Tác vụ Lời Chúa và linh đạo linh mục giáo phận
LTS: Trong kỳ cấm phòng cho các linh mục giáo phận Phan Thiết, LM Phêrô Nguyễn Khảm, giám đốc Trung Tâm Mục Vụ và Văn Hóa TGP Saigòn đã giảng về đề tài "Linh đạo và thừa tác vụ Linh mục và Lời Chúa", gồm 7 bài. Hôm nay chúng tôi cho đăng bài 1: "Tác vụ Lời Chúa và Linh đạo Linh mục giáo phận".
Trong Thư Mục Vụ 2005, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam nhắn nhủ các linh mục: “Loan báo Lời Chúa là sứ mạng chính yếu và là lẽ sống của chúng ta. Chính vì sứ mạng này mà chúng ta được chọn và sai đi (x. Mt 10,4; Mc 3, 13-14). Đó cũng là di chúc của Thày Chí Thánh trước khi về trời (x. Mt 28, 19-20; Mc 16, 15-18).” Lời nhắn nhủ này hàm chứa khẳng định: sứ mạng loan báo Lời Chúa làm nên lý do hiện hữu của linh mục nói chung và linh mục giáo phận nói riêng; vì thế, sứ mạng này phải đóng vai trò cốt lõi trong linh đạo linh mục. Chính vì thế, tuần tĩnh tâm linh mục trong năm 2006 này tập trung vào chủ đề : Tác Vụ Lời Chúa và Linh Đạo Linh Mục Giáo Phận.
1. Trước Công đồng Vaticano II
Nói theo ngôn ngữ của thần học kinh viện thì linh đạo của linh mục nói chung và linh mục giáo phận nói riêng được đặt nền trên vị thế hữu thể học (ontological status). Lãnh nhận chức linh mục (qua bí tích Truyền Chức Thánh) là mang một status mới cắm rễ sâu trong chính hữu thể linh mục. Chính do vị thế này mà linh mục có thể hành động in persona Christi Capitis, được ban năng quyền đặc biệt mà người giáo dân không có: thánh hoá, tha tội, xức dầu, chúc phúc. Cũng vì thế, linh mục có vị trí hết sức cao cả trong đời sống Giáo Hội. (1) Dĩ nhiên cũng không thể không quan tâm đến những yếu tố khác về mặt xã hội đã tạo nên hào quang cho linh mục, chẳng hạn trong nhiều thế kỷ qua, tại Việt Nam, linh mục vẫn được coi là người học cao hiểu rộng và có quyền lực lớn trong xã hội; vì thế được hưởng sự nể trọng đặc biệt của giáo dân.
Vì mang vị thế và có quyền năng đặc biệt, linh mục có trách nhiệm phải sống thánh thiện để có thể chu toàn nhiệm vụ cao quý: cử hành Thánh Thể, đọc sách nguyện, lần chuỗi, và những việc đạo đức khác. Tất cả những việc đạo đức trên được coi là suối nguồn và nhiên liệu cho đời sống thiêng liêng của linh mục. Suy tư của thánh Grêgôriô Nadianô có thể tóm tắt cách nhìn này: “Trước tiên, phải thanh luyện mình rồi mới thanh luyện người khác, phải trở nên ánh sáng rồi mới chiếu soi, phải đến với Chúa rồi mới kéo kẻ khác được, phải tự thánh hoá rồi mới thánh hoá kẻ khác” (2)
Dù tất cả những công việc trên đều nhằm mục đích phục vụ cộng đoàn, linh đạo linh mục chủ yếu vẫn mang tính đạo đức cá nhân nhiều hơn, nghĩa là hoàn toàn nằm trong chiều hướng từ cá nhân linh mục đến cộng đoàn chứ không có chiều ngược lại. Linh mục cầu nguyện và làm các việc đạo đức là để chính mình được nên thánh, nhờ đó phục vụ Chúa và con người tốt hơn.
2. Sau Công đồng Vaticano II
Những phát triển trong suy tư về linh đạo linh mục sau Vaticano II không phải là đứt đoạn với quá khứ nhưng đúng hơn, mang tính tiếp nối. Nếu trước kia, đời sống thiêng liêng của cá nhân linh mục được coi là nguồn của tác vụ và đời sống linh mục, thì bây giờ, tuy tầm nhìn trên không bị phủ nhận nhưng đồng thời được gắn thêm một chiều kích khác, tức là chính việc thi hành tác vụ cũng là nguồn cho đời sống thiêng liêng.
Cách nhìn này được khơi nguồn từ chính cách nhìn về Giáo Hội. Vào thời của Công đồng Tridentino, Giáo Hội được nhìn như trung tâm của ơn cứu độ và như thế, linh mục đóng vai trò chủ chốt trong Giáo Hội. Có người gọi mô hình Giáo hội đó là một cộng đoàn tập trung vào linh mục (a priest-centered community). Ngày nay, theo Hiến chế Giáo Hội, Giáo Hội được trình bày như là mầu nhiệm và là Dân Thiên Chúa. Điểm tập trung không còn là linh mục mà là Dân Chúa (people-centered community). Trong Giáo Hội, dĩ nhiên tác vụ linh mục vẫn là tác vụ đặc biệt nhưng cũng có những tác vụ khác. (3) Vì thế, linh mục được mời gọi thi hành tác vụ của mình trong tinh thần của người tôi tớ và thúc đẩy sự hợp tác (servant leadership and collaborative leadership). Trong Thư Gửi các Linh Mục vào Thứ Năm Tuần Thánh 1990, Đức Gioan Phaolô II đã nhấn mạnh đến điều này: “Chức linh mục không phải là một thể chế hiện hữu song hành với giáo dân, hoặc “ở trên” giáo dân. Chức tư tế của các giám mục và linh mục cũng như thừa tác vụ của các phó tế là “cho” giáo dân, và chính vì thế mà chức tư tế mang tính phục vụ. “Tính thừa tác” ở đây có nghĩa là một công việc phục vụ.”
Trong cách nhìn này, chính công tác mục vụ của linh mục trở thành nguồn cho linh đạo linh mục: Sắc lệnh về Chức vụ và Đời Sống Linh Mục khẳng định: “Thành tâm và kiên nhẫn thi hành nhiệm vụ của mình trong tinh thần Chúa Kitô là cách thế riêng giúp các linh mục theo đuổi sự thánh thiện.” Tiếp đó, khi bàn đến sự thống nhất trong đời sống linh mục, Sắc Lệnh viết tiếp: “Nhờ thi hành nhiệm vụ của mục tử nhân lành và chính trong khi thi hành đức Ai mục tử, các linh mục tìm được mối dây hoàn thiện nối kết đời sống và hoạt động của mình làm một.” (4)
Như thế, đời sống nội tâm của cá nhân linh mục và những công việc mục vụ của linh mục ở trong thế hỗ tương và bổ túc cho nhau, chứ không chỉ theo một chiều như trước. Có thể nói chính điểm này làm nên nét độc đáo trong linh đạo của linh mục giáo phận. Cũng vì thế, có tác giả đề nghị gọi linh đạo này là linh đạo mang tính biện chứng. Đúng là đời sống nội tâm của cá nhân linh mục khơi nguồn cho công tác mục vụ của linh mục, nhưng đồng thời chính khi cố gắng thi hành công việc của một mục tử, công việc đó sẽ biến đổi con người linh mục nên giống Vị Mục Tử nhân lành hơn, nghĩa là sống chức linh mục của mình đúng nghĩa hơn.
3. Linh đạo linh mục: linh đạo phục vụ Lời
Trong các nhiệm vụ của linh mục thì nhiệm vụ rao giảng Lời Chúa được xếp hàng ưu tiên:
“Dân Chúa được quy tụ trước hết là nhờ Lời Thiên Chúa hằng sống; lời này phải được đặc biệt tìm thấy nơi môi miệng các linh mục... Do đó các linh mục, vì là cộng sự viên của giám mục, có nhiệm vụ đầu tiên là loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa... Các ngài mắc nợ với mọi người về việc thông truyền cho họ chân lý Phúc Am mà các ngài đã nhận được nơi Chúa.” (5)
Yves Congar - nhà thần học đã đóng vai trò lớn trong việc soạn thảo các văn bản Công đồng, và đã được Đức Gioan Phaolô II nâng lên hàng Hồng y – đã phát biểu rằng : “Tôi có thể trích dẫn một loạt các văn bản xưa với chung một nội dung rằng: nếu trong một đất nước mà trong suốt 30 năm người ta cử hành Thánh Lễ hằng ngày nhưng không giảng, và một nơi mà trong suốt 30 năm không có Thánh Lễ nhưng có giảng Lời Chúa, thì chắc chắn dân chúng ở nơi có nghe giảng sẽ là những người Kitô hữu tốt hơn.” (6)
Vì là nhiệm vụ hàng đầu nên linh mục được mời gọi phải giảng trong Thánh Lễ Chúa nhật: “Trong những Thánh Lễ được cử hành những ngày Chúa nhật và lễ buộc, có dân chúng tham dự, không được bỏ giảng nếu không có lý do hệ trọng.(7) Hơn thế nữa, linh mục còn được khuyến khích giảng Lời Chúa hằng ngày: “Trong các Chúa nhật và lễ buộc, phải giảng trong mọi Thánh Lễ có giáo dân tham dự. Còn trong những ngày khác, nên giảng, nhất là trong Mùa Vọng, Mùa Chay, Mùa Phục Sinh, cũng như trong các ngày lễ khác và những dịp có đông giáo dân đến tập họp nơi thánh đường.” (8) Để có thể chu toàn nhiệm vụ cao quý này, linh mục được nhắn nhủ là phải gắn bó với Thánh Kinh qua việc chăm chú đọc Thánh Kinh và ân cần học hỏi; nếu không, linh mục có thể trở thành những người “huyênh hoang rao giảng Lời Thiên Chúa ngoài môi miệng vì đã không lắng nghe Lời Thiên Chúa trong lòng.” (9)
Dĩ nhiên nhiệm vụ rao giảng Lời Chúa chỉ có thể chu toàn và mang lại hiệu quả nếu bản thân linh mục có đời sống thánh thiện; do đó linh mục phải có đời sống cầu nguyện sâu xa để có thể chu toàn nhiệm vụ rao giảng Lời. Tông huấn về Chức Linh Mục Thừa Tác vẫn nhắc nhớ điều này: “Theo gương Chúa Kitô là Đấng không ngừng cầu nguyện và đặt mình trong sự hướng dẫn của Thánh Thần, các linh mục nên tận hiến cho việc chiêm ngắm Lời Chúa, và hằng ngày nhìn mọi biến cố đời sống trong ánh sáng Phúc Am, để một khi trở thành những người lắng nghe Lời Chúa cách trung thành và chăm chú, các linh mục cũng trở thành những thừa tác viên đích thực của Lời Chúa". (10).
Tuy nhiên, trong cách nhìn biện chứng như đã trình bày thì cần nói thêm: đúng là linh mục phải nên thánh để có thể thi hành tác vụ giảng dạy cách hiệu quả nhưng đồng thời chính việc thi hành nhiệm vụ giảng dạy giúp linh mục nên thánh. Nếu linh mục được khuyến khích giảng Lời Chúa mỗi ngày, và nếu linh mục muốn thi hành nhiệm vụ đó cách nghiêm túc, thì mỗi ngày bản thân linh mục phải đọc Lời Chúa, cầu nguyện và suy niệm để soạn bài giảng. Như thế, mỗi ngày bản thân linh mục được Lời Chúa mà mình rao giảng soi sáng, hướng dẫn và tác tạo chính con người mình. Chính vì thế, việc rao giảng Lời Chúa trở thành trọng tâm và nền tảng trong linh đạo linh mục giáo phận. Đối với một linh mục trung thành với việc cầu nguyện và suy niệm, đọc và lắng nghe Lời Chúa để có thể chia sẻ cho người khác, thì chính bổn phận rao giảng Lời Chúa sẽ trở thành cái neo giữ cho đời sống linh mục được vững vàng trong mọi sóng gió.
Robert M. Schwartz, linh mục đặc trách Ủy Ban Thường Huấn Linh Mục thuộc HĐGM Hoa Kỳ, đã chia sẻ kinh nghiệm của ngài về việc soạn bài giảng Chúa nhật trong nhiều năm như sau: Thứ Hai, đọc bài Tin Mừng – Thứ Ba, đọc bài đọc I – Thứ Tư, đọc bài đọc II. Mỗi ngày như thế, tâm trí của cha thấm nhuần Lời Chúa sẽ được công bố vào Chúa nhật tới, đồng thời qua những tiếp xúc gặp gỡ giáo dân và mọi biến cố xảy ra trong tuần, chất liệu bài giảng Chúa nhật mỗi ngày mỗi rõ nét hơn (11).
Nếu một linh mục trung thành với việc soạn bài giảng như thế, thì Lời Chúa sẽ tác động trên linh mục đó sâu xa thế nào! Thế nên có thể nói chính nhiệm vụ rao giảng Lời Chúa làm nên linh đạo linh mục, linh đạo phục vụ Lời.
4. Dẫn vào những đề tài sẽ trình bày
Trong ý hướng trên, những đề tài được trình bày trong tuần tĩnh tâm này nhằm mục đích khắc hoạ những khía cạnh khác nhau trong chân dung linh mục xét như người phục vụ Lời. Avery Dulles, nhà thần học Hoa Kỳ đầu tiên được trao mũ Hồng Y, đã viết tác phẩm nổi tiếng mang tựa đề Những Mô Hình của Giáo Hội (Models of the Church). Trong tác phẩm này, tác giả đã dựa vào những nghiên cứu sâu rộng để trình bày 5 mô hình về Giáo hội (12). Không chỉ một nhưng là 5 mô hình. Lý do là vì Giáo hội là một mầu nhiệm và một thực tại hết sức phong phú, cho nên không thể chỉ nhìn Giáo hội theo một mô hình duy nhất nhưng cần nhiều mô hình để diễn tả và bổ túc cho nhau.
Tương tự như thế, đã có nhiều hình ảnh để diễn tả chân dung linh mục như người rao giảng Lời Chúa. Mỗi hình ảnh nói lên một khía cạnh trong sứ mạng rao giảng Lời Chúa của linh mục, đồng thời khắc hoạ những đòi hỏi của sứ mạng đó. Thiết nghĩ khai triển những hình ảnh này vừa là cơ hội chiêm ngắm chân dung người rao giảng, lại vừa là dịp để soi bóng chính mình trong tuần tĩnh tâm. Theo đó, trong tuần tĩnh tâm này, những hình ảnh sau đây sẽ được vận dụng để phần nào khắc hoạ chân dung người rao giảng Lời Chúa: (1) Phát ngôn viên, (2) Giáo viên, (3) Thông dịch viên, (4) Chứng nhân, và (5) Ngôn sứ.
------
Chú Thích:
(2) Or. 2,73
(3) Trong thực tế, thừa tác vụ giáo dân (Lay Ministry) càng ngày càng được quan tâm hơn. Có thể do tình trạng thiếu vắng linh mục nên có nhiều giáo dân được đào tạo để làm một số công việc thay thế linh mục. Tuy nhiên, không thể không nghĩ đến ảnh hưởng của Vaticano II khi nhấn mạnh đến ơn gọi và sứ mạng của giáo dân.
(4) Sắc lệnh về Chức Vụ và Đời Sống Linh Mục, số 13 & 14.
(5) Ibid., 4.
(6) Yves Congar, O.P., “Sacrament, Worship and Preaching,” trong The Renewal of Preaching: Theory and Practice (Concilium 33; New York: Paulist 1968), 51-63.
(7) Hiến chế Phụng Vụ, số 52.
(8) Quy Chế Tổng Quát Sách Lễ Roma, số 42.
(9) Hiến chế Mạc Khải, số 25.
(10) Phaolô VI, Tông huấn Chức Linh Mục Thừa Tác, II. I/3.
(11) Donald B. Cozzens, The Spirituality of the Diocesan Priest, Minnesota: The Liturgical Press, 1997, 5-6.
(12) Những mô hình về Giáo hội mà tác giả trình bày là: Giáo hội như một cơ chế, Giáo hội như sự hiệp thông huyền nhiệm, Giáo hội như bí tích, Giáo hội như phát ngôn viên, Giáo hội người tôi tớ. X. Avery Cardinal Dulles, Models of the Church, Image Book, Doubleday, 2002.