mở đầu
KHÚC SÁO ÂN TÌNH
Thân con cây trúc tầm thường
Ðược Người kén chọn yêu thương tràn trề.
Kiên trì đục cắt đam mê
Cho lòng rỗng trống tìm về nẻo Tin.
Lùa dao khoét lỗ luyện Kinh
Tác thành ống sáo cho tình dâng cao
Ghé môi Người thổi hơi vào
Hơi nồng tình ái xôn xao tuyệt vời
Sức Thần cảm hứng đầy vơi
Tim con thức dậy rạng ngời niềm vui.
Người mang qua lũng qua đồi
Rung lên khúc sáo một trời yêu đương
Ân tình như nước suối nguồn
Ngày đêm tuôn đổ xuống hồn ngất ngây
Hai tay nhỏ bé thế này
Mà sao vẫn thấy chưa đầy bao nhiêu?!
Chợt nghe Người ngỏ lời yêu
Quyện theo khúc sáo cung chiều chơi vơi
Vươn ngàn cánh nhạc lên khơi
Âu ca trầm bổng một đời tạ ơn.
Cao Tường
Khúc Sáo Ân Tình là một vũ khúc triển dương tạ ơn, như mốc ghi được kết bằng 25 hòn đá rải rác trên một quãng đường 1975-2000, mốc ghi 25 năm người Việt ly hương mở ra biên cương mới của đất Việt trong tầm nhìn mới. Trong cái rủi có cái may. Ðạo Trời qua vận hành của lịch sử thật kỳ bí.
Ðây là những tâm tình dàn trải được cô đọng lại trong năm 1999 và đầu năm 2000 qua những góp mặt với chương trình Tin Vui Gửi Thời Ðại Mới phát thanh tại nhiều thành phố bên Mỹ, Úc và Canada, cũng như một phần trên mạng lưới điện toán Công giáo vietcatholic.net và tập san Thời Ðiểm Công Giáo.
Khúc Sáo Ân Tình muốn diễn đạt Tin Vui trong nhịp tim văn hóa Việt, rung cảm trong đường tu đức Việt. Cõi trống của lòng trúc vốn là nét gốc của văn hóa người mình. Cõi trống trở thành cõi đầy. Cây trúc trở thành cây gậy thần của thánh Tản; cây tre trở thành ỷ thiên trượng của Phù Ðổng Thiên Vương mọc cánh bay lên được.
Cõi trống mịt mù của thập giá đã trở thành cõi đầy ánh quang. Tổ phụ Gia-cóp đã vật vã và bất đắc dĩ nhặt hòn đá vấp phải trên đường tị nạn làm đá gối đầu, không ngờ nó đã trở thành bậc đá bác lên trời, và ông đã xức dầu đặt làm trụ đá để tạ ơn ghi nơi gặp Chúa.
Khúc Sáo Ân Tình cũng chính là Tin Vui Thời Ðiểm 2000, nhìn những dấu chỉ thời đại dưới ánh sáng Tin Mừng, qua phụng vụ năm A. Những chuyện xẩy ra trong cuộc sống như những hòn đá văng vãi, đôi khi vô nghĩa và phi lý, có thể cản đường làm mình vấp té bị thương chảy máu, nhưng cũng là những bậc đá cho mình bước lên. Nhìn kỹ lại, những hòn đá xù xì hay nhọn hoắt có thể đã đục khoét cho cây trúc tầm thường thành ống sáo cho Thần Khí nhảy múa thổi vi vu trong tình khúc cuộc đời.
Vậy xin nâng cây sáo trúc bình dị cho gió trời rung cảm trổi lên Khúc Sáo Ân Tình để tạ ơn Trời, tạ ơn đời, tạ ơn những hòn đá, tạ ơn biết bao người đã chạm đến đời mình trong mấy chục năm qua.
Lm. Trần Cao Tường, e-mail: andytuong@cox.net
(từ tác phẩm Khúc Sáo Ân Tình, Thời Điểm xuất bản)
Xin mời ghé thăm gia trang vietcatholic.net/caotuong của Lm. Trần Cao Tường.
Nhìn Về tác phẩm
KHÚC SÁO ÂN TÌNH của Lm. Trần Cao Tường
CHƯƠNG TRÌNH TÁC GIẢ và TÁC PHẨM
TRÊN ÐÀI VOA, TIẾNG NÓI HOA KỲ
Các đây hơn một năm, khi đề cập tới hành trình văn chương của nhà văn / linh mục Trần Cao Tường, một trái tim và một ngòi bút không ngưng nghỉ kiếm tìm điểm gặp gỡ giữa truyền thống văn hóa Việt nghìn năm và nếp sống Việt hôm nay, ở quê người, nhà thơ du Tử Lê viết:
“Tôi là kẻ ngoại giáo. Ðề cập tới điều không cần thiết này, tôi chỉ muốn nhấn mạnh: lòng biết ơn của tôi, khi tình cờ, đọc được đâu đó, lời khẳng định của ông: kẻ nào không yêu quê hương, nguồn cội của mình, kẻ đó không yêu Thiên Chúa.
“Quan điểm hay cảm nghiệm này, của linh mục Trần Cao Tường, tôi đã tìm thấy, đã gặp lại bàng bạc hoặc, hiện lộ trong từng trang sách, từng con chữ mang tên ông.”
Ghi nhận đó, của nhà thơ du Tử Lê, được viết xuống, hồi tháng 6 năm 1999, mở đầu cho tác phẩm “Nhịp Múa Sông Thanh” của họ Trần.
Một năm sau, nơi tác phẩm thứ chín, tác phẩm mang tên “Khúc Sáo Ân Tình” của nhà văn / linh mục Trần Cao Tường, người đọc gặp lại một Trần Cao Tường âm, trầm, sâu, lắng hơn nữa.
Trước khi cất tiếng lên tiếng sáo ân tình Việt tộc, tiếng sáo ân tình quê hương, mở đầu cho tác phẩm mới nhất, dầy trên 400 trang chữ in của mình, họ Trần dùng hai câu thơ:
“Làm thân cây nến vào đời
Càng tiêu hao cháy càng ngời ánh quang.”
để mở đầu cho thời kỳ 1975. Và:
“Thân con cây trúc tầm thường
Ðược thành ống sáo thở hương tình người,”
Ðể nói lên tâm tình cũng như ý nguyện hiến dâng đời mình, cho dân tộc, và cho lẽ đạo.
Cùng lúc với sự ra đời của “Khúc Sáo Ân Tình,” người ta cũng được nghe họ Trần khẳng định, một làn nữa, nỗ lực đi tìm sợi giây linh thiêng nốI kết ngày trước và đời sau, qua cuộc phỏng vấn, ông dành cho một chương trình phát thanh Việt ngữ.
Xuyên qua cuộc phỏng vấn này, nhà văn / linh mục Trần Cao Tường nói:
“Trước khi là một người Công giáo và rồi là một linh mục, tôi đã là một người Việt Nam mang 100% chất Việt. Tôi xác tín vào gia sản văn hóa Việt Nam có thể góp phần với thế giới đang tiến bộ về mọi mặt ngày nay; đồng thời nền văn hóa nào nếu không muốn bị đào thải, cũng cần phải được phát triển, có khả năng thâu hóa được những tinh túy của thế giới. Người mình có cả một đạo sống cao đẹp, từ những kho giầu ca dao tục ngữ, những truyện thiêng liêng nhất của Việt tộc như Bánh Dầy Bánh Chưng, Truyện Trầu Cau nói lên tình nghĩa chỉ có thể phát khởi từ hy sinh quên mình rất đúng khoa tâm lý về tình yêu ngày nay: con đường nghiền nát trầu cau, nên màu đỏ thắm nên màu sắt son; Truyện Phù đổng Thiên Vương với sức mọc cánh do chân không diệu hữu bay về Trời; Truyện Tản Viên Sơn Thánh, Truyện Chử Ðồng Tử, Truyện An Tiêm với niềm tin căn bản vào Trời của Việt tộc: Trời sinh trời dưỡng...”
Trả lời câu hỏi về cách viết, tác giả “Khúc Sáo Ân Tình” tiết lộ:
“Tôi thường viết theo kiểu bút ký như đã có thói quen từ nhỏ, và chọn lối viết bình dị gần gũi như nói chuyện vậy thôi, tránh kiểu trường ốc cầu kỳ xa vời. Nghĩa là chụp ghi những chuyện xảy ra mỗi ngày, liên hệ tới mình như một người Việt, liên hệ tới gốc gác mình, và kể lại dưới ống kính nội tâm.”
Dưới ống kính nội tâm, khi phản chiếu lại, in chúng xuống trang giấy, bằng chữ viết, họ Trần đã dùng giọng văn dí dỏm, đôi khi châm biếm, nhưng uyên bác, quyến rũ, khiến những sự kiện khi được ông ghi nhận, đã như những tấm gương soi, cho người đọc cơ hội truy tầm chính mình. Thí dụ mở đầu nhất ký số 49, nhan đề “Cõi Ðó,” họ Trần viết:
“Giữa tháng tám năm 1999, tôi có dịp tham dự và góp phần trong khóa học về đề tài “Sự Chết và Ðời Sống Vĩnh Cửu” do Viện Triết Thần tổ chức tại California. Ðang lúc ai cũng ham sống, tìm cách sống lâu thêm cho được hưởng đời mà Viện Triết Thần lại đi bàn chuyện chết, liệu có gì hấp dẫn?! Vậy mà khóa đã thật sống động, nhiều điều mới lạ và thích thú được mở ra. Cái chết là đề tài cũ rích đáng sợ nhất không ngờ lại là điều luôn hiện đại. Có người bảo chỉ khi nào biết chết thì mới bắt đầu biết sống.
Thì mỗi ngày đều đầy những tin tức chết chóc trên báo hay Tivi đó. Kìa vụ động đất vừa xảy ra bên Thổ Nhĩ Kỳ chết bộn người, nhà cửa đổ nát, máu me và nước mắt tràn ngập. Kìa trên Chicago trời nóng quá, nhiều nhà nghèo không có máy lạnh nên đã biếu tử thần mấy trăm mạng rồi...
Xem ra tôi vẫn đọc tin như vậy một cách thản nhiên, dù đôi khi cũng vương một chút thương tâm, nhưng thực sự tất cả vẫn ở ngoài tôi, vẫn ở xa tôi, chẳng liên hệ gì cả. Lý do dễ hiểu là vì ai chết ấy chứ có phải tôi đâu, hay ít ra cũng có phải những người thân yêu của tôi đâu! Mình hơi buồn vì họ chết mà trong bụng thì mừng vì thấy được mình vẫn còn sống!”
Trong chưa đầy một trang sách, người đọc bình thường nhất, đơn giản nhất cũng tối thiểu một lần giật mình, khi tấm gương nhật ký Trần Cao Tường, phản chiếu chân dung ta, diện mạo ta, một cách trần trụi, gớm ghiếc:
“Mình hơi buồn vì họ chết, mà, trong bụng thì mừng vì thấy được mình vẫn còn sống!”
Nếu nhậy cảm hơn một chút, cũng trong đoản văn đó, người đọc cũng sẽ không khỏi giật mình, khi tấm gương văn chương Trần Cao Tường, nhắc nhở chúng ta, điều rất bình thường, ta đã nghe đâu có, và cũng đã vứt bỏ đâu có, trong kho chứa điều lãng quên: “Có người bảo chỉ khi nào biết chết thì mới bắt đầu biết sống.”
Không triết lý cao siêu, thần bí, không gân guốc chữ nghĩa, không hăm dọa hình ảnh, hoặc ẩn dụ, những trang sách của một Trần Cao Tường nhà văn, đến với chúng ta, với người đọc, như những lời kể chuyện, những đoạn bút ký rất đời thường, rất mặt đất, vậy mà, nó vẫn rung lên trong tâm hồn ta những rung động ở mức độ cao. Ðộ rung của của những cơn địa chấn.
Sau khi đọc “Khúc Sáo Ân Tình” của Trần Cao Tường, một nhà văn tên tuổi ở miền California, phát biểu:
“Tôi e rằng, cho tới lúc chấm dứt đời mình, tôi cũng không được là một lóng của thân trúc tầm thường, khoan nói tới việc trở thành... 'cây sáo thở hương tình người,' như linh mục, tác giả.”
Sau đây, chúng tôi trân trọng kính mời quí độc giả theo dõi một trích đoạn, từ tác phẩm “Khúc Sáo Ân Tình” của nhà văn / linh mục Trần Cao Tường, như một dạo khúc sáo trúc của ông, vọng về quê hương:
“Chưa bao giờ tôi thấy vườn sau nhà tươi tắn rạng rỡ, trẻ đẹp mơn mởn như hôm nay. Có gì đâu, vẫn những cây tầm thường mọi khi, mà sao bây giờ bỗng dưng quí lạ quá, chung quanh như toát ra một lực ánh sáng diễm ảo mà con mắt trước đây không thấy. Cây nào cây nấy xúng xính và e lệ với những bộ áo mới, vừa nhún nhẩy vừa hát vang bài ca vũ trụ và trổi lên khúc sáo tiềm ẩn của đất trời mà lâu nay chẳng để ý nghe. Nhà nghệ sĩ nào tài tình quá đã sửa soạn từ lâu đến suốt đêm vừa qua cho cuộc trình diễn và triển lãm ngoạn mục này khi nắng mai vừa thức giấc nhoẻn miệng cười.
Tôi yêu cây và thích trồng cây trong vườn. Mà vườn sau nhà tôi thì chẳng giống ai. Cây không bị bắt xếp hàng thẳng băng một cách tội nghiệp như nhiều công viên Âu Mỹ, nhưng được đứng ngồi thoải mái tùy tiện ăn trông nồi ngồi hướng. Có thế thì cây mới là cây. Tôi cũng không thích trồng bồn cỏ rồi phải cắt tỉa mày râu nhẵn nhụi cho tốn sức “cần lao nhân vị.” Loại cây có dáng thi nhân nhất là trúc vàng lóng dài với những đường chỉ dọc màu xanh. Loại này mà làm sáo thổi thì tuyệt. Nó có vẻ khiêm nhường một cách kênh kiệu. Nó rỗng trống chẳng có gì mà lại đẹp kiêu sa mới kỳ. Ngoài những cây mai chiếu thủy, cây ngọc lan, cây quỳnh, cây dao, mấy vồng trầu không v.v. thì toàn những loại cây có thể ăn gỏi cá được. Nào là cây sung, cây riềng, cây xoài, cây ổi, cây chanh, cây ớt, tía tô, lá mơ, lá húng, lá diếp cá... Ở Mỹ mà cũng trồng được sung mới trác tuyệt chứ. Khi nghèo lá sung thì ngắt đỡ đọt xoài non ăn với gỏi cá cũng bắt lắm, coi cái món sushi của Nhật nhạt thếch chẳng ra cái thá gì. Lá chanh thì chuyên trị gà luộc, mà gà phải mua từ nông trại ưa chạy bộ ăn mới ấm chân răng. Còn củ riềng thì còn phải chờ khóc đứng khóc ngồi cái đã....”
Nhà báo Nguyễn Trọng:
TÔI ÐỌC “KHÚC SÁO ÂN TÌNH”
của linh mục nhà văn Trần Cao Tường
“Khúc Sáo Ân Tình” là tác phẩm thứ bảy của linh mục nhà văn Trần Cao Tường, đang phục vụ ở New Orleans, nơi có khoảng 10 ngàn người Việt di cư Công giáo. Linh mục cũng là tác giả cuốn Ðường Nở Hoa Lê Thị Thành, xuất bản vào năm 1996, mô tả khá tỉ mỉ cuộc đời của thánh nữ.
Theo lời tác giả thì “Khúc Sáo Ân Tình” là một vũ khúc triển dương tạ ơn, như mốc ghi được kết bằng 25 hòn đá rải rác trên quãng đường dài 1975-2000, mốc ghi người Việt ly hương mở ra biên cương mới của đất Việt trong tầm nhìn mới.”
Tại sao tác giả không gọi cuốn sách ghi lại quãng đường dài 25 năm di cư bằng cái tên như “25 Năm Ân Tình” Hay “25 Năm Xa Xứ” mà lại chọn một cái tên rất kỳ lạ và rất thơ mộng là “Khúc Sáo Ân Tình?”
Chọn như vậy ắt hẳn phải có một lý do chính đáng và thầm kín, nó thầm kín như chính con người của tác giả vậy.
Theo lời tiết lộ của tác giả thì ông đã đi học thổI sáo Tây cả hai năm, và mới đây ông chuyển qua học thổi sáo trúc. Theo ông, sáo trúc bình dị từ “cây trúc tầm thường” nhưng lại rất rung cảm.
Chính vì thổi sáo trúc mà tác giả đã đi sâu vào con đường chiêm niệm - contemplation - và con đường thiền - mystic.
Chúng ta hãy nghe ông mô tả nghệ thuật - hay nói đúng hơn là bí quyết huyền nhiệm - của người thổi sáo ân tình: “Trước hết người thổi sáo phải hòa nhập trở thành chính ống sáo với lòng trống và thanh tịnh cho hơi thở của Trời chuyển vào. Phải biết xả cho tâm mình trống không, tụ khí xuống thật sâu tận đáy lòng, nơi tụ điểm hòa nhập với hơi thở của đất trời, rồi chuyển hơi vào lỗ sáo như một lời cầu nguyện.”
“Xuống được đáy lòng, tác giả viết tiếp, vào sâu trong nội tâm, chính là gặp được giao điểm của trời đất, người Tàu gọi là đan điền (ruộng son), người Nhật gọi là khí hải (biển khí).”
Mô tả bí quyết thổi sáo như trên, tác giả đi tới kết luận: “Thì ra người thổi sáo cũng phải trở thành chính ống sáo. Những đục khóet trong đời không phải là những phi lí lãng xẹt, mà là do Thần Khí Chúa “lùa dao khoét lỗ luyện kinh, tác thành ống sáo cho tình dâng cao.”
Nhận thức được nghệ thuật và tác động thiêng liêng huyền nhiệm của tiếng sáo như vậy nên tác giả mới đặt tên cho sách của mình là “Khúc Sáo Ân Tình.”
Linh mục Trần Cao Tường không chỉ là một nhà văn, ông cũng không phải chỉ là một linh mục. Ông còn là một nhà chiêm niệm, một “thiền gia” - mystic - theo theo nghĩa thời Trung Cổ của danh từ này.
Những thiền gia đều cảm nhận sự hiện diện của Chúa trong thế giới thiên nhiên và trong tất cả các sinh vật, đưa tới sự biến dạng - trandfiguration - của những vật tầm thường chung quanh mình.
Chínnh cái nhìn biến dạng này đã khiến cho nhà văn gọi đoạn viết về thổi sáo là “Thiền Thổi Sáo.” Cây sáo trúc tầm thường của người Việt đã trở thành chiếc ống chuyên chở Thần Khí của Chúa Thánh Linh vào tận đáy lòng.
Viết về tôn giáo là một điều không dễ dàng và dễ hiểu. Lại viết về chiêm niệm và thiền Công giáo thì quả là một đề tài vô cùng khó khăn, khó hiểu và khó truyền cảm. Nhưng tác giả “Khúc Sáo Ân Tình” coi như đã thành công vì ông đã diễn tả những gì rất trừu tượng, rất “huyền bí,” rất xa xôi và sâu thẳm bằng những hình ảnh và lời văn thông thường của đời sống hằng ngày, những hình ảnh và lời văn mà mọi người dân quê Việt Nam đã quen thuộc từ lâu, vì nó đã ăn sâu vào lòng như những câu ca dao tục ngữ của cha ông truyền lại cho con cháu từ ngàn xưa thăm thẳm.
Tác giả không viết về những cuộc đời chiêm niệm và thiền qua nghiên cứu sách vở. Ông sống thật cuộc đời đó trước khi mô tả nó. Ông đã gặp được Thần Khí trước khi đưa Thần Khí vào văn chương. Có nghĩa ông là người biết thổi sáo - và thổi sáo hay - trước khi diễn tả tiếng sáo ngọt ngào, trầm bổng và quyến dũ cho người khác cùng thưởng thức, đưa họ vào một thế giới không phải của Tiên Nga, Ngọc Nữ như trong thơ của Thế Lữ, mà đưa họ vào thế giới Tình Yêu muôn thuở, đẹp như những rừng hoa không bao giờ tàn, và lung linh thơ mộng như vầng trăng không bao giờ lặn...
Con người không mô tả được cảnh đẹp của Thiên Ðường có thực mà chỉ mô tả được cảnh đẹp của Thiên Thai trong tưởng tượng. Linh mục Trần Cao Tường cũng chỉ mới cảm nhận được vẻ đẹp Thiên Ðường này. Ông chưa thực sự sống tràn ngập trong đó.
VÀO SA MẠC
Người ta thường nói: đạo Công giáo phát xuất từ sa mạc - sa mạc Sinai - nên trong lòng mỗi người Công giáo đều có một niềm nhớ nhung sa mạc và một tiếng gọi xa xăm trở về sống trong sa mạc. Nếu hình ảnh con trâu và lũy tre dẫn đưa người Việt tha hương về với quê hương đất nước nơi trần thế, thì hình ảnh sa mạc và ngọn núi Sinai dẫn đưa con người Công giáo về với nguồn gốc tôn giáo của mình.
Có lẽ chính vì vậy mà linh mục Trần Cao Tường, một nhà chiêm niệm và một “thiền gia” đã nhiều lần vào sống trong sa mạc.
Ngay trong phần mở đầu cuốn “Khúc Sáo Ân Tình,” tác giả cho biết ông đã có dịp vào sa mạc trống trong một thời gian dài ba mươi ngày để tĩnh tâm. Theo tác giả thì “đây là cơ hội cho mình nhìn lại cuộc sống, có bổng mà cũng có trầm, có đủ màu sắc hỉ nộ ái ố xanh vàng tím đỏ, có những lúc tâm hồn mọc cánh thênh thang, mà lại cũng trải qua những gai đoạn bị đục khoét lia chia mà chẳng hiểu tại sao...”
Chính sự đục khoét tâm hồn cho rỗng trống, chính những mâu thuẫn nội tâm trầm bổng đã kết lại thành một hòa khúc dịu êm, như hòa khúc mà Ðức Mẹ đã nghe được thiên thần báo tin sẽ sinh con Thiên chúa. Hòa khúc này, tác giả đặt tên nó al Vũ Khúc Tuyên Dương:
Chúa đã làm cho tôi muôn việc kỳ diệu
Người nâng cao những ai phận nhỏ.
Tác giả vào sa mạc để thấy con người của mình phận nhỏ li ti khi đứng trước cái mênh mông của đất trời. Và trong lúc tác giả cảm nghiệm được thân phận thấp hèn mong manh của mình như vậy là chính lúc Thần Khí Chúa mang một cây sáo trúc tặng cho ông để ông tấu lên thành “Khúc Sáo Ân Tình” ngay giữa lòng sa mạc.
Như vậy, độc giả người Việt đọc “Khúc Sáo Ân Tình” có thể kết luận được rằng nếu tác giả là người không biết thổi sáo trúc của người dân quê Việt Nam, và nếu tác giả không sống lâu ngày trong sa mạc bao la để thấy thân phận con người nhỏ bé li ti như hạt cát, và để nhìn lên trời cao chỉ thấy có trăng sao và những đám mây vần vũ, thì có lẽ ông không sáng tác được hòa khúc “Khúc Sáo Ân Tình.”
“Khúc Sáo Ân Tình” không phải chỉ là một tiếng sáo vẳng lên trời cao rồi lịm tắt. Cuốn sách in đẹp, trình bày mỹ thuật và đơn giản, dày trên 400 trang, gồm có 57 tiếng sáo nhỏ kết lại thành một bản Trường Ca Ân Tình làm say mê độc giả suốt mấy tiếng đồng hồ, nhất là vào những giờ thanh vắng đêm khuya khi ngoài trời có gió thổi và trên trời có một vài vì sao lấp lánh cô đơn, lạnh lẽo.
Lối viết và lối suy tư của tác giả làm cho người ta nhớ lại cuốn “Bread for the Journey" của linh mục nhà văn nổi tiếng thế giới Henri J.M. Nouwen, chuyên viết về tu đức. Cuốn sách này được chia thành 365 bài cho một năm, mỗi bài tự nó làmột đề tài suy niệm, rất súc tích và sâu sắc nhưng lại dễ hiểu và trong sáng như lối viết của Tân Ước.
Cuốn “Khúc Sáo Ân Tình” của linh mục nhà văn Trần Cao Tường với lối diễn tả nhìn thẳng vào vấn đề và diễn tả vấn đề đó bằng một lối hành văn gẫy gọn, mạch lạc, dễ hiểu, dùng nhiều hình ảnh, giai thoại và ẩn dụ rút ra từ Thánh Kinh, từ sách báo, từ đời sống của các nhà đạo đức, và rút ra từ chính cuộc đời của tác giả.
Ðây là một loại sách hiếm về chiêm niệm và Thiền Công giáo rất cần thiết trong đời sống ồn ào, phức tạp, đầy hoài nghi và lo sợ viển vông của nhiều người chúng ta đang sống trong một thế giới quá đầy đủ về tiện nghi vật chất, nhưng thiếu vắng những suy tư về tâm linh.
Nói tóm lại, cũng như linh mục tác giả Trần Cao Tường, mỗi người chúng ta phải trở về sa mạc để tìm lại nguồn gốc tôn giáo của mình và cho lòng mình cảm nghiệm thấy trống rỗng, cô đơn để đón nhận Thần Khí Chúa từ trời cao đầy hồn trí, như một cơn mưa rào.
Nguyễn Trọng
KHÚC SÁO ÂN TÌNH
Thân con cây trúc tầm thường
Ðược Người kén chọn yêu thương tràn trề.
Kiên trì đục cắt đam mê
Cho lòng rỗng trống tìm về nẻo Tin.
Lùa dao khoét lỗ luyện Kinh
Tác thành ống sáo cho tình dâng cao
Ghé môi Người thổi hơi vào
Hơi nồng tình ái xôn xao tuyệt vời
Sức Thần cảm hứng đầy vơi
Tim con thức dậy rạng ngời niềm vui.
Người mang qua lũng qua đồi
Rung lên khúc sáo một trời yêu đương
Ân tình như nước suối nguồn
Ngày đêm tuôn đổ xuống hồn ngất ngây
Hai tay nhỏ bé thế này
Mà sao vẫn thấy chưa đầy bao nhiêu?!
Chợt nghe Người ngỏ lời yêu
Quyện theo khúc sáo cung chiều chơi vơi
Vươn ngàn cánh nhạc lên khơi
Âu ca trầm bổng một đời tạ ơn.
Cao Tường
Khúc Sáo Ân Tình là một vũ khúc triển dương tạ ơn, như mốc ghi được kết bằng 25 hòn đá rải rác trên một quãng đường 1975-2000, mốc ghi 25 năm người Việt ly hương mở ra biên cương mới của đất Việt trong tầm nhìn mới. Trong cái rủi có cái may. Ðạo Trời qua vận hành của lịch sử thật kỳ bí.
Ðây là những tâm tình dàn trải được cô đọng lại trong năm 1999 và đầu năm 2000 qua những góp mặt với chương trình Tin Vui Gửi Thời Ðại Mới phát thanh tại nhiều thành phố bên Mỹ, Úc và Canada, cũng như một phần trên mạng lưới điện toán Công giáo vietcatholic.net và tập san Thời Ðiểm Công Giáo.
Khúc Sáo Ân Tình muốn diễn đạt Tin Vui trong nhịp tim văn hóa Việt, rung cảm trong đường tu đức Việt. Cõi trống của lòng trúc vốn là nét gốc của văn hóa người mình. Cõi trống trở thành cõi đầy. Cây trúc trở thành cây gậy thần của thánh Tản; cây tre trở thành ỷ thiên trượng của Phù Ðổng Thiên Vương mọc cánh bay lên được.
Cõi trống mịt mù của thập giá đã trở thành cõi đầy ánh quang. Tổ phụ Gia-cóp đã vật vã và bất đắc dĩ nhặt hòn đá vấp phải trên đường tị nạn làm đá gối đầu, không ngờ nó đã trở thành bậc đá bác lên trời, và ông đã xức dầu đặt làm trụ đá để tạ ơn ghi nơi gặp Chúa.
Khúc Sáo Ân Tình cũng chính là Tin Vui Thời Ðiểm 2000, nhìn những dấu chỉ thời đại dưới ánh sáng Tin Mừng, qua phụng vụ năm A. Những chuyện xẩy ra trong cuộc sống như những hòn đá văng vãi, đôi khi vô nghĩa và phi lý, có thể cản đường làm mình vấp té bị thương chảy máu, nhưng cũng là những bậc đá cho mình bước lên. Nhìn kỹ lại, những hòn đá xù xì hay nhọn hoắt có thể đã đục khoét cho cây trúc tầm thường thành ống sáo cho Thần Khí nhảy múa thổi vi vu trong tình khúc cuộc đời.
Vậy xin nâng cây sáo trúc bình dị cho gió trời rung cảm trổi lên Khúc Sáo Ân Tình để tạ ơn Trời, tạ ơn đời, tạ ơn những hòn đá, tạ ơn biết bao người đã chạm đến đời mình trong mấy chục năm qua.
Lm. Trần Cao Tường, e-mail: andytuong@cox.net
(từ tác phẩm Khúc Sáo Ân Tình, Thời Điểm xuất bản)
Xin mời ghé thăm gia trang vietcatholic.net/caotuong của Lm. Trần Cao Tường.
Nhìn Về tác phẩm
KHÚC SÁO ÂN TÌNH của Lm. Trần Cao Tường
CHƯƠNG TRÌNH TÁC GIẢ và TÁC PHẨM
TRÊN ÐÀI VOA, TIẾNG NÓI HOA KỲ
Các đây hơn một năm, khi đề cập tới hành trình văn chương của nhà văn / linh mục Trần Cao Tường, một trái tim và một ngòi bút không ngưng nghỉ kiếm tìm điểm gặp gỡ giữa truyền thống văn hóa Việt nghìn năm và nếp sống Việt hôm nay, ở quê người, nhà thơ du Tử Lê viết:
“Tôi là kẻ ngoại giáo. Ðề cập tới điều không cần thiết này, tôi chỉ muốn nhấn mạnh: lòng biết ơn của tôi, khi tình cờ, đọc được đâu đó, lời khẳng định của ông: kẻ nào không yêu quê hương, nguồn cội của mình, kẻ đó không yêu Thiên Chúa.
“Quan điểm hay cảm nghiệm này, của linh mục Trần Cao Tường, tôi đã tìm thấy, đã gặp lại bàng bạc hoặc, hiện lộ trong từng trang sách, từng con chữ mang tên ông.”
Ghi nhận đó, của nhà thơ du Tử Lê, được viết xuống, hồi tháng 6 năm 1999, mở đầu cho tác phẩm “Nhịp Múa Sông Thanh” của họ Trần.
Một năm sau, nơi tác phẩm thứ chín, tác phẩm mang tên “Khúc Sáo Ân Tình” của nhà văn / linh mục Trần Cao Tường, người đọc gặp lại một Trần Cao Tường âm, trầm, sâu, lắng hơn nữa.
Trước khi cất tiếng lên tiếng sáo ân tình Việt tộc, tiếng sáo ân tình quê hương, mở đầu cho tác phẩm mới nhất, dầy trên 400 trang chữ in của mình, họ Trần dùng hai câu thơ:
“Làm thân cây nến vào đời
Càng tiêu hao cháy càng ngời ánh quang.”
để mở đầu cho thời kỳ 1975. Và:
“Thân con cây trúc tầm thường
Ðược thành ống sáo thở hương tình người,”
Ðể nói lên tâm tình cũng như ý nguyện hiến dâng đời mình, cho dân tộc, và cho lẽ đạo.
Cùng lúc với sự ra đời của “Khúc Sáo Ân Tình,” người ta cũng được nghe họ Trần khẳng định, một làn nữa, nỗ lực đi tìm sợi giây linh thiêng nốI kết ngày trước và đời sau, qua cuộc phỏng vấn, ông dành cho một chương trình phát thanh Việt ngữ.
Xuyên qua cuộc phỏng vấn này, nhà văn / linh mục Trần Cao Tường nói:
“Trước khi là một người Công giáo và rồi là một linh mục, tôi đã là một người Việt Nam mang 100% chất Việt. Tôi xác tín vào gia sản văn hóa Việt Nam có thể góp phần với thế giới đang tiến bộ về mọi mặt ngày nay; đồng thời nền văn hóa nào nếu không muốn bị đào thải, cũng cần phải được phát triển, có khả năng thâu hóa được những tinh túy của thế giới. Người mình có cả một đạo sống cao đẹp, từ những kho giầu ca dao tục ngữ, những truyện thiêng liêng nhất của Việt tộc như Bánh Dầy Bánh Chưng, Truyện Trầu Cau nói lên tình nghĩa chỉ có thể phát khởi từ hy sinh quên mình rất đúng khoa tâm lý về tình yêu ngày nay: con đường nghiền nát trầu cau, nên màu đỏ thắm nên màu sắt son; Truyện Phù đổng Thiên Vương với sức mọc cánh do chân không diệu hữu bay về Trời; Truyện Tản Viên Sơn Thánh, Truyện Chử Ðồng Tử, Truyện An Tiêm với niềm tin căn bản vào Trời của Việt tộc: Trời sinh trời dưỡng...”
Trả lời câu hỏi về cách viết, tác giả “Khúc Sáo Ân Tình” tiết lộ:
“Tôi thường viết theo kiểu bút ký như đã có thói quen từ nhỏ, và chọn lối viết bình dị gần gũi như nói chuyện vậy thôi, tránh kiểu trường ốc cầu kỳ xa vời. Nghĩa là chụp ghi những chuyện xảy ra mỗi ngày, liên hệ tới mình như một người Việt, liên hệ tới gốc gác mình, và kể lại dưới ống kính nội tâm.”
Dưới ống kính nội tâm, khi phản chiếu lại, in chúng xuống trang giấy, bằng chữ viết, họ Trần đã dùng giọng văn dí dỏm, đôi khi châm biếm, nhưng uyên bác, quyến rũ, khiến những sự kiện khi được ông ghi nhận, đã như những tấm gương soi, cho người đọc cơ hội truy tầm chính mình. Thí dụ mở đầu nhất ký số 49, nhan đề “Cõi Ðó,” họ Trần viết:
“Giữa tháng tám năm 1999, tôi có dịp tham dự và góp phần trong khóa học về đề tài “Sự Chết và Ðời Sống Vĩnh Cửu” do Viện Triết Thần tổ chức tại California. Ðang lúc ai cũng ham sống, tìm cách sống lâu thêm cho được hưởng đời mà Viện Triết Thần lại đi bàn chuyện chết, liệu có gì hấp dẫn?! Vậy mà khóa đã thật sống động, nhiều điều mới lạ và thích thú được mở ra. Cái chết là đề tài cũ rích đáng sợ nhất không ngờ lại là điều luôn hiện đại. Có người bảo chỉ khi nào biết chết thì mới bắt đầu biết sống.
Thì mỗi ngày đều đầy những tin tức chết chóc trên báo hay Tivi đó. Kìa vụ động đất vừa xảy ra bên Thổ Nhĩ Kỳ chết bộn người, nhà cửa đổ nát, máu me và nước mắt tràn ngập. Kìa trên Chicago trời nóng quá, nhiều nhà nghèo không có máy lạnh nên đã biếu tử thần mấy trăm mạng rồi...
Xem ra tôi vẫn đọc tin như vậy một cách thản nhiên, dù đôi khi cũng vương một chút thương tâm, nhưng thực sự tất cả vẫn ở ngoài tôi, vẫn ở xa tôi, chẳng liên hệ gì cả. Lý do dễ hiểu là vì ai chết ấy chứ có phải tôi đâu, hay ít ra cũng có phải những người thân yêu của tôi đâu! Mình hơi buồn vì họ chết mà trong bụng thì mừng vì thấy được mình vẫn còn sống!”
Trong chưa đầy một trang sách, người đọc bình thường nhất, đơn giản nhất cũng tối thiểu một lần giật mình, khi tấm gương nhật ký Trần Cao Tường, phản chiếu chân dung ta, diện mạo ta, một cách trần trụi, gớm ghiếc:
“Mình hơi buồn vì họ chết, mà, trong bụng thì mừng vì thấy được mình vẫn còn sống!”
Nếu nhậy cảm hơn một chút, cũng trong đoản văn đó, người đọc cũng sẽ không khỏi giật mình, khi tấm gương văn chương Trần Cao Tường, nhắc nhở chúng ta, điều rất bình thường, ta đã nghe đâu có, và cũng đã vứt bỏ đâu có, trong kho chứa điều lãng quên: “Có người bảo chỉ khi nào biết chết thì mới bắt đầu biết sống.”
Không triết lý cao siêu, thần bí, không gân guốc chữ nghĩa, không hăm dọa hình ảnh, hoặc ẩn dụ, những trang sách của một Trần Cao Tường nhà văn, đến với chúng ta, với người đọc, như những lời kể chuyện, những đoạn bút ký rất đời thường, rất mặt đất, vậy mà, nó vẫn rung lên trong tâm hồn ta những rung động ở mức độ cao. Ðộ rung của của những cơn địa chấn.
Sau khi đọc “Khúc Sáo Ân Tình” của Trần Cao Tường, một nhà văn tên tuổi ở miền California, phát biểu:
“Tôi e rằng, cho tới lúc chấm dứt đời mình, tôi cũng không được là một lóng của thân trúc tầm thường, khoan nói tới việc trở thành... 'cây sáo thở hương tình người,' như linh mục, tác giả.”
Sau đây, chúng tôi trân trọng kính mời quí độc giả theo dõi một trích đoạn, từ tác phẩm “Khúc Sáo Ân Tình” của nhà văn / linh mục Trần Cao Tường, như một dạo khúc sáo trúc của ông, vọng về quê hương:
“Chưa bao giờ tôi thấy vườn sau nhà tươi tắn rạng rỡ, trẻ đẹp mơn mởn như hôm nay. Có gì đâu, vẫn những cây tầm thường mọi khi, mà sao bây giờ bỗng dưng quí lạ quá, chung quanh như toát ra một lực ánh sáng diễm ảo mà con mắt trước đây không thấy. Cây nào cây nấy xúng xính và e lệ với những bộ áo mới, vừa nhún nhẩy vừa hát vang bài ca vũ trụ và trổi lên khúc sáo tiềm ẩn của đất trời mà lâu nay chẳng để ý nghe. Nhà nghệ sĩ nào tài tình quá đã sửa soạn từ lâu đến suốt đêm vừa qua cho cuộc trình diễn và triển lãm ngoạn mục này khi nắng mai vừa thức giấc nhoẻn miệng cười.
Tôi yêu cây và thích trồng cây trong vườn. Mà vườn sau nhà tôi thì chẳng giống ai. Cây không bị bắt xếp hàng thẳng băng một cách tội nghiệp như nhiều công viên Âu Mỹ, nhưng được đứng ngồi thoải mái tùy tiện ăn trông nồi ngồi hướng. Có thế thì cây mới là cây. Tôi cũng không thích trồng bồn cỏ rồi phải cắt tỉa mày râu nhẵn nhụi cho tốn sức “cần lao nhân vị.” Loại cây có dáng thi nhân nhất là trúc vàng lóng dài với những đường chỉ dọc màu xanh. Loại này mà làm sáo thổi thì tuyệt. Nó có vẻ khiêm nhường một cách kênh kiệu. Nó rỗng trống chẳng có gì mà lại đẹp kiêu sa mới kỳ. Ngoài những cây mai chiếu thủy, cây ngọc lan, cây quỳnh, cây dao, mấy vồng trầu không v.v. thì toàn những loại cây có thể ăn gỏi cá được. Nào là cây sung, cây riềng, cây xoài, cây ổi, cây chanh, cây ớt, tía tô, lá mơ, lá húng, lá diếp cá... Ở Mỹ mà cũng trồng được sung mới trác tuyệt chứ. Khi nghèo lá sung thì ngắt đỡ đọt xoài non ăn với gỏi cá cũng bắt lắm, coi cái món sushi của Nhật nhạt thếch chẳng ra cái thá gì. Lá chanh thì chuyên trị gà luộc, mà gà phải mua từ nông trại ưa chạy bộ ăn mới ấm chân răng. Còn củ riềng thì còn phải chờ khóc đứng khóc ngồi cái đã....”
Nhà báo Nguyễn Trọng:
TÔI ÐỌC “KHÚC SÁO ÂN TÌNH”
của linh mục nhà văn Trần Cao Tường
“Khúc Sáo Ân Tình” là tác phẩm thứ bảy của linh mục nhà văn Trần Cao Tường, đang phục vụ ở New Orleans, nơi có khoảng 10 ngàn người Việt di cư Công giáo. Linh mục cũng là tác giả cuốn Ðường Nở Hoa Lê Thị Thành, xuất bản vào năm 1996, mô tả khá tỉ mỉ cuộc đời của thánh nữ.
Theo lời tác giả thì “Khúc Sáo Ân Tình” là một vũ khúc triển dương tạ ơn, như mốc ghi được kết bằng 25 hòn đá rải rác trên quãng đường dài 1975-2000, mốc ghi người Việt ly hương mở ra biên cương mới của đất Việt trong tầm nhìn mới.”
Tại sao tác giả không gọi cuốn sách ghi lại quãng đường dài 25 năm di cư bằng cái tên như “25 Năm Ân Tình” Hay “25 Năm Xa Xứ” mà lại chọn một cái tên rất kỳ lạ và rất thơ mộng là “Khúc Sáo Ân Tình?”
Chọn như vậy ắt hẳn phải có một lý do chính đáng và thầm kín, nó thầm kín như chính con người của tác giả vậy.
Theo lời tiết lộ của tác giả thì ông đã đi học thổI sáo Tây cả hai năm, và mới đây ông chuyển qua học thổi sáo trúc. Theo ông, sáo trúc bình dị từ “cây trúc tầm thường” nhưng lại rất rung cảm.
Chính vì thổi sáo trúc mà tác giả đã đi sâu vào con đường chiêm niệm - contemplation - và con đường thiền - mystic.
Chúng ta hãy nghe ông mô tả nghệ thuật - hay nói đúng hơn là bí quyết huyền nhiệm - của người thổi sáo ân tình: “Trước hết người thổi sáo phải hòa nhập trở thành chính ống sáo với lòng trống và thanh tịnh cho hơi thở của Trời chuyển vào. Phải biết xả cho tâm mình trống không, tụ khí xuống thật sâu tận đáy lòng, nơi tụ điểm hòa nhập với hơi thở của đất trời, rồi chuyển hơi vào lỗ sáo như một lời cầu nguyện.”
“Xuống được đáy lòng, tác giả viết tiếp, vào sâu trong nội tâm, chính là gặp được giao điểm của trời đất, người Tàu gọi là đan điền (ruộng son), người Nhật gọi là khí hải (biển khí).”
Mô tả bí quyết thổi sáo như trên, tác giả đi tới kết luận: “Thì ra người thổi sáo cũng phải trở thành chính ống sáo. Những đục khóet trong đời không phải là những phi lí lãng xẹt, mà là do Thần Khí Chúa “lùa dao khoét lỗ luyện kinh, tác thành ống sáo cho tình dâng cao.”
Nhận thức được nghệ thuật và tác động thiêng liêng huyền nhiệm của tiếng sáo như vậy nên tác giả mới đặt tên cho sách của mình là “Khúc Sáo Ân Tình.”
Linh mục Trần Cao Tường không chỉ là một nhà văn, ông cũng không phải chỉ là một linh mục. Ông còn là một nhà chiêm niệm, một “thiền gia” - mystic - theo theo nghĩa thời Trung Cổ của danh từ này.
Những thiền gia đều cảm nhận sự hiện diện của Chúa trong thế giới thiên nhiên và trong tất cả các sinh vật, đưa tới sự biến dạng - trandfiguration - của những vật tầm thường chung quanh mình.
Chínnh cái nhìn biến dạng này đã khiến cho nhà văn gọi đoạn viết về thổi sáo là “Thiền Thổi Sáo.” Cây sáo trúc tầm thường của người Việt đã trở thành chiếc ống chuyên chở Thần Khí của Chúa Thánh Linh vào tận đáy lòng.
Viết về tôn giáo là một điều không dễ dàng và dễ hiểu. Lại viết về chiêm niệm và thiền Công giáo thì quả là một đề tài vô cùng khó khăn, khó hiểu và khó truyền cảm. Nhưng tác giả “Khúc Sáo Ân Tình” coi như đã thành công vì ông đã diễn tả những gì rất trừu tượng, rất “huyền bí,” rất xa xôi và sâu thẳm bằng những hình ảnh và lời văn thông thường của đời sống hằng ngày, những hình ảnh và lời văn mà mọi người dân quê Việt Nam đã quen thuộc từ lâu, vì nó đã ăn sâu vào lòng như những câu ca dao tục ngữ của cha ông truyền lại cho con cháu từ ngàn xưa thăm thẳm.
Tác giả không viết về những cuộc đời chiêm niệm và thiền qua nghiên cứu sách vở. Ông sống thật cuộc đời đó trước khi mô tả nó. Ông đã gặp được Thần Khí trước khi đưa Thần Khí vào văn chương. Có nghĩa ông là người biết thổi sáo - và thổi sáo hay - trước khi diễn tả tiếng sáo ngọt ngào, trầm bổng và quyến dũ cho người khác cùng thưởng thức, đưa họ vào một thế giới không phải của Tiên Nga, Ngọc Nữ như trong thơ của Thế Lữ, mà đưa họ vào thế giới Tình Yêu muôn thuở, đẹp như những rừng hoa không bao giờ tàn, và lung linh thơ mộng như vầng trăng không bao giờ lặn...
Con người không mô tả được cảnh đẹp của Thiên Ðường có thực mà chỉ mô tả được cảnh đẹp của Thiên Thai trong tưởng tượng. Linh mục Trần Cao Tường cũng chỉ mới cảm nhận được vẻ đẹp Thiên Ðường này. Ông chưa thực sự sống tràn ngập trong đó.
VÀO SA MẠC
Người ta thường nói: đạo Công giáo phát xuất từ sa mạc - sa mạc Sinai - nên trong lòng mỗi người Công giáo đều có một niềm nhớ nhung sa mạc và một tiếng gọi xa xăm trở về sống trong sa mạc. Nếu hình ảnh con trâu và lũy tre dẫn đưa người Việt tha hương về với quê hương đất nước nơi trần thế, thì hình ảnh sa mạc và ngọn núi Sinai dẫn đưa con người Công giáo về với nguồn gốc tôn giáo của mình.
Có lẽ chính vì vậy mà linh mục Trần Cao Tường, một nhà chiêm niệm và một “thiền gia” đã nhiều lần vào sống trong sa mạc.
Ngay trong phần mở đầu cuốn “Khúc Sáo Ân Tình,” tác giả cho biết ông đã có dịp vào sa mạc trống trong một thời gian dài ba mươi ngày để tĩnh tâm. Theo tác giả thì “đây là cơ hội cho mình nhìn lại cuộc sống, có bổng mà cũng có trầm, có đủ màu sắc hỉ nộ ái ố xanh vàng tím đỏ, có những lúc tâm hồn mọc cánh thênh thang, mà lại cũng trải qua những gai đoạn bị đục khoét lia chia mà chẳng hiểu tại sao...”
Chính sự đục khoét tâm hồn cho rỗng trống, chính những mâu thuẫn nội tâm trầm bổng đã kết lại thành một hòa khúc dịu êm, như hòa khúc mà Ðức Mẹ đã nghe được thiên thần báo tin sẽ sinh con Thiên chúa. Hòa khúc này, tác giả đặt tên nó al Vũ Khúc Tuyên Dương:
Chúa đã làm cho tôi muôn việc kỳ diệu
Người nâng cao những ai phận nhỏ.
Tác giả vào sa mạc để thấy con người của mình phận nhỏ li ti khi đứng trước cái mênh mông của đất trời. Và trong lúc tác giả cảm nghiệm được thân phận thấp hèn mong manh của mình như vậy là chính lúc Thần Khí Chúa mang một cây sáo trúc tặng cho ông để ông tấu lên thành “Khúc Sáo Ân Tình” ngay giữa lòng sa mạc.
Như vậy, độc giả người Việt đọc “Khúc Sáo Ân Tình” có thể kết luận được rằng nếu tác giả là người không biết thổi sáo trúc của người dân quê Việt Nam, và nếu tác giả không sống lâu ngày trong sa mạc bao la để thấy thân phận con người nhỏ bé li ti như hạt cát, và để nhìn lên trời cao chỉ thấy có trăng sao và những đám mây vần vũ, thì có lẽ ông không sáng tác được hòa khúc “Khúc Sáo Ân Tình.”
“Khúc Sáo Ân Tình” không phải chỉ là một tiếng sáo vẳng lên trời cao rồi lịm tắt. Cuốn sách in đẹp, trình bày mỹ thuật và đơn giản, dày trên 400 trang, gồm có 57 tiếng sáo nhỏ kết lại thành một bản Trường Ca Ân Tình làm say mê độc giả suốt mấy tiếng đồng hồ, nhất là vào những giờ thanh vắng đêm khuya khi ngoài trời có gió thổi và trên trời có một vài vì sao lấp lánh cô đơn, lạnh lẽo.
Lối viết và lối suy tư của tác giả làm cho người ta nhớ lại cuốn “Bread for the Journey" của linh mục nhà văn nổi tiếng thế giới Henri J.M. Nouwen, chuyên viết về tu đức. Cuốn sách này được chia thành 365 bài cho một năm, mỗi bài tự nó làmột đề tài suy niệm, rất súc tích và sâu sắc nhưng lại dễ hiểu và trong sáng như lối viết của Tân Ước.
Cuốn “Khúc Sáo Ân Tình” của linh mục nhà văn Trần Cao Tường với lối diễn tả nhìn thẳng vào vấn đề và diễn tả vấn đề đó bằng một lối hành văn gẫy gọn, mạch lạc, dễ hiểu, dùng nhiều hình ảnh, giai thoại và ẩn dụ rút ra từ Thánh Kinh, từ sách báo, từ đời sống của các nhà đạo đức, và rút ra từ chính cuộc đời của tác giả.
Ðây là một loại sách hiếm về chiêm niệm và Thiền Công giáo rất cần thiết trong đời sống ồn ào, phức tạp, đầy hoài nghi và lo sợ viển vông của nhiều người chúng ta đang sống trong một thế giới quá đầy đủ về tiện nghi vật chất, nhưng thiếu vắng những suy tư về tâm linh.
Nói tóm lại, cũng như linh mục tác giả Trần Cao Tường, mỗi người chúng ta phải trở về sa mạc để tìm lại nguồn gốc tôn giáo của mình và cho lòng mình cảm nghiệm thấy trống rỗng, cô đơn để đón nhận Thần Khí Chúa từ trời cao đầy hồn trí, như một cơn mưa rào.
Nguyễn Trọng