THỨ NĂM

CHÚA GIÊSU CHẾT TRÊN THÁNH GIÁ

Từ giờ thứ sáu, bóng tối bao phủ cả mặt đất, mãi đến giờ thứ chín. Vào giờ thứ chín, Đức Giêsu kêu lớn tiếng: “Êli, Êli, lê-ma-sa-bác-tha-ni”, nghĩa là “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Nghe vậy, một vài người đứng đó liền nói: “Hắn ta gọi ông Êlia!” Lập tức, một người trong bọn chạy đi lấy miếng bọt biển, thấm đầy giấm, buộc vào đầu cây sậy và đưa lên cho Người uống. Còn những người khác lại bảo: “Khoan đã, để xem ông Êlia có đến cứu hắn không!” Đức Giêsu lại kêu một tiếng lớn, rồi trút linh hồn. (Mt 27:45-50).

Klausner, một văn sĩ người Do Thái, đã nói rằng “Đóng đinh trên thập giá là cái chết khủng khiếp và tàn bạo nhất mà con người đã sáng chế ra để trả thù đồng loại mình”. Hoàng đế Cicero cũng gọi đó là “hình khổ tàn bạo và khủng khiếp nhất”. Vì thế, Tacitus cho rằng “Đó là nỗi thống khổ chỉ dành riêng cho những kẻ nô lệ”.

Chúa Giêsu đã bắt đầu chịu sự đau đớn về thể lý ngay từ lúc đổ mồ hôi máu trong vườn Ghếtsêmani. Đó là hiện tượng các mao quản nhỏ trong các hạch mồ hôi vỡ ra pha trộn với nước mồ hôi chảy xuống. Với tư cách là một y sĩ, hiện tượng này chỉ có một mình Luca ghi nhận lại mà thôi. Sau đó Chúa Giêsu lần lượt bị hành hạ qua những trận đánh đập, tát tai, xỉ vả ở cả hai hội đồng Do Thái và La Mã, trước khi chính thức bị đánh đòn bằng roi da và đội mão gai. Thân thể Người tan nát, máu chảy ra nhiều, xót xa đau nhức, không những thế sức lực còn bị tận kiệt vì đói khát và những đêm không ngủ nữa. Bởi thế Người không còn đủ sức vác thập giá, phải nhờ đến ông Simon. Khi đến Đồi Sọ, Simon để thập giá xuống, và lính đóng đinh Người.

Tên lính chuyên nghiệp xử tội bắt Chúa Giêsu nằm xuống trên thập giá, rồi sờ vào chỗ lõm trước cổ tay, đóng một cây đinh bằng thép, vuông và nặng xuyên qua cổ tay đâm sâu vào cây gỗ. Rồi sang bên kia, hắn kéo cánh tay Người ra để đóng đinh nhưng không kéo ra quá căng vì còn để cho thân thể có thể vươn lên hay chùng xuống được. Sau đó lính đưa thân ngang của thập giá lên ráp vào đúng vị trí trên đỉnh của thân cây dọc nơi có tấm bảng viết: “Giêsu Nagiarét, Vua của người Do Thái”.

Rồi lính ép bàn chân trái lên trên bàn chân phải với những ngón chân duỗi thẳng xuống, đóng một cây đinh xuyên qua mu hai bàn chân Người, nhưng cũng để cho đầu gối có thể duỗi lên hay chùng xuống. Thế là Chúa Giêsu đã bị đóng đinh vào thập giá! Với sức nặng cơ thể từ từ chùng xuống, thì những vết đinh ở cổ tay tạo nên cơn đau buốt khủng khiếp chạy suốt từ các ngón tay lên cánh tay và nhói đến tận óc, vì các cây đinh ở cổ tay chèn ép vào những giây thần kinh ở giữa. Vì thế Người phải cố gắng rướn mình lên để tránh cơn đau đớn này, nhưng lại phải chịu đựng toàn sức nặng của cơ thể đè xuống vết đinh dưới hai bàn chân, một cơn đau khác xé da thịt và rát rúa lại phát ra từ những giây thần kinh nằm ở giữa khối xương u bàn chân. Cơn đau buốt cứ đổi qua đổi lại theo phản ứng của cơ thể.

Tới một lúc, khi các cánh tay đã mỏi, liền xuất hiện các cơn co gân không ngừng của các bắp thịt, sự đau buốt đi sâu vào tận xương tủy. Với các cơn co gân, chuột rút này làm cho Người không còn dễ dàng rướn mình lên được nữa. Khi chịu treo mình bằng những cánh tay thì những bắp thịt nơi lồng ngực và cạnh sườn trở nên tê liệt, không hoạt động nữa. Do đó, không khí tràn ngập vào đầy trong buồng phổi, nhưng Người lại không thể thở ra được, để thở ra được một chút, phải hết sức cố gắng mà rướn mình lên dù đau đớn đến đâu cũng phải chịu. Cuối cùng, không khí tràn vào phổi đã trở thành khí carbon đầy ứ trong phổi và trong máu gây nên những cơn co giật. Khi co thắt từng hồi như vậy, Người phải cố gắng đẩy mình lên, hít vội lấy một ít khí oxy để thở. Đây là lý do tại sao từ trên thập giá nhìn xuống, vì không đủ khí oxy nên Người đã phải nói lên những câu rất ngắn ngủi.

Nhìn những tên lính La Mã đã đóng đinh Người, Người tha thứ và cầu nguyện cho họ: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23:34). Với tên trộn biết ăn năn hối cải, Người hứa hẹn: “Tôi bảo thật anh, hôm nay anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23:43). Nhìn Mẹ và người môn đệ yêu dấu, Người trăn trối: “Thưa Bà, đây là con Bà”, “Đây là Mẹ của con” (Ga 19:26-27). Sau cùng Người kết thúc với lời Thánh vịnh 22:2 mà rằng “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con” (Mc 15:34).Hằng giờ hấp hối với những cơn đau vô hạn, những chu kỳ co giật quằn quại, từng đợt ngộp thở tức tưởi, những phần da thịt ở lưng đã rách nát vì những vết roi càng trở nên xót xa mỗi khi Người rướn mình lên hay chùng xuống cọ sát vào thân gỗ sần sùi của thập giá. Từng cơn hấp hối bắt đầu… Sau cùng một cơn đau buốt nơi lồng ngực xảy ra khi màng ngoài của trái tim đã bị huyết thanh bao phủ dần dần và bắt đầu ép mạnh vào trái tim.

Lại một lần nữa cả nhân loại phải nghe vang lên lời Thánh Vịnh 22 câu 15: “Tưởng mình như tan dần ra nước, toàn thân con xương cốt rã rời, con tim đau đớn bồi hồi, mềm như sáp chảy tơi bời ruột gan”. Giờ tử nạn gần như đã tới. Cơ thể đã mất quá nhiều nước và chất lỏng đến hồi kiệt quệ. Trái tim bị ép quá mạnh đã phải cố gắng bơm máu vào các động mạch một cách rất nặng nề và chậm chạp. Hai buồng phổi đang phải nỗ lực thở hổn hển bằng những hơi thở nghẹn ngào. Các tế bào bị mất nước chuyền những kích thích lên não, Chúa Giêsu than lên thảm thiết: “Ta khát” (Ga 19:28) đã nhắc nhở đến lời Thánh Vịnh 22:16 rằng: “Nghe cổ họng khô ran như ngói, lưỡi với hàm dính lại cùng nhau, chốn tử vong Chúa đặt vào.”

Một miếng bọt biển thấm giấm, loại rượu chua rẻ tiền dành cho những con ngựa của bọn lính La Mã, được đưa lên môi cho Người. Dường như Người cũng chẳng thèm màng tới nhưng nhắp môi để ứng nghiệm lời Kinh Thánh (Tv 69:22; 22:16), rồi Người nói: “Thế là đã hoàn tất” (Ga 19:30). Sứ mạng cứu chuộc nhân loại của Chúa Giêsu Kitô đã kết thúc.

Như một ngọn đèn bùng lên trước khi tắt, với tất cả sức mạnh còn lại, Người ấn mạnh đôi bàn chân rách nát vào cây đinh, duỗi thẳng đôi chân ra, lấy một hơi thở sâu hơn và kêu lên lần cuối cùng: “Lạy Cha, con xin phó hồn con trong tay Cha” (Lc 23:46). Sau đó, theo lời thánh Gioan đã chứng kiến, lính không đánh dập ống chân Người như luật đòi buộc các tội nhân khác để không còn có thể đẩy cơ thể lên được nữa, sẽ bị ngộp thở mà chết thực sự, nhưng một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn: “Tức thì máu cùng nước chảy ra” (Ga 19:34).

Theo y khoa, lính đã đâm lưỡi giáo vào khoảng cách của xương sườn số 5, xuyên qua màng ngoài của tim vào chính trái tim. Nước chảy ra phát xuất từ cái túi bao quanh trái tim đã cho bằng chứng hiển nhiên là Chúa Giêsu Kitô đã không chết vì ngộp thở như một người bị đóng đinh bình thường, nhưng chết vì tim ngừng đập, do chất lỏng ở màng ngoài tim làm cho trái tim bị co thắt lại. Chết vì sốc! (Viết theo tài liệu của bác sĩ C. Truman Davis lấy trên internet).

Trong giờ tử nạn của Chúa Giêsu, thánh Gioan đã diễn tả: “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người, chị của bà thân mẫu, bà Maria vợ ông Cơlôpát, cùng với bà Maria Mácđala” (Ga 19:25). Khi nói lên điều này, thánh Gioan muốn chúng ta phải hiểu rằng Đức Maria không những chỉ đứng dưới chân thập giá vào giờ Chúa Giêsu tử nạn, nhưng còn đã theo dõi và gắn bó với Con Mẹ trong từng bước đi của cuộc khổ nạn cho đến khi đứng dưới chân thập giá nữa.

Đức Maria đứng gần thập giá. Khi nghe Chúa Giêsu kêu xin “Ta khát”, Mẹ đã nhớ đến những ngày nuôi nấng Người khi còn thơ ấu bằng giòng sữa ngọt ngào của tình yêu thương chan chứa. Con Mẹ vẫn còn đang khao khát tình yêu. Trong giây phút cuối cùng này, Mẹ biết rằng Con Mẹ vẫn còn khao khát thực hiện trọn vẹn thánh ý của Thiên Chúa Cha (Ga 4:34a; 6:38-40). Người đang khao khát hoàn tất công trình mà Thiên Chúa đã giao phó cho Người qua việc đóng đinh này (Ga 4:34b; 17:4).

Đức Maria đứng gần thập giá. Mẹ không tỏ vẻ gì yếu đuối, ủ rũ hay quá tuyệt vọng đến nỗi phải ôm lấy chân cây thập giá mà khóc rũ rượi như nhiều bà mẹ đã muốn lăn xuống mộ huyệt khi chôn cất con cái. Mẹ cũng không tỏ vẻ gì là cần phải được các phụ nữ khác nâng đỡ, an ủi, hay khích lệ. Trái lại, chính Mẹ đã hiện diện một cách can trường ở đây để cầu nguyện và tăng thêm sự can đảm cho Con Mẹ đang chiến đấu trên thập giá. Đau khổ của Chúa Giêsu cũng chính là đau khổ của Mẹ. Xin Mẹ giúp chúng con biết kiên nhẫn, chịu đựng và can đảm dùng những hy sinh đau khổ của mình làm giá cứu chuộc cho chúng con và anh chị em mình.