CN 18C : Tầm nhìn của ông phú hộ

(bài giảng của cha Hàm)

Tại Pa-lét-tin người ta thường đem những vấn đề tranh cãi đến xin các ra-bi phân xử. Đối với nhân vật trong đoạn này, ông coi Chúa Giê-su là một vị thầy có thế giá có thể giải quyết vấn đề cho ông. Nhưng Chúa Giê-su từ chối không muốn tham dự vào vấn đề tranh chấp về tiền bạc. Có những người đến với thẩm quyền tôn giáo không phải để xin những chỉ dẫn về đời sống thuộc linh, mà lại xin giải quyết những vấn đề vật chất. Chúa Giê-su không đáp lại yêu cầu này, không phải không nhạy cảm về những bất công có thể có trong phạm vi gia đình, nhưng Ngài không muốn can thiệp vào những việc không liên hệ trực tiếp đến sứ mạng cứu rỗi : "Này anh, ai đã đặt tôi làm người xử kiện hay người chia gia tài cho các anh ?"

Có thể câu trả lời này chứa đựng một thông điệp cho thời đại chúng ta, cảnh cáo chúng ta đừng lẫn lộn những nhiệm vụ của Giáo Hội và Nhà Nước. Địa hạt của Giáo Hội là thuộc linh, thẩm quyền của Giáo Hội không phải là để quyết định những vấn đề kinh tế và chính trị. Tuy nhiên Giáo Hội có những cống hiến và ghi khắc những nguyên tắc liên quan đến các vấn đề luân lý và quyết định về sự công bình và lẽ phải trong mọi lãnh vực nhân sinh.

Chúa Giê-su đã từ chối đứng ra "chia gia tài", nhưng Ngài đã nhìn sâu vào căn nguyên lời yêu cầu và thấy rằng người ấy đã bỏ qua luật lệ dân sự để đến nhờ một vị thầy tôn giáo giúp đỡ là do lòng tham lam thúc đẩy. Nhân cơ hội này Chúa chỉ dạy cho kẻ theo Chúa phải có thái độ nào đối với vấn đề vật chất, và Ngài dạy qua một câu chuyện. Câu chuyện về lão phú hộ ngu dại dạy ta rằng tiền của không tạo nên nội dung thật của sự sống, cho nên chỉ mải lo tìm kiếm vàng bạc mà quên Thiên Chúa là điều khờ dại.

Có hai điều đáng chú ý về người giàu này :

- Ông ta không hề nhìn xa hơn chính mình : không có dụ ngôn nào nhiều chữ "mình" như trong dụ ngôn này : "Hoa màu của mình, kho lẫm của mình, thóc lúa và của cải của mình, linh hồn của mình." Đó là những chữ rất khó nghe mà người ích kỷ hay dùng đến. Người giàu ích kỷ chỉ biết nỗ lực tập trung vào mình. Có lời phê bình nổi tiếng về người ích kỷ như sau : "Có quá nhiều cái tôi trong vũ trụ của hắn !" Khi người này đã có của cải dư dật, ông không bao giờ nghĩ đến việc chia sẻ. Tất cả thái độ của ông đi ngược lại hẳn với tinh thần Ki-tô giáo. Thay vì từ chối mình, ông ta lại bảo vệ mình một cách khiêu khích ; thay vì tìm hạnh phúc trong sự san sẻ, ông ta đã cố sức bám lấy hạnh phúc bằng cách bám chặt lấy của cải. Luật sống của John Wesley là tiết kiệm hết sức mình và ban phát hết sức mình. Khi ông ở Oxford ông có số lương là ba mươi bảng Anh một năm. Ông tiêu hai mươi tám bảng và cho đi hai bảng. Khi lương của ông tăng lên sáu mươi, rồi chín mươi, rồi một trăm hai mươi đồng một năm, ông cũng chỉ tiêu xài hai mươi tám bảng, còn bao nhiêu thì cho đi. Khi viên kế toán trưởng của công ty đồ gia dụng xin ông gửi bảng liệt kê những gì cần mua, ông trả lời "Tôi có hai thìa cà phê bạc tại Luân đôn và hai cái tại Bristol, đó là tất cả đồ bằng bạc mà tôi có hiện giờ, và tôi không mua thêm cái nào nữa trong lúc biết bao nhiêu người chung quanh tôi không có bánh ăn." Châm ngôn La-mã có câu : "Tiền bạc khác nào nước biển, ai càng uống nó thì càng khát thêm." Bao lâu người ta có thái độ giống như người giàu ngu dại thì người ta cứ ước ao được giàu thêm mãi -và đó là thái độ ngược với tinh thần Ki-tô giáo.

- Ông ta không hề nhìn xa hơn thế giới của mình. Mọi chương trình của ông ta chỉ đặt nền tảng cuộc sống lẩn quẩn trong thế giới của ông ta. Sau đây là cuộc đàm thoại giữa một chàng thanh niên ham hố và một ông lão hiểu đời :

Chàng nói : "Tôi sẽ học buôn bán." Ông lão hỏi : Rồi sao nữa ? Rồi sao nữa ? –"Tôi sẽ mở hiệu buôn." Rồi sao nữa ? –"Tôi sẽ dựng nên cơ nghiệp lớn !" Rồi sao nữa ? – “Tôi sẽ trở về già, hưu hạ và sống bằng tiền bạc của tôi !" Rồi sao nữa ? – “Ờ có lẽ một ngày kia tôi sẽ chết.” Rồi sao nữa ?

Câu hỏi sau cùng như một lưỡi dao. Người nào không hề nghĩ rằng có một thế giới bên kia thì người đó sẽ có ngày phải gặp một bất ngờ và cũng khủng khiếp.

Khi giải thích dụ ngôn này của Chúa, thánh Anatasiô đưa ra lời khuyên : "Ai sống như phải chết mỗi ngày – vì biết rằng cuộc sống này tự nó là tạm bợ, không chắc chắn - sẽ không phạm tội, vì lòng sợ hãi Chúa dập tắt một phần lớn lòng tham lam ; trái lại, ai nghĩ mình còn sống lâu sẽ dễ dàng để cho mình bị dục vọng cai trị."

Người Do-thái hay kể truyện dụ ngôn về A-lịch-sơn Đại đế. Vị danh tướng mệt mỏi vì đi bộ đường xa, bèn ngồi nghỉ bên bờ một suối kỳ lạ. Ông uống nước và cảm thấy sảng khoái lạ lùng. Ông nhúng cá muối vào nước cho đỡ mặn và ngạc nhiên khi thấy nước làm cho cá có vị ngon lạ thường. Ông tự nghĩ : “Chắc hẳn đây không phải là nước thường, nó phải phát xuất từ một kỳ diệu nào, ta phải lần đến tận nguồn xem sao." Ông đi mãi cho tới cổng thiên đàng. Cổng khóa, ông gõ cổng xin vào, nhưng bên trong chỉ có một tiếng đáp lại : "Ngươi không được vào đây, vì cổng này thuộc về Chúa." Vị đại tướng trả lời ngạo nghễ : "Ta là Chúa của trái đất. Ta là A-lịch-sơn chiến thắng, không mở cửa cho ta sao ?" – “Không, chúng ta chẳng biết kẻ chiến thắng nào hết. Chúng ta chỉ biết những người đã chiến thắng dục vọng thấp hèn của mình, chỉ những người công chính ngay thẳng, mới được vào thiên đàng.”

A-lịch-sơn giận dữ như điên cuồng, nhưng chẳng ảnh hưởng chi hết đến người giữ cổng thiên đình. Ông đổi ra o bế và hối lộ, nhưng vẫn vô hiệu, bèn nài nỉ lần chót : "Ta là vua lớn và được mọi nước suy phục. Dầu không cho ta vào thiên đàng, nhưng ít ra cũng cho ta vật gì đem về để chứng tỏ với người thế gian rằng ta đã được đến nơi chưa từng có ai đến.” Người gác cổng đáp : "Đây, hỡi tên khùng kia, ta cho ngươi điều ngươi xin, cầm về và tìm hiểu ý nghĩa của nó. Nó sẽ cho ngươi bài học khôn ngoan mà chưa từng có ai dạy ngươi. A-lịch-sơn vồn vã đưa tay nhận gói quà và vội vàng trở về trại quân mở ra coi. Lạ quá, trước mắt ông, chỉ là một mảnh sọ người. Giận dữ, ông quẳng mảnh xương xuống đất, la to : “Đây là quà tặng cho vị vua anh hùng sao ? Công ta lặn lội vất vả chỉ xứng như thế này sao ?” Nhưng trong đoàn tùy tùng có một người thông thái, ông khuyên vua : "Tâu đức vua, xin chớ khinh vật nhỏ bé này, nó có tính chất rất lạ kỳ đáng đức vua để ý. Hãy cân nó với vàng bạc báu vật của đức vua, thử xem bên nào nặng hơn.” Theo lệnh vua, họ đem cân tới, mảnh sọ một bên, còn bên kia chất vàng bạc, bảo ngọc … Lạ thay, xương vẫn nặng hơn. Người ta chất thêm vàng, bạc, bửu thạch nữa … Xương vẫn nặng hơn. Càng thêm bao nhiêu, mảnh xương càng nặng hơn bấy nhiêu !

Vua kinh ngạc : "Một mảnh sọ lại nặng hơn bấy nhiêu vàng bạc ! Có gì nặng hơn mảnh sọ này không ?” Nhà thông thái đáp : "Thưa có, chỉ một chút đất thôi." Ông liền lấy đất phủ lên mảnh sọ, lập tức, xương mất hết trọng lượng, nhảy bồng lên, bên vàng bạc hạ xuống. A-lịch-sơn la hoảng : "Cái này còn lạ hơn nữa !" Nhà thông thái giải thích : "Mảnh sọ này là lỗ mắt con người, dầu nhỏ bé, nhưng sự ham hố của nó không có giới hạn. Hết thảy của cải trần gian không làm no thỏa sự ham muốn của nó. Nhưng khi nó bị đất che phủ và chôn vùi trong mồ mả, thì sự ham hố trần thế của nó mới hết.

Chúa Giê-su phán : "Được lời lãi cả thế gian mà thiệt mất linh hồn nào được ích gì ? Hoặc lấy gì mà đổi được linh hồn mình ?"

Mới mấy ngày qua, ta mừng lễ thánh An-phong. Thánh Anphongsô có lẽ hiểu được điều này, khi chàng rởi bỏ toà án với câu nói : “Hỡi thế gian ta đã biết bộ mặt thật của ngươi rồi. Vĩnh biệt ngươi, hỡi pháp đình.” Và từ đó An-phong chọn Chúa.

Chúng ta noi theo nhà phú hộ kia hay nương theo vị thánh sáng lập dòng Chúa Cứu Thế ?

An-phong Nguyễn Công Minh ghi lại