MÔ HÌNH MẪU CỦA CÁC CỘNG ĐOÀN GIÁO HỘI CƠ BẢN

I. MỤC ĐÍCH

1. Giúp các học viên hiểu rõ các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản không phải tự dưng mà có trong các Giáo hội địa phương mà là kết quả của một quá trình trở về nguồn của Kitô giáo dưới tác động của Thánh Thần và của luồng gió đổi mới của Công đồng Vatican II. Một cách cụ thể thì các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản ngày nay là một nỗ lực đáng khen ngợi muốn phỏng theo và làm sống lại Cộng đoàn của Đức Giêsu với các môn đệ trong Phúc Am và Cộng đoàn tín hữu đầu tiên ở Giêrusalem trong Sách Tông đồ Công vụ.

2. Giúp các học viên thêm lòng mộ mến và tăng cường lòng khát khao muốn noi gương bắt chước các môn đệ và các tín hữu đầu tiên của Chúa Giêsu Kitô để xây dựng và tích cực tham gia các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản của Khu giáo hay Giáo họ, Hội đoàn.

II. TIẾP CẬN VẤN ĐỀ

Trước và sau Công đồng Vatican II trong Giáo hội nổi lên một trào lưu mới tìm về cội nguồn của Kitô giáo. Thánh Kinh và Thánh Truyền được quan tâm nhiều hơn trước bội phần. Chính lúc tìm về cội nguồn mà nhiều tín hữu khám phá ra giá trị và ý nghĩa của hai Cộng đoàn đầu tiên: Cộng đoàn của Đức Giêsu với các môn đệ trong Phúc Âm và Cộng đoàn các tín hữu đầu tiên trong Sách Tông đồ Công vụ. Hai cộng đoàn này được coi là khuôn mẫu, là gương điển hình, là nguồn cảm hứng cho các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản ngày nay.

1. Vậy theo bạn thì Cộng đoàn của Đức Giêsu với 12 tông đồ trong Phúc Am có những nét gì đặc biệt khiến người giáo dân ngày nay có thể bắt chước (hay làm sống lại) trong Giáo hội?

2. Và Cộng đoàn các tín hữu đầu tiên trong Sách Tông đồ Công vụ có những nét gì độc đáo, xứng đáng được coi là mô hình mẫu đối với các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản ngày nay?

III. HỌC HỎI TÌM HIỂU:

1. Cộng đoàn của Đức Giêsu với các Tông đồ hay Nhóm Mười Hai.

1.- Việc hình thành Cộng đoàn:

a) Dựa vào Tin Mừng Gioan, chúng ta biết được rằng những môn đệ đầu tiên của Đức Giêsu chính là các môn đệ thân tín của Gioan Tẩy Giả (1) : Đó là Anrê và Gioan. Anrê dẫn em mình là Simon (tức Phêrô sau này) và Gioan dẫn em mình là Giacôbê đến gặp Chúa Giêsu. Simon Phêrô và Giacôbê là môn đệ thứ ba và thứ bốn. Tiếp theo là Philíphê, cùng quê với Anrê và Simon Phêrô, rồi Nathanaen - qua Philíphê- được Đức Giêsu cho nhập vào Nhóm các môn đệ thân tín (2). Còn Phúc Am Mátthêu thì kể Anrê và Simon, Giacôbê và Gioan là bốn môn đệ đầu tiên. Mát-thêu cũng cho biết chính ông được Đức Giêsu mời đi theo Người khi ông đang thi hành công việc của một nhân viên thu thuế (3) .

b) Tin Mừng Máccô và Luca tường thuật một cách chi tiết và trang trọng việc Đức Giêsu lập Nhóm Mười Hai như sau:

* “Rồi Người lên núi và gọi đến với Người những kẻ Người muốn. Và các ông đến với Người. Người lập Nhóm Mười Hai, để các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng với quyền trừ quỉ(4).

* “Trong những ngày ấy, Đức Giêsu đi ra núi cầu nguyện và Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa. Đến sáng Người kêu các môn đệ lại, chọn lấy Mười Hai ông và gọi là Tông đồ (5).

Nhóm Mười Hai gồm: Simon Phêrô, Giacôbê và Gioan (con Dêbêđê), Anrê, Philípphê, Batôlômêô, Mátthêu, Tôma, Giacôbê (con Anphê), Tađêô, Simon (nhóm Quá Khích), và Giuđa Ítcariốt.

Trong tường thuật của mình, Máccô nêu mục đích của việc Đức Giêsu lập Nhóm Mười Hai (ở với Chúa + được Chúa sai đi rao giảng). Còn Luca thì cho biết danh xưng chính thức của Nhóm là Tông đồ (Apostolos = người được sai đi).

2)- Nếp sống của Nhóm Mười Hai:

Nhóm Mười Hai đã sống như một Nhóm truyền đạo lưu động nay đây mai đó theo gót Đức Giêsu. Thầy trò sống “tam cùng”: cùng ăn, cùng ngủ, cùng làm việc. Nhóm có lúc vui lúc buồn, lúc thành công lúc thất bại, lúc gắn bó lúc bất hòa, lúc no say lúc đói khổ. Các môn đệ được Đức Giêsu ban cho quyền trừ quỉ, chữa bệnh và rao giảng.

Đức Giêsu đã dày công huấn luyện các môn đệ của mình. Người kiên nhẫn chỉ vẽ cặn kẽ từng li từng tí cho các ông. Người dạy dỗ huấn luyện các ông không chỉ bằng lời nói mà còn và nhất là bằng hành động, bằng cách sống của Người. Đức Giêsu rất ưa thích việc chia sẻ tâm tình với các môn đệ. Đức Giêsu đã bộc lộ một tình yêu cao cả, vĩ đại với các môn đệ. Thậm chí Người coi họ là những người bạn tâm phúc (6) , Người hé mở những “bí mật” (mầu nhiệm) của Thiên Chúa cho họ.

2. Cộng đoàn tín hữu đầu tiên trong Sách Tông đồ Công vụ.

2.1 Từ hai bản văn của Sách Tông đồ Công Vụ.

a) “Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng. Mọi người đều kinh sợ, vì các Tông Đồ làm nhiều điềm thiêng dấu lạ. Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung. Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tùy theo nhu cầu. Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền Thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. Họ ca tụng Thiên Chúa, và được toàn dân thương mến. Và Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ.” (7) .

b) “Các tín hữu thời bấy giờ đông đảo, mà chỉ có một lòng một ý. Không ai coi bất cứ cái gì mình có là của riêng, nhưng đối với ho, mọi sự đều là của chung. Nhờ quyền năng mạnh mẽ Thiên Chúa ban, các Tông Đồ làm chứng Chúa Giêsu đã sống lại. Và Thiên Chúa ban cho tất cả các ông dồi dào ân sủng. Trong cộng đoàn, không ai phải thiếu thốn, vì tất cả những người có ruộng đất nhà cửa, đều bán đi, lấy tiền, đem đặt dưới chân các Tông đồ. Tiền ấy được phân phát cho mỗi người tùy theo nhu cầu(8) .

2.2 Đến nếp sống của Cộng đoàn các tín hữu đầu tiên.

a) Đời sống gắn bó với Chúa Giêsu Kitô và giáo huấn của Người:

Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông đồ giảng dạy

b) Đời sống hiệp thông, yêu thương, đoàn kết và san sẻ:

Luôn luôn hiệp thông với nhau, hiệp nhất với nhau, đồng tâm nhất trí, các tín hữu đông đảo mà chỉ có một lòng một ý, để mọi sự làm của chung, không ai phải thiếu thốn

c) Đời sống phụng vụ bí tích:

Siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, họ làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ

d) Đời sống cầu nguyện:

Cầu nguyện không ngừng, chuyên cần đến Đền Thờ, họ ca tụng Thiên Chúa”,

đ) Đời sống mang dấu ấn của Thiên Chúa:

Mọi người đều kinh sợ, vì các Tông Đồ làm nhiều điềm thiêng dấu lạ. Và Thiên Chúa ban cho tất cả các ông dồi dào ân sủng

e) Đời sống chứng tá và lôi cuốn người khác:

Các Tông Đồ làm chứng Chúa Giêsu đã sống lại, họ được toàn dân thương mến

g) Đời sống cộng đoàn phát triển:

Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người cứu độ”.

3. Các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản mô phỏng Cộng đoàn của Đức Giêsu với các tông đồ và Cộng đoàn tín hữu đầu tiên trong Sách Tông đồ Công vụ:

3.1 Các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản mô phỏng Cộng đoàn của Đức Giêsu với các tông đồ bằng cách làm nổi bật hai chiều kích:

a) Xem Đức Giêsu làm trung tâm, làm người lãnh đạo của Cộng đoàn. Do đó mọi người luôn nỗ lực tìm kiếm Chúa và Thánh Ý Người, qui chiếu về Người qua sinh hoạt chia sẻ Lời Chúa.

b) Thể hiện tính bình đẳng, liên đới trong anh em. Do đó mọi người luôn nỗ lực tìm kiếm Chúa và Thánh Ý Người, qui chiếu về Người qua sinh hoạt chia sẻ Lời Chúa.

3.2 Các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản mô phỏng Cộng đoàn tín hữu đầu tiên bằng cách làm nổi bật ba đặc điểm:

a) Gắn bó mật thiết với Đức Giêsu qua việc siêng năng nghe nói về Người, cầu nguyện, ca tụng Thiên Chúa, làm lễ bẻ bánh (Đời sống nội tâm, cầu nguyện, phụng vụ, bí tích).

b) Sống hiệp thông, thương yêu, đoàn kết, san sẻ giữa anh chị em trong Cộng đoàn để nâng đỡ nhau về tinh thần cũng như về vật chất. Chính đời sống huynh đệ này là một chứng tá sống động lôi cuốn nhiều người gia nhập Cộng đoàn.

c) Sống sứ mạng làm chứng cho Chúa Giêsu Phục Sinh. Làm chứng không chỉ với tư cách cá nhân mà còn và nhất là làm chứng với tư cách gia đình, cộng đoàn (9) qua các hoạt động đối ngoại hay các dấn thân phục vụ tha nhân (10) .

IV. ÁP DỤNG

1. Các bạn thử so sánh Cộng đoàn Giáo xứ của các bạn với Cộng đoàn tín hữu đầu tiên xem hai Cộng đoàn ấy giống và khác nhau ở những điểm nào?

2. Cộng đoàn Giáo xứ của các bạn cần phải làm