THỨ BA
CHÚA GIÊSU BỊ ĐỘI MÃO GAI
Lính điệu Đức Giêsu vào bên trong dinh, tức là dinh tổng trấn, và tập trung cả cơ đội lại. Chúng khoác cho Người một tấm áo điều, và kết một vòng gai làm vương miện đặt lên đầu Người. Rồi chúng chào bái Người: “Vạn tuế đức vua dân Do Thái!” Chúng dùng cây sậy đập đầu Người, khạc nhổ vào Người, và quỳ gối bái lạy. Chế diễu chán, chúng lột áo điều ra, và cho Người mặc lại áo của mình. Sau đó, chúng điệu Người ra để đóng đinh vào thập giá. (Mc 15: 16 -20).
Theo bản tường thuật của Thánh Máccô, Chúa Giêsu đã bị nhạo báng và xỉ vả đến hai lần, sau phiên tòa của Thượng Hội Đồng người Do Thái, và của quan tổng trấn Philatô. Lần thứ nhất người Do Thái nhạo báng Người vì xưng mình là Con Đấng Tối Cao bằng cách khạc nhổ, bít mắt, vả mặt và bắt Người nói tiên tri xem ai đã đánh để chế diễu ơn gọi làm Thiên Sai với tư cách tiên tri của Chúa Giêsu (Mc 15:65). Lần thứ hai những người lính Roma nhạo báng Người với tư cách là Vua dân Do Thái (Mc 15:16-20).
Bản tường thuật của Máccô chia làm hai phần.
Phần thứ nhất:
chế nhạo để phỉ báng gồm việc khoác cho Người tấm áo điều, đội lên đầu một vương miện bằng vòng gai, và quỳ xuống chào bái Người. Những việc làm này là do sáng kiến của những người lính La Mã. Chiếc áo choàng màu đỏ tía gần giống với chiếc áo khoác cẩm bào của một hoàng đế La Mã thường mặc. Cây gai là hình ảnh của sự đau khổ. Vương miện bằng cây gai là biểu tượng của sự đau khổ và nhục nhã chất lên đầu một vị vua của một nước đang bị thống trị mà lại muốn tuyên xưng mình là vua!
Việc làm này diễn tả lòng thù nghịch của người La Mã đối với người Do Thái kèm theo lời chào mỉa mai: “Vạn tuế đức vua dân Do Thái!” Theo Thánh Kinh, vua là một người đại diện cho Thiên Chúa, được toàn dân kính sợ, vì được Thiên Chúa tuyển chọn và trao ban quyền cai trị dân chúng (1 V 3:9, 28). Những người lính La Mã đã không chỉ chế diễu cá nhân Chúa Giêsu, nhưng họ đã nhạo báng cả chức vị vương quyền, một ý niệm rất quan trọng trong lịch sử của người Do Thái.
Phần thứ hai: sự chế diễu với những hành vi bạo lực thô bỉ như khạc nhổ và đánh đập. Hành động thù nghịch này được diễn tả lên đến cực điểm với sự quỳ gối bái lạy Người một cách rất mỉa mai. Trong Phúc Âm Máccô, chỉ có một chỗ duy nhất đã dùng chữ “bái lạy” khi thánh sử diễn tả hành động của kẻ bị thần ô uế nhập vào hắn, đã chạy đến “bái lạy Người và kêu lớn tiếng rằng: Lạy ông Giêsu, Con Thiên Chúa Tối Cao, chuyện tôi can chi đến ông? Nhân danh Thiên Chúa tôi van ông đừng hành hạ tôi!” (Mc 5:6-7). Những người lính La Mã này được diễn tả như đang làm những việc của ma quỷ: trả thù và hành hạ Chúa Giêsu bằng bạo lực và lời xỉ vả.
Phúc âm của Thánh Máccô được viết trước năm 70, vào giai đoạn những người Kitô hữu sơ khởi đang bị ngược đãi và bách hại. Năm 79 thành phố Pompeii với những người giàu có và sang trọng, nói tiếng Hy Lạp, ở phía Nam nước Ý bị núi lửa chôn vùi vào lòng đất. Ngày nay, khi đào quật các di tích lên, người ta còn thấy sự nhạo báng đó được diễn tả trên một bức tường vẽ hình một người Kitô hữu quỳ gối trước một con lừa với hàng chữ chế nhạo rằng người Kitô hữu đang thờ phượng Thiên Chúa của nó!
Theo các nhà chú giải, có thể có sự trùng hợp đã xảy ra giữa sự xỉ nhục mà những người Kitô hữu ở thế kỷ thứ nhất đang phải chịu và sự phỉ báng mà Chúa Giêsu đã trải qua vì sự thù nghịch của quân lính La Mã. Suy niệm về biến cố này đã giúp họ tìm lại được sự tự trọng, phẩm giá và sự cao quý của chính mình trong ơn gọi làm con cái Thiên Chúa. Chính ơn sủng này đã gia tăng sức mạnh cho họ vượt qua thử thách và bền vững trong đức tin.
Các tín hữu tiên khởi đã đọc lại Thánh Kinh và thấy rằng lời tiên tri Isaia ngày xưa đã ứng nghiệm: “Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu. Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ. Có Đức Chúa là Chúa Thượng phù trợ tôi, vì thế, tôi đã không hổ thẹn, vì thế, tôi trơ mặt ra như đá. Tôi biết mình sẽ không phải thẹn thùng.” (Is 50:6-7).
Các tín hữu tiên khởi đã cầu nguyện và nhận ra rằng, Chúa Giêsu đã bị những người lính La Mã phỉ báng không những vì là người Do Thái, mà còn do lòng thù ghét của họ là những kẻ ngoại đạo, không muốn tin nhận Thiên Chúa nữa.
Quả vậy, cũng như những người Do Thái đã xỉ nhục Chúa Giêsu và gọi Người là tiên tri giả vì họ không muốn chấp nhận một ông vua bị đóng đinh đã tự xưng là Con Thiên Chúa như lời thánh Phaolô đã nói: “Trong khi người Do Thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy Lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh, điều mà người Do Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ” (1 Cr 1:22-23).
Vào năm 1968, một công nhân nghèo đã đưa gia đình từ tiểu bang Nữu Ước sang Úc Châu để lập nghiệp. Một trong số 11 những người con, có một chàng thanh niên đẹp trai luôn ôm mộng sẽ trở thành một diễn viên của một đoàn xiếc nào đó. Giấc mơ trở thành sự thực khi anh được một gánh hát địa phương thâu nhận.
Một buổi tối nọ, sau giờ làm việc anh đi bộ về nhà, đã bị năm tên du đãng trấn lột. Thay vì đưa tiền cho chúng, anh đã ra tay kháng cự. Bọn chúng đã dùng gậy đánh anh gần chết rồi bỏ chạy. Tình cờ xe cảnh sát nhận ra xác anh đang nằm bên vệ đường bèn đưa vào nhà xác. Trên đường đi, cảnh sát khám phá ra anh còn thở bèn chở vào nhà thương cấp cứu. Cô y tá vô cùng hoảng sợ, vì anh không còn khuôn mặt của một con người nữa. Đôi mắt bầm tím, lỗ mũi chỉ còn là một miếng da đeo lủng lẳng, hai hàm răng đã gãy, xương hàm lìa ra khỏi đầu, xương sọ và tay chân bị nứt!
Anh đã được cứu sống nhưng phải nằm trong bệnh viện điều trị hơn một năm. Khi xuất viện, các vết thương đã lành, nhưng khuôn mặt của anh trông rất kinh dị và ghê sợ! Mọi người đều xa tránh và khinh hãi. Anh đi tìm việc làm, không ai chịu mướn. Sau cùng có một chủ gánh xiếc đồng ý mướn anh đóng một show mang tên “The Man Who Had No Face”, “Con Người Không Có Mặt”. Chỉ được một thời gian ngắn, show không ăn khách, bị mất việc, thất nghiệp trong 5 năm, anh tuyệt vọng và toan tính tự vẫn nhiều lần.
Vào một ngày đi ngang qua ngôi thánh đường, anh ghé vào tìm sự an ủi. Tình cờ một linh mục trông thấy anh đang khi quỳ khóc nức nở, động lòng thương, ngài dẫn anh vào nhà xứ nói chuyện. Ngài hứa hẹn sẽ cố gắng giúp anh phục hồi phẩm giá và cuộc đời với điều kiện anh phải hứa sẽ là một người Công Giáo đạo đức, sống phó thác vào lòng nhân từ của Thiên Chúa. Từ đó trở đi, anh tham dự Thánh Lễ và rước Mình Thánh mỗi ngày với một tâm hồn an bình, vui tươi và thích khôi hài.
Bỗng một ngày, anh được mời đến để gặp một bác sĩ thẩm mỹ, bạn rất thân của linh mục. Sự khôi hài và lòng tốt của anh gây cảm tình với vị bác sĩ sẵn sàng giúp anh phục hồi lại khuôn mặt mà không phải trả một đồng nào. Cuộc giải phẫu thành công lạ lùng. Hai hàm răng cũng được phục hồi. Anh bắt đầu làm lại cuộc đời trong ngành sản xuất phim ảnh. Thiên Chúa đã chúc phúc cho anh với một mái gia đình rất hạnh phúc: vợ hiền, con cái ngoan ngoãn, công việc làm ăn thành công rực rỡ. Chàng thanh niên đó là nhà đạo diễn Mel Gibson với bộ phim “The Passion of The Christ”.
Xuất phát từ cảm nghiệm cá nhân của mình khi bị đánh đập, bị khinh chê, xỉ vả và bị tước đoạt hết phẩm giá, Mel Gibson đã suy niệm và liên kết với cuộc thương khó của Chúa Giêsu để thực hiện cuốn phim “Cuộc Thương Khó Của Đức Kitô” với lòng tạ ơn vì tình yêu bao la của Thiên Chúa đối với anh.
Lạy Mẹ Maria, khi Con Mẹ bị xỉ vả là lúc chính Mẹ chịu khổ nhục. Xin giúp chúng con nhớ rằng giá trị của chúng con không hệ tại bởi những hoàn cảnh hay những hành động chế nhạo của những người khác, nhưng bởi tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng con. Xin Mẹ giúp chúng con luôn ý thức rằng mình là con cái quý giá và trung thành của Chúa cho dù trong bất cứ hoàn cảnh nào. Xin cho chúng ta luôn đứng vững với phẩm giá của mình giữa những sự nhạo báng và chê cười của người đời vì danh Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh.
CHÚA GIÊSU BỊ ĐỘI MÃO GAI
Lính điệu Đức Giêsu vào bên trong dinh, tức là dinh tổng trấn, và tập trung cả cơ đội lại. Chúng khoác cho Người một tấm áo điều, và kết một vòng gai làm vương miện đặt lên đầu Người. Rồi chúng chào bái Người: “Vạn tuế đức vua dân Do Thái!” Chúng dùng cây sậy đập đầu Người, khạc nhổ vào Người, và quỳ gối bái lạy. Chế diễu chán, chúng lột áo điều ra, và cho Người mặc lại áo của mình. Sau đó, chúng điệu Người ra để đóng đinh vào thập giá. (Mc 15: 16 -20).
Theo bản tường thuật của Thánh Máccô, Chúa Giêsu đã bị nhạo báng và xỉ vả đến hai lần, sau phiên tòa của Thượng Hội Đồng người Do Thái, và của quan tổng trấn Philatô. Lần thứ nhất người Do Thái nhạo báng Người vì xưng mình là Con Đấng Tối Cao bằng cách khạc nhổ, bít mắt, vả mặt và bắt Người nói tiên tri xem ai đã đánh để chế diễu ơn gọi làm Thiên Sai với tư cách tiên tri của Chúa Giêsu (Mc 15:65). Lần thứ hai những người lính Roma nhạo báng Người với tư cách là Vua dân Do Thái (Mc 15:16-20).
Bản tường thuật của Máccô chia làm hai phần.
Phần thứ nhất:
chế nhạo để phỉ báng gồm việc khoác cho Người tấm áo điều, đội lên đầu một vương miện bằng vòng gai, và quỳ xuống chào bái Người. Những việc làm này là do sáng kiến của những người lính La Mã. Chiếc áo choàng màu đỏ tía gần giống với chiếc áo khoác cẩm bào của một hoàng đế La Mã thường mặc. Cây gai là hình ảnh của sự đau khổ. Vương miện bằng cây gai là biểu tượng của sự đau khổ và nhục nhã chất lên đầu một vị vua của một nước đang bị thống trị mà lại muốn tuyên xưng mình là vua!
Việc làm này diễn tả lòng thù nghịch của người La Mã đối với người Do Thái kèm theo lời chào mỉa mai: “Vạn tuế đức vua dân Do Thái!” Theo Thánh Kinh, vua là một người đại diện cho Thiên Chúa, được toàn dân kính sợ, vì được Thiên Chúa tuyển chọn và trao ban quyền cai trị dân chúng (1 V 3:9, 28). Những người lính La Mã đã không chỉ chế diễu cá nhân Chúa Giêsu, nhưng họ đã nhạo báng cả chức vị vương quyền, một ý niệm rất quan trọng trong lịch sử của người Do Thái.
Phần thứ hai: sự chế diễu với những hành vi bạo lực thô bỉ như khạc nhổ và đánh đập. Hành động thù nghịch này được diễn tả lên đến cực điểm với sự quỳ gối bái lạy Người một cách rất mỉa mai. Trong Phúc Âm Máccô, chỉ có một chỗ duy nhất đã dùng chữ “bái lạy” khi thánh sử diễn tả hành động của kẻ bị thần ô uế nhập vào hắn, đã chạy đến “bái lạy Người và kêu lớn tiếng rằng: Lạy ông Giêsu, Con Thiên Chúa Tối Cao, chuyện tôi can chi đến ông? Nhân danh Thiên Chúa tôi van ông đừng hành hạ tôi!” (Mc 5:6-7). Những người lính La Mã này được diễn tả như đang làm những việc của ma quỷ: trả thù và hành hạ Chúa Giêsu bằng bạo lực và lời xỉ vả.
Phúc âm của Thánh Máccô được viết trước năm 70, vào giai đoạn những người Kitô hữu sơ khởi đang bị ngược đãi và bách hại. Năm 79 thành phố Pompeii với những người giàu có và sang trọng, nói tiếng Hy Lạp, ở phía Nam nước Ý bị núi lửa chôn vùi vào lòng đất. Ngày nay, khi đào quật các di tích lên, người ta còn thấy sự nhạo báng đó được diễn tả trên một bức tường vẽ hình một người Kitô hữu quỳ gối trước một con lừa với hàng chữ chế nhạo rằng người Kitô hữu đang thờ phượng Thiên Chúa của nó!
Theo các nhà chú giải, có thể có sự trùng hợp đã xảy ra giữa sự xỉ nhục mà những người Kitô hữu ở thế kỷ thứ nhất đang phải chịu và sự phỉ báng mà Chúa Giêsu đã trải qua vì sự thù nghịch của quân lính La Mã. Suy niệm về biến cố này đã giúp họ tìm lại được sự tự trọng, phẩm giá và sự cao quý của chính mình trong ơn gọi làm con cái Thiên Chúa. Chính ơn sủng này đã gia tăng sức mạnh cho họ vượt qua thử thách và bền vững trong đức tin.
Các tín hữu tiên khởi đã đọc lại Thánh Kinh và thấy rằng lời tiên tri Isaia ngày xưa đã ứng nghiệm: “Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu. Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ. Có Đức Chúa là Chúa Thượng phù trợ tôi, vì thế, tôi đã không hổ thẹn, vì thế, tôi trơ mặt ra như đá. Tôi biết mình sẽ không phải thẹn thùng.” (Is 50:6-7).
Các tín hữu tiên khởi đã cầu nguyện và nhận ra rằng, Chúa Giêsu đã bị những người lính La Mã phỉ báng không những vì là người Do Thái, mà còn do lòng thù ghét của họ là những kẻ ngoại đạo, không muốn tin nhận Thiên Chúa nữa.
Quả vậy, cũng như những người Do Thái đã xỉ nhục Chúa Giêsu và gọi Người là tiên tri giả vì họ không muốn chấp nhận một ông vua bị đóng đinh đã tự xưng là Con Thiên Chúa như lời thánh Phaolô đã nói: “Trong khi người Do Thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy Lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh, điều mà người Do Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ” (1 Cr 1:22-23).
Vào năm 1968, một công nhân nghèo đã đưa gia đình từ tiểu bang Nữu Ước sang Úc Châu để lập nghiệp. Một trong số 11 những người con, có một chàng thanh niên đẹp trai luôn ôm mộng sẽ trở thành một diễn viên của một đoàn xiếc nào đó. Giấc mơ trở thành sự thực khi anh được một gánh hát địa phương thâu nhận.
Một buổi tối nọ, sau giờ làm việc anh đi bộ về nhà, đã bị năm tên du đãng trấn lột. Thay vì đưa tiền cho chúng, anh đã ra tay kháng cự. Bọn chúng đã dùng gậy đánh anh gần chết rồi bỏ chạy. Tình cờ xe cảnh sát nhận ra xác anh đang nằm bên vệ đường bèn đưa vào nhà xác. Trên đường đi, cảnh sát khám phá ra anh còn thở bèn chở vào nhà thương cấp cứu. Cô y tá vô cùng hoảng sợ, vì anh không còn khuôn mặt của một con người nữa. Đôi mắt bầm tím, lỗ mũi chỉ còn là một miếng da đeo lủng lẳng, hai hàm răng đã gãy, xương hàm lìa ra khỏi đầu, xương sọ và tay chân bị nứt!
Anh đã được cứu sống nhưng phải nằm trong bệnh viện điều trị hơn một năm. Khi xuất viện, các vết thương đã lành, nhưng khuôn mặt của anh trông rất kinh dị và ghê sợ! Mọi người đều xa tránh và khinh hãi. Anh đi tìm việc làm, không ai chịu mướn. Sau cùng có một chủ gánh xiếc đồng ý mướn anh đóng một show mang tên “The Man Who Had No Face”, “Con Người Không Có Mặt”. Chỉ được một thời gian ngắn, show không ăn khách, bị mất việc, thất nghiệp trong 5 năm, anh tuyệt vọng và toan tính tự vẫn nhiều lần.
Vào một ngày đi ngang qua ngôi thánh đường, anh ghé vào tìm sự an ủi. Tình cờ một linh mục trông thấy anh đang khi quỳ khóc nức nở, động lòng thương, ngài dẫn anh vào nhà xứ nói chuyện. Ngài hứa hẹn sẽ cố gắng giúp anh phục hồi phẩm giá và cuộc đời với điều kiện anh phải hứa sẽ là một người Công Giáo đạo đức, sống phó thác vào lòng nhân từ của Thiên Chúa. Từ đó trở đi, anh tham dự Thánh Lễ và rước Mình Thánh mỗi ngày với một tâm hồn an bình, vui tươi và thích khôi hài.
Bỗng một ngày, anh được mời đến để gặp một bác sĩ thẩm mỹ, bạn rất thân của linh mục. Sự khôi hài và lòng tốt của anh gây cảm tình với vị bác sĩ sẵn sàng giúp anh phục hồi lại khuôn mặt mà không phải trả một đồng nào. Cuộc giải phẫu thành công lạ lùng. Hai hàm răng cũng được phục hồi. Anh bắt đầu làm lại cuộc đời trong ngành sản xuất phim ảnh. Thiên Chúa đã chúc phúc cho anh với một mái gia đình rất hạnh phúc: vợ hiền, con cái ngoan ngoãn, công việc làm ăn thành công rực rỡ. Chàng thanh niên đó là nhà đạo diễn Mel Gibson với bộ phim “The Passion of The Christ”.
Xuất phát từ cảm nghiệm cá nhân của mình khi bị đánh đập, bị khinh chê, xỉ vả và bị tước đoạt hết phẩm giá, Mel Gibson đã suy niệm và liên kết với cuộc thương khó của Chúa Giêsu để thực hiện cuốn phim “Cuộc Thương Khó Của Đức Kitô” với lòng tạ ơn vì tình yêu bao la của Thiên Chúa đối với anh.
Lạy Mẹ Maria, khi Con Mẹ bị xỉ vả là lúc chính Mẹ chịu khổ nhục. Xin giúp chúng con nhớ rằng giá trị của chúng con không hệ tại bởi những hoàn cảnh hay những hành động chế nhạo của những người khác, nhưng bởi tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng con. Xin Mẹ giúp chúng con luôn ý thức rằng mình là con cái quý giá và trung thành của Chúa cho dù trong bất cứ hoàn cảnh nào. Xin cho chúng ta luôn đứng vững với phẩm giá của mình giữa những sự nhạo báng và chê cười của người đời vì danh Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh.