ bằng cách đặt lên một người Quan Án mới làm người lãnh đạo dân chúng. Người Quan Án mới này chiêu mộ binh lính, luyện tập quân sỹ, đánh đuổi quân thù, giải thoát dân chúng ra khỏi ách đô hộ.

Nét từ bi và tình phụ lại một lần nữa được minh họa trong sách của Ngôn Sứ Hôsea. Thiên Chúa so sánh tình yêu của Ngài với dân Do Thái qua một mối tương quan khá đặc biệt giữa ngôn sứ Hôsea và một cô gái giang hồ. Theo lời Thiên Chúa, Hôsea chuộc một cô gái giang hồ trong chốn lầu xanh về nhà và cưới làm vợ. Nhưng cuối cùng cô ta cũng lại phụ tình, bỏ Hôsea theo tiếng gọi giang hồ.

Chúa yêu người tình dại khờ của Chúa. Chúa trở nên từ bi với con người, đúng như người nhạc sỹ Việt Nam đã từng nói,

Yêu em, yêu thêm tình phụ,

Yêu em, lòng chợt từ bi bất ngờ.


II. Thiên Chúa của Hòa Giải

A. “Con Đang Ở Đâu”?

Con người luôn luôn đi hoang và Thiên Chúa luôn luôn đi tìm kiếm chúng ta. Từ những ngày đầu tiên trong dòng lịch sử ơn cứu độ, con người đã bỏ đi hoang. Ghé khu Vườn, không thấy bóng dáng của con người, câu nói đầu tiên bật ra từ cửa miệng của Thiên Chúa diễn tả tâm trạng của mất mát, của tìm kiếm,

— Con đang ở đâu (Sáng Thế Ký 3:9)?

Thực vậy, lịch sử ơn cứu độ là dòng lịch sử của một Thiên Chúa quyết liệt tiếp tục đi tìm kiếm con người, và một con người quyết liệt bỏ đi hoang. Thiên Chúa quyết liệt không bỏ nhưng quyết liệt đi tìm kiếm con người, bởi Ngài là một Thiên Chúa của Hòa Giải.

Trong khu Vườn, Ngài cất giọng hỏi, “Con đang ở đâu?”

Rất tiếc vợ chồng chàng Đất không trả lời câu hỏi, nhưng lại đổ lỗi quanh quẩn cho nhau.

Cũng câu hỏi “Con đang ở đâu?”, trưởng nam của vợ chồng chàng Đất bắt chước bố mẹ từ chối trả lời câu hỏi, và người thanh niên bắt đầu nói dối.

Một cách tương tự, người nhà giầu vô danh trong Luca 7:36-50 quyết liệt từ chối trả lời. Cả một đời ông ta nhắm mắt làm ngơ với câu hỏi “Con đang ở đâu?” của Thiên Chúa qua cửa miệng của người hành khất Lazarô.

Giuđa, đặc biệt hơn, trả lời với Chúa, nhưng rất tiếc đây cũng chỉ là một câu trả lời nửa vời, bởi cuối cùng người này đi tìm kiếm một sợi dây thay thế cho một Thiên Chúa của Từ Bi, Tha Thứ, và Hòa Giải.

Ngược lại, khi Thiên Chúa ghé lại cung điện tìm kiếm Đavít, nhà vua lắng nghe câu hỏi, ngài suy nghĩ, và ngài trả lời, trả lời thành thật, “Con là người có tội” (2Sam 12:13).

Trong sa mạc bên bờ giếng Giacóp, người phụ nữ xứ Samaria thoạt tiên cất tiếng đáp trả lời mời gọi của Thiên Chúa trong sa mạc, “Con đang ở đâu?” Trước mặt Sự Thật, trước tiếng gọi của lương tâm, người phụ nữ trong sa mạc rồi cũng trả lời, “Lạy Chúa, con đang đi lạc đường. Chúa đang ở hướng Đông nhưng con đang tiếp tục đi về hướng Tây”.

Người phụ nữ vô danh trong nhà ông Biệt Phái Simon cũng không nói gì nhưng dùng nước mắt, dùng nước hoa, và làn tóc dài của mình để trả lời với Chúa, “Lạy Chúa con đang quỳ trước mặt Chúa”.

Khi Chúa hỏi người ngư phủ của Biển Hồ “Con đang ở đâu?”, tương tự như người phụ nữ vô danh, Phêrô cũng dùng những dòng nước mắt để trả lời với Chúa. Và đặc biệt hơn, vào một buổi sáng bên bờ Biển Hồ, cả ba lần người ngư phủ của ngày xưa đều trả lời, “Thầy biết con yêu Thầy”.

B. Thiên Chúa Hòa Giải

Bởi Chúa yêu con người, Chúa trở nên từ bi. Những lúc người tình của Chúa phụ bạc, Chúa vẫn ngồi đó, chờ đợi ngày người tình phụ quay về.

Người con hoang đàng trong Tân Ước từ bỏ người cha, lên đường tung cánh chim theo tiếng gọi của thập phương, sau khi mở miệng đòi chia gia tài với người cha. Theo phong tục của người Do Thái, gia tài sẽ chỉ được chia ra cho những người con sau khi người cha đã qua đời. Khi người con hoang đàng mở miệng,

— Xin cha chia cho con phần gia sản của con.

Người con thứ đang rủa người cha,

— Tại sao ông không chết đi để tôi được chia gia tài?

Người con thứ hỗn tới cỡ như vậy mà người cha trong Tân Ước vẫn không một lời than thở, hoặc nặng lời la mắng. Chưa hết sau khi người con thứ đã bỏ đi, tương tự như bên Việt Nam, người cha biết ông sẽ trở thành đề tài đàm tiếu của cả hàng xóm về thằng con bất hiếu, rằng thằng bố không biết dậy thằng con cho nên bị thằng con đăng báo từ cha. Người cha biết rằng sau khi đứa con đã biến dạng nơi chân trời, những lời ong tiếng ve sẽ ngập tràn nơi phố xá, hàng quán, chợ búa,

— Nhà này vô phúc! Có thằng con không ra gì!

Hoặc là,

— Quân du thủ du thực! Bố nó còn sống sờ sờ ra đó mà đòi chia gia tài! Chắc là nghiệp báo gì đây.

Thế đó, ông già biết trước danh dự của ông sẽ bị hàng xóm láng giềng chà đạp thậm tệ nếu ông không ngăn cản người con. Không! Chúa không làm như vậy, nhưng Ngài im lặng chia gia tài cho cậu con quý tử. Sau đó chiều chiều Ngài ngồi nơi cửa sổ chờ đợi. Cặp mắt của người cha dõi nhìn về cõi xa xa, mong đợi bóng dáng của cậu Út quay về lại mái nhà xưa. Mỗi lần bụi bốc lên nơi chân trời, lòng người cha lại thấp thỏm, hồi hộp, chờ đợi.

Và rồi người con thứ cũng đã trở về, sau khi gia tài sự nghiệp tan theo mây khói. Khi thấy bóng dáng của người con từ xa, người cha chạy tới—chạy chớ không thủng thỉnh bước từng bước. Người cha phóng tới, nhưng không phải để hất hủi xua đuổi,

— Mày có ngon thì đi luôn đi! Sao còn vác cái mặt về đây làm gì?

Không! Người cha không làm như vậy. Ông ôm lấy người con, xỏ nhẫn vào tay cậu. Cuối cùng, ông sai gia nhân tổ chức đại dạ tiệc chào mừng ngày người con trở về.

Thiên Chúa là Chúa của Tình Yêu. Ngài yêu thương con cái của Ngài vô điều kiện. Bản chất của con người là bỏ đi hoang; bản chất của Thiên Chúa là từ bi, thứ tha, chờ đợi và hòa giải. Ngay cả trước khi con người có ý nghĩ làm một đường vòng chữ U, quay về lại với Thiên Chúa, Ngài đã đứng ở cửa nhà, chờ đợi giây phút chúng ta trở về xin được hòa giải với Ngài. Nhưng trước khi có can đảm quay về với Thiên Chúa, chúng ta cần phải có tâm tình của Con Người Mới. Con Người Mới chấp nhận những lỗi lầm của mình cho nên con người mới không đổ lỗi cho ai, nhưng tha thứ cho một khoảng thời gian mình đã sống với đêm đen với bóng tối. Tin rằng Thiên Chúa là Thiên Chúa của Tình Yêu, của Hòa Giải, Con Người Mới quyết định đứng dậy bước ra bóng tối đêm đen của lỗi lầm, tiến vào cõi ánh sáng của hòa giải với Thiên Chúa.

C. Lời Kinh Hòa Giải

Và Con Người Mới nói,

Cha ơi, nay con đã trở về. Con không còn đáng được gọi là con của Cha nữa, nhưng xin được làm tôi tớ trong nhà để đền bù lại cho những đêm đêm khi hoàng hôn buông rơi, con không có một lời kinh nguyện tạ ơn cho một ngày vừa trôi qua trong thanh bình, trong hạnh phúc; cho những sáng sớm khi bình minh rực rỡ chiếu xiên xiên qua khung cửa, Chúa không phải là hình ảnh đầu tiên xuất hiện trong tâm trí của con.

Lạy Chúa, hôm nay con quay về ăn năn thống hối cho những giây phút con không chấp nhận lỗi lầm của con; những lần con đổ lỗi cho người khác bởi những vấp té trên đường đời của riêng mình; những lần con nói dối quanh quẩn về một lần con sa ngã; những lần con nhắm mắt làm ngơ trước những người anh, người chị, người em cơ hàn đang cần tới bàn tay con xoa dịu, giúp đỡ. Lạy Chúa, xin tha cho những lần con ơ hờ không để ý tới những lời kêu gọi đóng góp cho nạn nhân của thiên tai bão lụt, động đất; cho những người con của Chúa đang chết đói lả người trên những nẻo đường nắng cháy của lục địa Phi Châu; cho những trẻ em mồ côi Á Châu, Nam Mỹ, Đông Âu; những trẻ em không thân nhân, không họ hàng, không nhà cửa, một đời lang thang tìm kiếm trên những đống rác hôi tanh một miếng bánh mì thiu thối, một trái cam đã bốc mùi, một miếng xương gà chỉ còn trơ trụi những sợi gân xơ xác đang bị ruồi đen bám đặc.

Lạy Chúa, hôm nay con quay về lại với con. Hôm nay con đang lần bước đi theo ánh sáng trời cao. Con đi trong tay Chúa. Chúa soi đường dẫn lối đưa con quay về lại căn nhà của ngày xưa, căn nhà của một thời con đã quay lưng bỏ đi hoang.

Lạy Chúa, con hòa giải với con bằng cách chấp nhận con người của con, con người đã được Chúa tạo dựng qua hình ảnh tuyệt đẹp của Ngài. Lạy Chúa, xin tha cho những lần gọi những người anh chị em có mầu da khác với con bằng những danh từ không đẹp, bởi vì con đã quên rằng vào ngày thứ Sáu trong tuần, trong hình ảnh toàn thiện mỹ của Chúa, Chúa đã dựng nên người nam và người nữ.

Lạy Chúa, xin đốt sáng lại trong con niềm tin vào tình yêu của Chúa, một tình yêu bao la, một tình yêu tuyệt đối. Chúa ơi! Xin thắp sáng lại trong con một ngọn nến hồng nhắc nhở con về Tình Yêu bao la và bất diệt của Ngài.

Lạy Chúa, xin cho con can đảm, một lần dứt khoát đứng lên để con đóng lại một trang sách cũ, trang sách của mất niềm tin vào Chúa, mất niềm hy vọng vào chính con, mất niềm hy vọng vào một ngày mai.

Lạy Chúa xin cầm tay con lên, lật qua một chương sách mới. Nơi trang đầu tiên của chương sách này, con đang nắn nót viết lên hàng chữ đầu tiên:

Ngày hôm nay tôi đã hòa giải với chính tôi. Ngày hôm nay tôi đã hòa giải với Chúa.

Lạy Chúa, xin đừng để con dừng lại với hàng chữ đầu tiên này, nhưng tiếp tục viết tiếp những dòng chữ mới trong chương sách mới. Lạy Chúa, chương sách mới của ngày hôm nay, con gọi là chương sách của Hy Vọng
.

(Còn tiếp)

Để lắng nghe audio của Con người mới trong Mùa Chay: Chấp Nhận và Hy Vọng, xin mời ghé vào:

www.nguyentrungtay.com/cnmoi.html