CHÚA NHẬT 33 - GIÁO HỘI VIỆT NAM KÍNH TRỌNG THỂ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM470 NĂM, MỘT CHẶNG ĐƯỜNG LỊCH SỬHơn 2.000 năm trước, Chúa Giêsu đã phán cùng các môn đệ: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 19-20).
Từ sau ngày Chúa Giêsu phát lệnh truyền giáo đến nay, sứ vụ truyền giáo vẫn không ngừng được tiếp nối trong lòng Giáo Hội.
Riêng tại Giáo Hội Việt Nam, 470 năm truyền giáo đang đi qua là cả một đoạn đường dài chông gai đầy thăng trầm, thử thách. Đó là một chặng đường lịch sử hào hùng dệt bằng sức lực của biết bao nhiêu tâm hồn nhiệt thành nhuộm thắm mồ hôi, nước mắt, kể cả đầu rơi máu đổ. 470 năm đang đi qua. Giáo Hội Việt Nam đang bước vào những tháng cuối cùng của Năm Thánh Truyền Giáo, kỷ niệm 470 năm truyền giáo ấy, cũng là dịp nhìn lại gần một nửa thiên niên kỷ hành trình truyền giáo mà báo đáp ơn nghĩa của tiền nhân bằng chính tình yêu và lòng vâng phục trong đức tin của mỗi Kitô hữu hôm nay.
Phải đến ngày 24.11 mới là chính ngày lễ Bổn mạng của Giáo Hội Việt Nam, lễ các thánh Tử Đạo Việt Nam. Nhưng tại quê hương này, Hội Đồng Giám mục cho phép mừng trọng thể vào Chúa nhật thứ XXXIII thường niên, Chúa nhật 14.11.2004. Nhân dịp này, chúng ta thử nhìn lại một cách ngắn gọn những gì đã diễn ra trong quá khứ. Dù chưa đầy đủ, nhưng vẫn có thể giúp ta soi rọi lòng mình mà sống đức tin giữa cuộc đời hôm nay và giữ nghĩa Chúa cho trọn.
1. Mối nghi ngờ đưa tới bắt đạo
Dù luôn phải đối diện với thực trạng phân tranh bờ cõi, Đàng Ngoài dưới quyền chúa Trịnh, Đàng Trong dưới quyền chúa Nguyễn, các nhà chúa nơi chốn triều đình vẫn mãi mê đắm chìm với những vui thú của riêng mình, bằng những trò giải trí rất sa hoa hoặc rất cao cấp.
Chính lúc ấy, lại xuất hiện một thứ tôn giáo mới. Thứ tôn giáo mới này thật xa lạ, có những hình thức tôn thờ khó hiểu, có thể gây nguy hiểm cho sự an dân, mạnh quốc chăng?
Vì thế, bắt đầu từ sự khó hiểu và ngộ nhận, mối nghi ngờ của hoàng triều ngày càng lớn dần, đến nỗi sau cùng, trở thành hành động bách hại khắp nơi kéo dài đến 300 năm.
Suốt 300 năm bách hại, là 300 năm viết nên một trang sử bi đát cho dân tộc VN: Chính người VN sát hại đồng bào VN thân yêu của mình. Nhưng đó lại là 300 năm Giáo Hội Việt Nam đã viết nên một trang sử đẹp lộng lẫy: vì nó được viết không phải bằng những giọt máu mà là bằng những dòng máu của đức tin.
Vì thế, nhân dịp lễ các thánh Tử Đạo, chúng ta ôn lại cái chết diễm phúc của vị tử đạo đầu tiên của Giáo Hội Việt Nam: Thầy giảng Anrê Phú yên. Ôn lại như thế để, trước là trình bày tiêu biểu mang tính chất đại diện cho đức tin; sau là vì sự nhìn lại rất cần thiết để ta sống lại những ngày gian khó của cha ông mà biết ơn tất cả những ai đã đặt nền móng đức tin trên quê hương Việt Nam thân yêu này.
Ôn lại tấm gương sáng lạn của Thầy giảng Anrê, chúng ta không dừng lại ở một tấm gương trẻ trung này. Đúng hơn, đó là một gợi nhớ cho đức tin của bạn và tôi, giúp chúng ta sống lại cả một thời kỳ rực rỡ của Giáo Hội Mẹ Việt Nam, nơi đã sản sinh hàng trăm ngàn tín hữu Công giáo Việt Nam uy hùng và anh dũng.
2. Thầy giảng Anrê Phú Yên
Lý lịch của Thầy Anrê Phú Yên được người ta biết quá đơn giản: Sinh khoảng 1624 hay 1625. Là con trai út trong một gia đình nghèo, mồ côi cha. Mẹ là bà Gioanna. Khoảng 15 tuổi lãnh bí tích rửa tội. 17 tuổi gia nhập hội thầy giảng. 18 tuổi tuyên khấn trong bậc thầy giảng. 19 tuổi được phúc tử đạo.
Ngay một cái tên thật của Thầy cũng không còn ai nhớ. Cha Đắc Lộ, người rửa tội cho Thầy, chỉ gọi Thầy bằng tên thánh. Bởi đó, lòng quí mến của mọi người đã tặng cho Thầy một tên mới: Anrê Phú Yên. Đó là tên thánh và tên của quê hương Thầy ghép lại. Nhưng suy cho cùng, lại thấy hay quá. Bởi Thầy có còn giữ cho riêng mình điều gì nữa đâu. Mạng sống, thân xác - mỗi một người sinh ra trong cuộc đời chỉ có một duy nhất, nghĩa là rất quí giá, chết là mất, chết là không còn hiện diện, dù vậy Thầy cũng đã dâng hiến.
Ở lứa tuổi còn quá trẻ trung, sức sống đang dồi dào mãnh liệt, một lứa tuổi sẽ đi qua và không bao giờ trở lại, Thầy cũng đã dâng hiến. Bởi đó một cái tên có là gì đáng để mà nói. Anrê Phú Yên, từ ngày nằm xuống, giống như muôn ngàn vị thánh, đã trở thành bất hũ trong lòng người, là gia sản chung của cả Giáo Hội, nghĩ cho cùng, được mang tên quê hương, Thầy chính là người hạnh phúc.
Cứ tưởng rằng ở tuổi 19, người ta sẽ rất nông nổi, bồng bột. Cứ tưởng 19 tuổi, người ta chẳng tha thiết gì đến chuyện đạo đức, lạnh nhạt với việc cầu nguyện, lạnh nhạt với việc sống đức tin. Nào ngờ, một chàng trai 19 tuổi như Anrê Phú Yên đã trở thành thánh nhân.
Ở lứa tuổi mới bắt đầu bước vào tuổi thanh niên, lứa tuổi đẹp nhất đời người, Anrê có quyền sống để hưởng niềm vui, hưởng hạnh phúc mà tuổi trẻ vốn có, nhưng Anrê đã khước từ tất cả để chọn cho mình một vinh quang khác thiêng liêng, sâu lắng và đẹp vô cùng: Vinh Quang Thập Giá. Vinh quang mà Chúa Giêsu đã chọn, Anrê đã bước theo và rao giảng trong suốt những chuỗi ngày làm Giáo Lý Viên của mình.
3. Cuộc tử đạo của Thầy Anrê
Cái chết của Thầy giảng Anrê được cha Đắc Lộ kể lại trong cuốn Hành trình truyền giáo: “Một tên lính lấy giáo đâm Thầy từ phía lưng thâu qua ngực chừng hai bàn tay. Lúc đó Thầy Anrê nhìn tôi âu yếm như thể vĩnh biệt tôi. Tôi bảo Thầy hãy nhìn lên trời nơi Thầy sắp tới và có Chúa Giêsu đón Thầy. Thầy ngước mắt lên trên cao và không nhìn xuống nữa. Cũng tên lính rút giáo ra, đâm lần thứ hai, rồi đâm lại lần nữa như thể muốn tìm trái tim Thầy.Nhưng người vô tội vẫn không nao núng, thật là kỳ diệu. Sau cùng một tên đao phủ thấy lưỡi giáo không làm cho Thầy lăng xuống đất, liền lấy mã tấu chém cổ, nhưng vẫn chưa xong, phải thêm nhát nữa làm đứt hẳn cổ, đầu rơi về bên tay phải chỉ còn vướng mảnh da”.
Có một điều đáng nói, cần phải nhấn mạnh đó là ngay chính lúc lý hình vung gươm chặt phăng chiếc đầu của mình, Thầy Anrê còn kịp thốt lên hai tiếng “Giêsu” đầy kính trọng và yêu quí.
Cha Đắc Lộ viết tiếp: “Nhưng tôi nghe rất rõ cùng lúc đầu rơi khỏi cổ, thì tên thánh Chúa Giêsu không phải từ nơi miệng Thầy thốt ra mà qua vết thương ở cổ, và cùng lúc hồn bay về trời thì xác lăn xuống đất”.
“Giêsu” thánh danh mà Anrê đã tin tưởng trong ngày được rửa tội ở tuổi mười lăm. “Giêsu” cũng là thánh danh mà Anrê đã từng giảng dạy trong ba năm làm Giáo Lý viên. Và trong giờ chịu tử nạn, thánh danh Giêsu trở thành sức mạnh để Anrê chấp nhận cái chết, một sức mạnh can trường giống như lời thánh Phaolô nói: “Chúng ta Chịu khổ cực tư bề, nhưng không bị đè bẹp; chúng ta long đong, nhưng không tuyệt vọng; chúng ta bị bắt bớ, nhưng không bị bỏ rơi, bị quật ngã, nhưng không bị tiêu diệt” (2 Cr 4, 8- 9).
Thầy Anrê đã tin rằng: “Chúng ta luôn mang trên thân xác mình sự chết của Chúa Kitô, để sự sống của Chúa Kitô được tỏ hiện nơi thân xác chúng ta” (2 Cr 4, 10). Để rồi giây phú cuối cùng, khi thân xác chẳng còn toàn vẹn, Thánh Danh “Giêsu”, một lần nữa bật thốt lên, nghe sao mà mạnh mẽ, khí phách, hãnh diện và tin tưởng tuyệt đối. Đẹp! Đẹp quá cái chết của vị Anh Hùng, chết cho Danh Thánh tuyệt diệu!
Chính Chúa Giêsu, vì là Thiên Chúa, nên Người là chủ thân xác chúng ta. Nếu Chúa muốn cuộc đời mỗi Kitô hữu là làm chứng cho Người, thì khi cần, dẫu là cái chết, chúng ta cũng chết vì Chúa Kitô. Anrê đã để lại cho đời, cho Giáo Hội Việt Nam, đặc biệt cho giới trẻ Việt Nam tấm gương sáng ngời của một người trung thành trong đời sống Kitô hữu của mình.
4. 470 năm, một chặng đường lưu dấu ơn Thiên Chúa
Nhìn lại một chặng đường đã qua suốt 470 năm, chúng ta khám phá ra giữa lòng Giáo Hội Việt Nam là một đức tin quá kiên trung, quá lạ thường mà mãi mãi người đời sau vẫn cứ đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, khi chiêm ngưỡng những thử thách, những gian lao của buổi đầu đặt nền móng cho Giáo Hội Việt Nam.
Đặc biệt chiêm ngắm tấm gương trung kiên của các thánh Tử Đạo Việt Nam, chúng ta càng bắt gặp nơi dòng Lịch Sử ấy cả một mầu nhiệm lớn quá đổi: phong ba, bão táp chỉ là đổ thêm dầu cho đức tin cháy sáng.
Càng khó khăn bao nhiêu, đức tin càng biểu lộ tính anh dũng của nó bấy nhiêu. Càng khó khăn, thì lại vô tình làm cho đức tin càng được dồn nén, càng được nung nấu, càng được khẳng định, nếu có dịp sẽ cháy bùng lên, và nhanh chóng lan tỏa mãnh liệt hơn bất cứ lúc nào.
Nhìn lại dòng lịch sử của Giáo Hội Việt Nam, ta chỉ biết cảm nhận trọn vẹn một chân lý không hề sai chạy: Chính bàn tay Thiên Chúa đã hiện diện để nâng đỡ và lèo lái lịch sử Giáo Hội Việt Nam.
Ngày nay Giáo Hội Việt Nam rất hãnh diện, tự hào và tràn đầy hy vọng nhìn lại lịch sử của chính mình suốt 470 năm qua. Tạ ơn Thiên Chúa đã luôn luôn quan phòng, để tất cả những gì Người muốn đều diễn tiến tốt đẹp theo thánh ý của Người.
Cảm tạ Thiên Chúa vì hồng ân đức tin, Người đã ban cho chúng ta. Chúng ta tiếp tục cầu xin Người gìn giữ chúng ta trong ơn Đức tin hôm nay và mãi về sau, để mỗi ngày, chúng ta xứng đáng hơn với các bậc tiền nhân của mình.
Từ sau ngày Chúa Giêsu phát lệnh truyền giáo đến nay, sứ vụ truyền giáo vẫn không ngừng được tiếp nối trong lòng Giáo Hội.
Riêng tại Giáo Hội Việt Nam, 470 năm truyền giáo đang đi qua là cả một đoạn đường dài chông gai đầy thăng trầm, thử thách. Đó là một chặng đường lịch sử hào hùng dệt bằng sức lực của biết bao nhiêu tâm hồn nhiệt thành nhuộm thắm mồ hôi, nước mắt, kể cả đầu rơi máu đổ. 470 năm đang đi qua. Giáo Hội Việt Nam đang bước vào những tháng cuối cùng của Năm Thánh Truyền Giáo, kỷ niệm 470 năm truyền giáo ấy, cũng là dịp nhìn lại gần một nửa thiên niên kỷ hành trình truyền giáo mà báo đáp ơn nghĩa của tiền nhân bằng chính tình yêu và lòng vâng phục trong đức tin của mỗi Kitô hữu hôm nay.
Phải đến ngày 24.11 mới là chính ngày lễ Bổn mạng của Giáo Hội Việt Nam, lễ các thánh Tử Đạo Việt Nam. Nhưng tại quê hương này, Hội Đồng Giám mục cho phép mừng trọng thể vào Chúa nhật thứ XXXIII thường niên, Chúa nhật 14.11.2004. Nhân dịp này, chúng ta thử nhìn lại một cách ngắn gọn những gì đã diễn ra trong quá khứ. Dù chưa đầy đủ, nhưng vẫn có thể giúp ta soi rọi lòng mình mà sống đức tin giữa cuộc đời hôm nay và giữ nghĩa Chúa cho trọn.
1. Mối nghi ngờ đưa tới bắt đạo
Dù luôn phải đối diện với thực trạng phân tranh bờ cõi, Đàng Ngoài dưới quyền chúa Trịnh, Đàng Trong dưới quyền chúa Nguyễn, các nhà chúa nơi chốn triều đình vẫn mãi mê đắm chìm với những vui thú của riêng mình, bằng những trò giải trí rất sa hoa hoặc rất cao cấp.
Chính lúc ấy, lại xuất hiện một thứ tôn giáo mới. Thứ tôn giáo mới này thật xa lạ, có những hình thức tôn thờ khó hiểu, có thể gây nguy hiểm cho sự an dân, mạnh quốc chăng?
Vì thế, bắt đầu từ sự khó hiểu và ngộ nhận, mối nghi ngờ của hoàng triều ngày càng lớn dần, đến nỗi sau cùng, trở thành hành động bách hại khắp nơi kéo dài đến 300 năm.
Suốt 300 năm bách hại, là 300 năm viết nên một trang sử bi đát cho dân tộc VN: Chính người VN sát hại đồng bào VN thân yêu của mình. Nhưng đó lại là 300 năm Giáo Hội Việt Nam đã viết nên một trang sử đẹp lộng lẫy: vì nó được viết không phải bằng những giọt máu mà là bằng những dòng máu của đức tin.
Vì thế, nhân dịp lễ các thánh Tử Đạo, chúng ta ôn lại cái chết diễm phúc của vị tử đạo đầu tiên của Giáo Hội Việt Nam: Thầy giảng Anrê Phú yên. Ôn lại như thế để, trước là trình bày tiêu biểu mang tính chất đại diện cho đức tin; sau là vì sự nhìn lại rất cần thiết để ta sống lại những ngày gian khó của cha ông mà biết ơn tất cả những ai đã đặt nền móng đức tin trên quê hương Việt Nam thân yêu này.
Ôn lại tấm gương sáng lạn của Thầy giảng Anrê, chúng ta không dừng lại ở một tấm gương trẻ trung này. Đúng hơn, đó là một gợi nhớ cho đức tin của bạn và tôi, giúp chúng ta sống lại cả một thời kỳ rực rỡ của Giáo Hội Mẹ Việt Nam, nơi đã sản sinh hàng trăm ngàn tín hữu Công giáo Việt Nam uy hùng và anh dũng.
2. Thầy giảng Anrê Phú Yên
Lý lịch của Thầy Anrê Phú Yên được người ta biết quá đơn giản: Sinh khoảng 1624 hay 1625. Là con trai út trong một gia đình nghèo, mồ côi cha. Mẹ là bà Gioanna. Khoảng 15 tuổi lãnh bí tích rửa tội. 17 tuổi gia nhập hội thầy giảng. 18 tuổi tuyên khấn trong bậc thầy giảng. 19 tuổi được phúc tử đạo.
Ngay một cái tên thật của Thầy cũng không còn ai nhớ. Cha Đắc Lộ, người rửa tội cho Thầy, chỉ gọi Thầy bằng tên thánh. Bởi đó, lòng quí mến của mọi người đã tặng cho Thầy một tên mới: Anrê Phú Yên. Đó là tên thánh và tên của quê hương Thầy ghép lại. Nhưng suy cho cùng, lại thấy hay quá. Bởi Thầy có còn giữ cho riêng mình điều gì nữa đâu. Mạng sống, thân xác - mỗi một người sinh ra trong cuộc đời chỉ có một duy nhất, nghĩa là rất quí giá, chết là mất, chết là không còn hiện diện, dù vậy Thầy cũng đã dâng hiến.
Ở lứa tuổi còn quá trẻ trung, sức sống đang dồi dào mãnh liệt, một lứa tuổi sẽ đi qua và không bao giờ trở lại, Thầy cũng đã dâng hiến. Bởi đó một cái tên có là gì đáng để mà nói. Anrê Phú Yên, từ ngày nằm xuống, giống như muôn ngàn vị thánh, đã trở thành bất hũ trong lòng người, là gia sản chung của cả Giáo Hội, nghĩ cho cùng, được mang tên quê hương, Thầy chính là người hạnh phúc.
Cứ tưởng rằng ở tuổi 19, người ta sẽ rất nông nổi, bồng bột. Cứ tưởng 19 tuổi, người ta chẳng tha thiết gì đến chuyện đạo đức, lạnh nhạt với việc cầu nguyện, lạnh nhạt với việc sống đức tin. Nào ngờ, một chàng trai 19 tuổi như Anrê Phú Yên đã trở thành thánh nhân.
Ở lứa tuổi mới bắt đầu bước vào tuổi thanh niên, lứa tuổi đẹp nhất đời người, Anrê có quyền sống để hưởng niềm vui, hưởng hạnh phúc mà tuổi trẻ vốn có, nhưng Anrê đã khước từ tất cả để chọn cho mình một vinh quang khác thiêng liêng, sâu lắng và đẹp vô cùng: Vinh Quang Thập Giá. Vinh quang mà Chúa Giêsu đã chọn, Anrê đã bước theo và rao giảng trong suốt những chuỗi ngày làm Giáo Lý Viên của mình.
3. Cuộc tử đạo của Thầy Anrê
Cái chết của Thầy giảng Anrê được cha Đắc Lộ kể lại trong cuốn Hành trình truyền giáo: “Một tên lính lấy giáo đâm Thầy từ phía lưng thâu qua ngực chừng hai bàn tay. Lúc đó Thầy Anrê nhìn tôi âu yếm như thể vĩnh biệt tôi. Tôi bảo Thầy hãy nhìn lên trời nơi Thầy sắp tới và có Chúa Giêsu đón Thầy. Thầy ngước mắt lên trên cao và không nhìn xuống nữa. Cũng tên lính rút giáo ra, đâm lần thứ hai, rồi đâm lại lần nữa như thể muốn tìm trái tim Thầy.Nhưng người vô tội vẫn không nao núng, thật là kỳ diệu. Sau cùng một tên đao phủ thấy lưỡi giáo không làm cho Thầy lăng xuống đất, liền lấy mã tấu chém cổ, nhưng vẫn chưa xong, phải thêm nhát nữa làm đứt hẳn cổ, đầu rơi về bên tay phải chỉ còn vướng mảnh da”.
Có một điều đáng nói, cần phải nhấn mạnh đó là ngay chính lúc lý hình vung gươm chặt phăng chiếc đầu của mình, Thầy Anrê còn kịp thốt lên hai tiếng “Giêsu” đầy kính trọng và yêu quí.
Cha Đắc Lộ viết tiếp: “Nhưng tôi nghe rất rõ cùng lúc đầu rơi khỏi cổ, thì tên thánh Chúa Giêsu không phải từ nơi miệng Thầy thốt ra mà qua vết thương ở cổ, và cùng lúc hồn bay về trời thì xác lăn xuống đất”.
“Giêsu” thánh danh mà Anrê đã tin tưởng trong ngày được rửa tội ở tuổi mười lăm. “Giêsu” cũng là thánh danh mà Anrê đã từng giảng dạy trong ba năm làm Giáo Lý viên. Và trong giờ chịu tử nạn, thánh danh Giêsu trở thành sức mạnh để Anrê chấp nhận cái chết, một sức mạnh can trường giống như lời thánh Phaolô nói: “Chúng ta Chịu khổ cực tư bề, nhưng không bị đè bẹp; chúng ta long đong, nhưng không tuyệt vọng; chúng ta bị bắt bớ, nhưng không bị bỏ rơi, bị quật ngã, nhưng không bị tiêu diệt” (2 Cr 4, 8- 9).
Thầy Anrê đã tin rằng: “Chúng ta luôn mang trên thân xác mình sự chết của Chúa Kitô, để sự sống của Chúa Kitô được tỏ hiện nơi thân xác chúng ta” (2 Cr 4, 10). Để rồi giây phú cuối cùng, khi thân xác chẳng còn toàn vẹn, Thánh Danh “Giêsu”, một lần nữa bật thốt lên, nghe sao mà mạnh mẽ, khí phách, hãnh diện và tin tưởng tuyệt đối. Đẹp! Đẹp quá cái chết của vị Anh Hùng, chết cho Danh Thánh tuyệt diệu!
Chính Chúa Giêsu, vì là Thiên Chúa, nên Người là chủ thân xác chúng ta. Nếu Chúa muốn cuộc đời mỗi Kitô hữu là làm chứng cho Người, thì khi cần, dẫu là cái chết, chúng ta cũng chết vì Chúa Kitô. Anrê đã để lại cho đời, cho Giáo Hội Việt Nam, đặc biệt cho giới trẻ Việt Nam tấm gương sáng ngời của một người trung thành trong đời sống Kitô hữu của mình.
4. 470 năm, một chặng đường lưu dấu ơn Thiên Chúa
Nhìn lại một chặng đường đã qua suốt 470 năm, chúng ta khám phá ra giữa lòng Giáo Hội Việt Nam là một đức tin quá kiên trung, quá lạ thường mà mãi mãi người đời sau vẫn cứ đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, khi chiêm ngưỡng những thử thách, những gian lao của buổi đầu đặt nền móng cho Giáo Hội Việt Nam.
Đặc biệt chiêm ngắm tấm gương trung kiên của các thánh Tử Đạo Việt Nam, chúng ta càng bắt gặp nơi dòng Lịch Sử ấy cả một mầu nhiệm lớn quá đổi: phong ba, bão táp chỉ là đổ thêm dầu cho đức tin cháy sáng.
Càng khó khăn bao nhiêu, đức tin càng biểu lộ tính anh dũng của nó bấy nhiêu. Càng khó khăn, thì lại vô tình làm cho đức tin càng được dồn nén, càng được nung nấu, càng được khẳng định, nếu có dịp sẽ cháy bùng lên, và nhanh chóng lan tỏa mãnh liệt hơn bất cứ lúc nào.
Nhìn lại dòng lịch sử của Giáo Hội Việt Nam, ta chỉ biết cảm nhận trọn vẹn một chân lý không hề sai chạy: Chính bàn tay Thiên Chúa đã hiện diện để nâng đỡ và lèo lái lịch sử Giáo Hội Việt Nam.
Ngày nay Giáo Hội Việt Nam rất hãnh diện, tự hào và tràn đầy hy vọng nhìn lại lịch sử của chính mình suốt 470 năm qua. Tạ ơn Thiên Chúa đã luôn luôn quan phòng, để tất cả những gì Người muốn đều diễn tiến tốt đẹp theo thánh ý của Người.
Cảm tạ Thiên Chúa vì hồng ân đức tin, Người đã ban cho chúng ta. Chúng ta tiếp tục cầu xin Người gìn giữ chúng ta trong ơn Đức tin hôm nay và mãi về sau, để mỗi ngày, chúng ta xứng đáng hơn với các bậc tiền nhân của mình.