Nhân kỷ niệm việc soạn thảo ra văn kiện “Lumen Gentium”
ROME, NOV. 3, 2004 (Zenit.org).- Ngày 21 tháng 11 sắp tới đánh dấu 40 năm kể từ khi văn kiện của Công Đồng Chung Vaticăn II về hiến pháp tín lý (dogmatic constitution) “Lumen Gentium” được chính thức công bố bởi Đức Cố Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục.
Để hiểu rõ hơn về cách thức mà văn kiện này được viết ra, hãng Zenit đã có cuộc phỏng vấn với Linh Mục Dòng Tên là Cha Phaolô Gumpel, người đã hợp tác hằng ngày trong việc soạn ra văn kiện đó.
Hỏi (H): Thưa Cha, làm thế nào mà Cha có liên quan đến việc soạn thảo ra văn kiện này?
Cha Gumpel (T): Thưa, chính là vì Đức Cố Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục đã yêu cầu tôi thành lập ra một phần của ủy ban cao nhất của Công Đồng, nhưng lại làm việc chặt chẻ với Cha Paolo Molinari, người đã được Ngài chỉ định vào công việc ấy.
Dĩ nhiên là tôi từ chối lời yêu cầu đó, vì giải thích rằng tôi còn phải liên quan đến những công việc khác trong nội bộ giáo triều của Dòng Tên, và chính vì thế mà hai chúng tôi không thể nào tham dự vào những buổi họp vốn diễn ra mỗi ngày gồm cả những buổi cuối tuần, Thứ Bảy và Chủ Nhật.
Hơn nữa, rõ ràng là Cha Molinari lại rất cần có sự giúp đỡ, chính vì thế mà hai chúng tôi chia đôi công việc. Ngài thì tham dự vào Công Đồng, còn tôi thì nghiên cứu một cách chuyên sâu những văn kiện mà Đức Giáo Hoàng đã cho phép tôi truy cập. Và thế là, tôi bỏ ra rất nhiều ngày để nghiên cứu tại các thư viện để khám phá ra những điểm nào sẽ được tranh luận sắp tới vốn có tính cấp bách, tế nhị (delicate), và để cung cấp các tài liệu về văn kiện cho Cha Molinari.
(H): Thưa Cha, thế văn kiện “Lumen Gentium” có tầm quan trọng như thế nào và nó đề cập tới những vấn đề gì?
(T): Thưa, văn kiện “Lumen Gentium” chính là một hiến pháp về tín lý, một văn kiện có tầm quan trọng cao nhất thuộc về quyền giáo huấn bình thường (ordinary magisterium) của Giáo Hội cũng như của Công Đồng, mặc dầu vào phần cuối nó chẳng có thêm vào những định nghĩa tín lý nào là mới mẽ cả.
Đã có rất nhiều cuộc thảo luận về mỗi chương của hiến pháp về tín lý. Hai chương đầu rất là sâu sắc và uyên thâm, trình bày về bản chất của Hội Thánh theo quan điểm về học thuyết thế mạt (eschatological) và với tư cách là người hành hương của Dân Thiên Chúa. Vấn nạn chính là ở chổ rằng Đức Cố Giáo Hoàng Piô XII, người đã có thể chuẩn bị cho Công Đồng, thì lại dự định nhấn mạnh đến khía cạnh của Giáo Hội như là một Thân Thể Mầu Nhiệm của Chúa Kitô.
Thì trong cuộc thảo luận, theo như phần chú giải chính thức của hai chương đầu này, khi Công Đồng nghiên cứu tới bản chất nội tại của Giáo Hội, thì không có một sự xác nhận nào rõ ràng hơn là sự xác nhận về Giáo Hội như là cuộc hành hương mạt thế tiến về nước thiên đàng.
Rồi sau đó, có một vài thành viên lại cho rằng định nghĩa đó lại không ăn khớp với học thuyết của Đức Cố Giáo Hoàng Piô XII về Thân Thể Mầu Nhiệm. Thế nhưng vấn đề đó, chẳng có lý do gì đáng để quan tâm cả, vì lẽ, nếu xét theo cấu trúc nội tại của Giáo Hội, thì không có một khái niệm nào lại hợp lý hơn về Giáo Hội như là một Thân Thể Mầu Nhiệm của Chúa Kitô.
(H): Thưa Cha, một số người cho rằng, những cuộc thảo luận gây cấn nhất có liên quan tới hội đồng giám mục thế giới (collegiality of bishops) và vai trò của Đức Giáo Hoàng?
(T): Đúng ra, vào chương 3 của văn kiện “Lumen Gentium” có đề cập tới hội đồng giám mục thế giới và vai trò của Đức Giáo Hoàng trong việc cai quản Hội Thánh.
(H): Dĩ nhiên là các Đức Giám Mục phải chịu trách nhiệm không chỉ trước những giáo phận của riêng các Ngài, mà còn trước cả Giáo Hội. Thế nhưng, thưa Cha, trách nhiệm này lại được thực thi như thế nào ạ?
(T): Thưa, công thức vận hành thì đã quá rõ: “cùng với Phêrô và dưới quyền của Phêrô” - “cum et sub Petro.” Thế nhưng, những công thức được trình bày trước thì lại thiếu hẳn sự rõ ràng, mạch lạc, đến nổi mà 18 vị Hồng Y và các Cha Tổng Bề Trên của rất nhiều Hội Dòng đã viết thư lên cho Đức Thánh Cha để những sự mơ hồ này cần phải được bỏ tránh. Họ than phiền với Đức Giáo Hoàng rằng cần phải thêm vào sự giải thích, vì lẽ, nội dung của bản văn thì rất mơ hồ và nghiên về hai cách diễn đạt rất khác nhau.
Thoạt đầu, Đức Thánh Cha Phaolô Đệ Lục không nắm rõ hết tầm quan trọng của những lời chỉ trích này. Thế nhưng, sau đó, chính xác là trước khi bỏ phiếu về viêc viết ra chương ba của văn kiện, thì Đức Giáo Hoàng mới nhận ra được một số sự tối nghĩa đáng kể sẽ gây ra nhiều sự mơ hồ về vai trò của Đức Giáo Hoàng, và vì lý do này mà “Nota Preva” được giới thiệu ra.
(H): Thưa Cha, “Nota Preva” nói đến điều gì?
(T): Thưa, Đức Thánh Cha nhận ra rằng rất là nguy hiểm khi công bố một văn kiện có tầm quan trọng như vậy khi mà vai trò của Đức Thánh Cha trong mối tương giao với các Đức Giám Mục lại không được rõ ràng cho lắm. Thì chính từ mối quan ngại này đã nảy sinh ra ý tưởng của “Nota Preva,” vốn có liên quan đến cuộc thảo luận của Công Đồng, là để khẳng định lại những giảng dạy giáo điều của Giáo Hội về vấn đề này.
(H): Thưa Cha, đã có rất nhiều cuộc thảo luận ở các chương có liên quan tới sự nên thánh và đời sống tu dòng?
(T): Thưa, đúng ra, là đã có một cuộc tranh luận lớn. Chương 5 nói về lời mời gọi để nên thánh. Thế nên thánh chính là gì? Có phải sự nên thánh nào cũng đều giống nhau tất cả hay liệu có những sự khác biệt nào chăng trong lời mời gọi để nên thánh? Rõ ràng là không có một sự nghi ngờ nào nữa cả vì lẽ có một lời mời gọi chung để nên thánh, nhưng cũng có một sự mạo hiểm khi tầm thường hóa sự cam kết vào đời sống linh mục hay tu dòng.
Rõ ràng là tất cả lời mời gọi là để nên thánh, tức có nghĩa là được kết đoàn cùng với Chúa Kitô, thế nhưng cũng có những sự khác biệt tùy theo cung cách sống của lời gọi mời ấy.
Một vấn đề khác vốn gây ra một cuộc tranh luận lớn chính là vấn nạn của “sự miễn trừ” trong các hội tu dòng, có nghĩa là, liệu có hay không có vâng phục đối với các Cha Bề Trên Tổng Quyền hay các Đức Giám Mục. Vấn đề này đã được tranh luận tại Công Đồng Trent. Một vị Giám Mục đến từ Gia Nã Đại đã để lại một bản ghi nhớ được viết tay qua đó Ngài khẳng định rằng mục vụ quan trọng nhất trong Giáo Hội chính là của giáo xứ. Theo quan điểm của Ngài, các hội dòng phải được cho phép hình thành nên trong chính hội dòng một gia đình tôn giáo hay dòng tu ngay lúc vị linh mục được truyền chức, thì những vị ấy không còn phải tuân lệnh các vị Bề Trên Tổng Quyền của họ nữa, mà được đặt dưới quyền của các vị Giám Mục bản xứ. Tuy nhiên, nếu họ bị bệnh hoặc trở nên già yếu, thì họ được phép trở về hội dòng của họ.
Thì rõ ràng là, các hội dòng phản kháng lại điều này và tán thành việc miễn trừ của họ. Đúng là có những vấn nạn trong các tác vụ, khi các vị Bề Trên Tổng Quyền có thể chỉ định người nối tiếp từ những thành viên trong Dòng mà không cần phải tham khảo qua vị Giám Mục bản xứ. Thì trong bất kỳ trường hợp nào, giải pháp không thể nào có thể bỏ qua “sự miễn trừ,” nhưng là cổ võ một sự đại kết rộng lớn hơn giữa hai vị bản quyền.
(H): Thưa Cha, làm thế nào mà chương có liên quan tới sự cung kính Đức Mẹ được viết ra trong văn kiện “Lumen Gentium”?
(T): Thưa, Đức Cố Giáo Hoàng Gioan XXIII muốn có một hiến pháp về giáo điều có liên quan tới chỉ một mình Đức Trinh Nữ Maria, và một chương khác có liên quan đến các vị Thánh, trong khi đó lại có những người trong Công Đồng nghĩ rằng có một sự chú trọng quá nhiều vào học thuyết về Đức Trinh Nữ Maria.
Thì đã có một cuộc thảo luận mạnh mẽ. Một phiếu được chọn ra và những ai đồng ý vào việc thêm vào một chương có liên quan tới Mẹ Maria trong văn kiện “Lumen Gentium” thắng. Có một sự khác biệt tới khoảng 50 phiếu bầu trong tổng số 2,000 phiếu.
Điều tương tự cũng diễn ra có liên quan tới các Thánh. Đức Cố Giáo Hoàng Gioan XXIII đã yêu cầu có một hội hiến đặc biệt được chuẩn bị để dành sự tôn kính cho các vị Thánh, bởi vì Ngài rất quan tâm đến cách mà các vị Thánh ấy bị bỏ lờ qua. Vì lý do này mà Ngài yêu cầu Cha Molinari viết về một cuốn sách và cho xuất bản vào đêm trước của Công Đồng. Cuốn sách có nhan đề là: “Các Thánh và Sự Tận Hiến của Các Ngài,” được xuất bản vào năm 1965 và đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng.
Đó chính là lý do tại sao, có một chương được viết về Mẹ Maria, và một chương khác viết về các vị Thánh.
(H): Thưa Cha, ngày hôm nay, có rất nhiều người xem Công Đồng Chung Vaticăn II như là một sự đối đầu giữa những khuynh hướng bảo thủ và những khuynh hướng cấp tiến. Thế đâu là sự nhận xét của Cha?
(T): Thưa, giới truyền thông báo chí đã gây ra một áp lực mạnh mẽ đến Công Đồng. Thì đúng là có một số ủng hộ truyền thống và số khác thì ủng hộ cho những khuynh hướng tiến bộ, thế nhưng từng trường hợp phải cần được xem xét một cách rất kỹ càng. Có một số chuyên gia của Công Đồng và một số Giám Mục đưa ra cho báo chí những bản báo cáo theo khuynh hướng đơn phương. Rồi giới truyền thông báo chí lại trích dẫn họ mà không hề hay biết được là có những khuynh hướng khác, và dùng nhận xét này để cố làm ảnh hưởng đến công luận.
Công Đồng Chung Vaticăn II chính là một Công Đồng Chung đầu tiên mà giới truyền thông báo chí được cho phép vào để tham dự, và đó chính là một tác hại mà không ai có thể lường trước được. Các văn phòng báo chí ấy đã không có đủ dữ kiện để hướng công luận vào ngay đúng sự thật của những cuộc thảo luận của Công Đồng. Tiêu chuẩn để chọn lựa giới truyền thông là hoàn toàn theo tính duy cảm, họ không thể nào có thể hiểu được làm sao mà một Công Đồng được phát triển và làm cách nào mà Giáo Hội bàn luận tới các vấn đề.
Giới báo chí không có lý thú cho lắm gì khi phải biết đến học thuyết của Công Đồng Trent, của Công Đồng Vaticăn I và của quyền giáo huấn của Đức Cố Giáo Hoàng Piô XII. Họ chỉ thích thú sỏ mũi vào những sự việc nhằm lan truyền xì-căng-đan và thuyết duy cảm, hòng tạo ra một tình trạng hoàn toàn giả dối về Giáo Hội.
Hơn thế nữa, chúng ta đang ở giữa những năm của thập niên 60. Đã có những thời kỳ giông bão và giới truyền thông đưa ra ý tưởng rằng Giáo Hội đang tự mình thích ứng với những gì đang xảy ra trong xã hội, và chính vì thế những ai cố bảo vệ vị thế của họ vốn không phải là chính thống, thì lại nhận được sự ủng hộ của giới báo chí.
ROME, NOV. 3, 2004 (Zenit.org).- Ngày 21 tháng 11 sắp tới đánh dấu 40 năm kể từ khi văn kiện của Công Đồng Chung Vaticăn II về hiến pháp tín lý (dogmatic constitution) “Lumen Gentium” được chính thức công bố bởi Đức Cố Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục.
Để hiểu rõ hơn về cách thức mà văn kiện này được viết ra, hãng Zenit đã có cuộc phỏng vấn với Linh Mục Dòng Tên là Cha Phaolô Gumpel, người đã hợp tác hằng ngày trong việc soạn ra văn kiện đó.
Hỏi (H): Thưa Cha, làm thế nào mà Cha có liên quan đến việc soạn thảo ra văn kiện này?
Cha Gumpel (T): Thưa, chính là vì Đức Cố Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục đã yêu cầu tôi thành lập ra một phần của ủy ban cao nhất của Công Đồng, nhưng lại làm việc chặt chẻ với Cha Paolo Molinari, người đã được Ngài chỉ định vào công việc ấy.
Dĩ nhiên là tôi từ chối lời yêu cầu đó, vì giải thích rằng tôi còn phải liên quan đến những công việc khác trong nội bộ giáo triều của Dòng Tên, và chính vì thế mà hai chúng tôi không thể nào tham dự vào những buổi họp vốn diễn ra mỗi ngày gồm cả những buổi cuối tuần, Thứ Bảy và Chủ Nhật.
Hơn nữa, rõ ràng là Cha Molinari lại rất cần có sự giúp đỡ, chính vì thế mà hai chúng tôi chia đôi công việc. Ngài thì tham dự vào Công Đồng, còn tôi thì nghiên cứu một cách chuyên sâu những văn kiện mà Đức Giáo Hoàng đã cho phép tôi truy cập. Và thế là, tôi bỏ ra rất nhiều ngày để nghiên cứu tại các thư viện để khám phá ra những điểm nào sẽ được tranh luận sắp tới vốn có tính cấp bách, tế nhị (delicate), và để cung cấp các tài liệu về văn kiện cho Cha Molinari.
(H): Thưa Cha, thế văn kiện “Lumen Gentium” có tầm quan trọng như thế nào và nó đề cập tới những vấn đề gì?
(T): Thưa, văn kiện “Lumen Gentium” chính là một hiến pháp về tín lý, một văn kiện có tầm quan trọng cao nhất thuộc về quyền giáo huấn bình thường (ordinary magisterium) của Giáo Hội cũng như của Công Đồng, mặc dầu vào phần cuối nó chẳng có thêm vào những định nghĩa tín lý nào là mới mẽ cả.
Đã có rất nhiều cuộc thảo luận về mỗi chương của hiến pháp về tín lý. Hai chương đầu rất là sâu sắc và uyên thâm, trình bày về bản chất của Hội Thánh theo quan điểm về học thuyết thế mạt (eschatological) và với tư cách là người hành hương của Dân Thiên Chúa. Vấn nạn chính là ở chổ rằng Đức Cố Giáo Hoàng Piô XII, người đã có thể chuẩn bị cho Công Đồng, thì lại dự định nhấn mạnh đến khía cạnh của Giáo Hội như là một Thân Thể Mầu Nhiệm của Chúa Kitô.
Thì trong cuộc thảo luận, theo như phần chú giải chính thức của hai chương đầu này, khi Công Đồng nghiên cứu tới bản chất nội tại của Giáo Hội, thì không có một sự xác nhận nào rõ ràng hơn là sự xác nhận về Giáo Hội như là cuộc hành hương mạt thế tiến về nước thiên đàng.
Rồi sau đó, có một vài thành viên lại cho rằng định nghĩa đó lại không ăn khớp với học thuyết của Đức Cố Giáo Hoàng Piô XII về Thân Thể Mầu Nhiệm. Thế nhưng vấn đề đó, chẳng có lý do gì đáng để quan tâm cả, vì lẽ, nếu xét theo cấu trúc nội tại của Giáo Hội, thì không có một khái niệm nào lại hợp lý hơn về Giáo Hội như là một Thân Thể Mầu Nhiệm của Chúa Kitô.
(H): Thưa Cha, một số người cho rằng, những cuộc thảo luận gây cấn nhất có liên quan tới hội đồng giám mục thế giới (collegiality of bishops) và vai trò của Đức Giáo Hoàng?
(T): Đúng ra, vào chương 3 của văn kiện “Lumen Gentium” có đề cập tới hội đồng giám mục thế giới và vai trò của Đức Giáo Hoàng trong việc cai quản Hội Thánh.
(H): Dĩ nhiên là các Đức Giám Mục phải chịu trách nhiệm không chỉ trước những giáo phận của riêng các Ngài, mà còn trước cả Giáo Hội. Thế nhưng, thưa Cha, trách nhiệm này lại được thực thi như thế nào ạ?
(T): Thưa, công thức vận hành thì đã quá rõ: “cùng với Phêrô và dưới quyền của Phêrô” - “cum et sub Petro.” Thế nhưng, những công thức được trình bày trước thì lại thiếu hẳn sự rõ ràng, mạch lạc, đến nổi mà 18 vị Hồng Y và các Cha Tổng Bề Trên của rất nhiều Hội Dòng đã viết thư lên cho Đức Thánh Cha để những sự mơ hồ này cần phải được bỏ tránh. Họ than phiền với Đức Giáo Hoàng rằng cần phải thêm vào sự giải thích, vì lẽ, nội dung của bản văn thì rất mơ hồ và nghiên về hai cách diễn đạt rất khác nhau.
Thoạt đầu, Đức Thánh Cha Phaolô Đệ Lục không nắm rõ hết tầm quan trọng của những lời chỉ trích này. Thế nhưng, sau đó, chính xác là trước khi bỏ phiếu về viêc viết ra chương ba của văn kiện, thì Đức Giáo Hoàng mới nhận ra được một số sự tối nghĩa đáng kể sẽ gây ra nhiều sự mơ hồ về vai trò của Đức Giáo Hoàng, và vì lý do này mà “Nota Preva” được giới thiệu ra.
(H): Thưa Cha, “Nota Preva” nói đến điều gì?
(T): Thưa, Đức Thánh Cha nhận ra rằng rất là nguy hiểm khi công bố một văn kiện có tầm quan trọng như vậy khi mà vai trò của Đức Thánh Cha trong mối tương giao với các Đức Giám Mục lại không được rõ ràng cho lắm. Thì chính từ mối quan ngại này đã nảy sinh ra ý tưởng của “Nota Preva,” vốn có liên quan đến cuộc thảo luận của Công Đồng, là để khẳng định lại những giảng dạy giáo điều của Giáo Hội về vấn đề này.
(H): Thưa Cha, đã có rất nhiều cuộc thảo luận ở các chương có liên quan tới sự nên thánh và đời sống tu dòng?
(T): Thưa, đúng ra, là đã có một cuộc tranh luận lớn. Chương 5 nói về lời mời gọi để nên thánh. Thế nên thánh chính là gì? Có phải sự nên thánh nào cũng đều giống nhau tất cả hay liệu có những sự khác biệt nào chăng trong lời mời gọi để nên thánh? Rõ ràng là không có một sự nghi ngờ nào nữa cả vì lẽ có một lời mời gọi chung để nên thánh, nhưng cũng có một sự mạo hiểm khi tầm thường hóa sự cam kết vào đời sống linh mục hay tu dòng.
Rõ ràng là tất cả lời mời gọi là để nên thánh, tức có nghĩa là được kết đoàn cùng với Chúa Kitô, thế nhưng cũng có những sự khác biệt tùy theo cung cách sống của lời gọi mời ấy.
Một vấn đề khác vốn gây ra một cuộc tranh luận lớn chính là vấn nạn của “sự miễn trừ” trong các hội tu dòng, có nghĩa là, liệu có hay không có vâng phục đối với các Cha Bề Trên Tổng Quyền hay các Đức Giám Mục. Vấn đề này đã được tranh luận tại Công Đồng Trent. Một vị Giám Mục đến từ Gia Nã Đại đã để lại một bản ghi nhớ được viết tay qua đó Ngài khẳng định rằng mục vụ quan trọng nhất trong Giáo Hội chính là của giáo xứ. Theo quan điểm của Ngài, các hội dòng phải được cho phép hình thành nên trong chính hội dòng một gia đình tôn giáo hay dòng tu ngay lúc vị linh mục được truyền chức, thì những vị ấy không còn phải tuân lệnh các vị Bề Trên Tổng Quyền của họ nữa, mà được đặt dưới quyền của các vị Giám Mục bản xứ. Tuy nhiên, nếu họ bị bệnh hoặc trở nên già yếu, thì họ được phép trở về hội dòng của họ.
Thì rõ ràng là, các hội dòng phản kháng lại điều này và tán thành việc miễn trừ của họ. Đúng là có những vấn nạn trong các tác vụ, khi các vị Bề Trên Tổng Quyền có thể chỉ định người nối tiếp từ những thành viên trong Dòng mà không cần phải tham khảo qua vị Giám Mục bản xứ. Thì trong bất kỳ trường hợp nào, giải pháp không thể nào có thể bỏ qua “sự miễn trừ,” nhưng là cổ võ một sự đại kết rộng lớn hơn giữa hai vị bản quyền.
(H): Thưa Cha, làm thế nào mà chương có liên quan tới sự cung kính Đức Mẹ được viết ra trong văn kiện “Lumen Gentium”?
(T): Thưa, Đức Cố Giáo Hoàng Gioan XXIII muốn có một hiến pháp về giáo điều có liên quan tới chỉ một mình Đức Trinh Nữ Maria, và một chương khác có liên quan đến các vị Thánh, trong khi đó lại có những người trong Công Đồng nghĩ rằng có một sự chú trọng quá nhiều vào học thuyết về Đức Trinh Nữ Maria.
Thì đã có một cuộc thảo luận mạnh mẽ. Một phiếu được chọn ra và những ai đồng ý vào việc thêm vào một chương có liên quan tới Mẹ Maria trong văn kiện “Lumen Gentium” thắng. Có một sự khác biệt tới khoảng 50 phiếu bầu trong tổng số 2,000 phiếu.
Điều tương tự cũng diễn ra có liên quan tới các Thánh. Đức Cố Giáo Hoàng Gioan XXIII đã yêu cầu có một hội hiến đặc biệt được chuẩn bị để dành sự tôn kính cho các vị Thánh, bởi vì Ngài rất quan tâm đến cách mà các vị Thánh ấy bị bỏ lờ qua. Vì lý do này mà Ngài yêu cầu Cha Molinari viết về một cuốn sách và cho xuất bản vào đêm trước của Công Đồng. Cuốn sách có nhan đề là: “Các Thánh và Sự Tận Hiến của Các Ngài,” được xuất bản vào năm 1965 và đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng.
Đó chính là lý do tại sao, có một chương được viết về Mẹ Maria, và một chương khác viết về các vị Thánh.
(H): Thưa Cha, ngày hôm nay, có rất nhiều người xem Công Đồng Chung Vaticăn II như là một sự đối đầu giữa những khuynh hướng bảo thủ và những khuynh hướng cấp tiến. Thế đâu là sự nhận xét của Cha?
(T): Thưa, giới truyền thông báo chí đã gây ra một áp lực mạnh mẽ đến Công Đồng. Thì đúng là có một số ủng hộ truyền thống và số khác thì ủng hộ cho những khuynh hướng tiến bộ, thế nhưng từng trường hợp phải cần được xem xét một cách rất kỹ càng. Có một số chuyên gia của Công Đồng và một số Giám Mục đưa ra cho báo chí những bản báo cáo theo khuynh hướng đơn phương. Rồi giới truyền thông báo chí lại trích dẫn họ mà không hề hay biết được là có những khuynh hướng khác, và dùng nhận xét này để cố làm ảnh hưởng đến công luận.
Công Đồng Chung Vaticăn II chính là một Công Đồng Chung đầu tiên mà giới truyền thông báo chí được cho phép vào để tham dự, và đó chính là một tác hại mà không ai có thể lường trước được. Các văn phòng báo chí ấy đã không có đủ dữ kiện để hướng công luận vào ngay đúng sự thật của những cuộc thảo luận của Công Đồng. Tiêu chuẩn để chọn lựa giới truyền thông là hoàn toàn theo tính duy cảm, họ không thể nào có thể hiểu được làm sao mà một Công Đồng được phát triển và làm cách nào mà Giáo Hội bàn luận tới các vấn đề.
Giới báo chí không có lý thú cho lắm gì khi phải biết đến học thuyết của Công Đồng Trent, của Công Đồng Vaticăn I và của quyền giáo huấn của Đức Cố Giáo Hoàng Piô XII. Họ chỉ thích thú sỏ mũi vào những sự việc nhằm lan truyền xì-căng-đan và thuyết duy cảm, hòng tạo ra một tình trạng hoàn toàn giả dối về Giáo Hội.
Hơn thế nữa, chúng ta đang ở giữa những năm của thập niên 60. Đã có những thời kỳ giông bão và giới truyền thông đưa ra ý tưởng rằng Giáo Hội đang tự mình thích ứng với những gì đang xảy ra trong xã hội, và chính vì thế những ai cố bảo vệ vị thế của họ vốn không phải là chính thống, thì lại nhận được sự ủng hộ của giới báo chí.