3.YÊU THƯƠNG LÀ HI SINH.
Ở đâu có yêu thương thì ở đó có hi sinh, và hi sinh là kết quả của sự yêu thương chân thật. Có thể có hi sinh mà không có yêu thương, nhưng không thể có yêu thương mà không có hi sinh, cho nên có thể nói hi sinh chính là hoa quả của yêu thương vậy.
Vì yêu thương nhân loại nên Chúa Cha đã hi sinh Con Một của mình là Đức Chúa Giê-su.
Vì yêu thương nhân loại tội lỗi, nên Đức Chúa Giê-su đã hi sinh mạng sống của mình để cứu chuộc nhân loại khỏi ách thống trị của sa-tan, đầu mối của tội lỗi. Và hi sinh đã trở thành điều kiện của tình thương chân thật đối với người thân cận, và khi Đức Chúa Giê-su bị đóng đinh trên thập giá, Ngài đã cầu xin lớn tiếng với Chúa Cha: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” . Thực ra không phải các kỳ mục của người Do thái, các thượng tế, các kinh sư và những người quá khích khác không biết việc họ làm đâu, họ biết quá đi chứ, nhưng chính vì để “bảo vệ” lề luật của cha ông khỏi phải bị “tên làm loạn phá hoại”, mà họ đã lên án tử cho Đức Chúa Giê-su, và như thế chính họ đã lỗi lề luật trước: “chớ giết người”.
Vậy mà, vì yêu thương mà Đức Chúa Giê-su đã bào chữa cho họ trước toà án công thẳng của Thiên Chúa, và giá trị hi sinh mạng sống của Ngài đã trở thành quan toà tuyên bố trắng án cho nhân loại tội lỗi, và cho cả những người lên án tử cho Ngài nữa, nếu họ biết nhìn nhận việc mình làm là sai trái, mà hối cải ăn năn.
Hi sinh là hiệu quả của yêu thương chân chính, hay nói cách khác, văn hoa hơn một chút: yêu thương là cây, và hoa quả chính là những việc làm hi sinh vậy.
Chàng và nàng yêu thương nhau, tình yêu nầy người ta có thể lấy “thước” để đo được, thước đây chính là sự hi sinh của chàng dành cho nàng, và của nàng dành cho chàng. Cây và quả tình yêu nầy cũng đẹp thật đấy, nhưng có thể nói, đây là một tình yêu ích kỷ, tình yêu có qua có lại, và trong một cách nhìn nào đó, chàng và nàng đều cố gắng làm cho đối tượng của mình thấy được tình yêu của mình dành cho họ bằng những hi sinh nhiều ít của mình, đây cũng là một tình yêu tự nhiên của con người.
Đức Chúa Ki-tô muốn người môn đệ của mình tiến xa hơn một bước trong tình yêu liên đới giữa người với người, bằng một lệnh truyền :
“Thầy ban cho anh em một điều răn mới
là anh em hãy yêu thương nhau ;
như Thầy đã yêu thương anh em.” . (1)
Yêu thương nhau như Đức Chúa Giê-su yêu thương chúng ta, mà tình yêu của Ngài đối với chúng ta không phải là một tình yêu như cha mẹ yêu thương con cái, cũng không phải như chàng và nàng yêu thương nhau, nhưng là một tình yêu vượt ra khỏi mọi tính toán của con người: hiến dâng mạng sống vì bạn hữu của mình (2) . Đó là một hi sinh to lớn mà không mọi khối óc khôn ngoan tài trí nào suy ra hay nghĩ tới, chỉ có Thiên Chúa là tình yêu, vì yêu thương nhân loại tội lỗi nên mới nghĩ ra phương pháp vĩ đại mà mầu nhiệm này, mầu nhiệm tình yêu nầy được thực hiện nơi bản thân Con Một của Ngài là Đức Chúa Giê-su, và nó đã trở thành một công thức thực hành trong đời sống của những người Ki-tô hữu: Yêu thương = Hi sinh + Thập giá.
Công thức nầy cũng được giải thích như thế nầy: có nghĩa là khi tôi cúi xuống để an ủi, giúp đỡ “người thân cận” (yêu thương), thì tôi phải hao tài tốn của, mất thời giờ quý báu của mình (hi sinh), và phải quên đi những luật lệ đang ràng buộc tâm hồn tôi trước những đau khổ của anh chị em, và như thế tôi sẽ bị người ta chê trách là không tuân giữ lề luật (thập giá). Đó chính là yêu thương “người thân cận” như chính mình vậy.
“Như Thầy đã yêu thương anh em”, hay nói cách khác “như Thầy đã hi sinh cho anh em”, cũng là nói lên một con tim biết rung động trước những đau khổ của người anh chị em mà sẵn sàng hi sinh tất cả thời giờ, tiền bạc, hi sinh những gì mình có như người Sa-ma-ri nhân hậu, để anh chị em được an ủi và để họ cảm thấy cuộc sống có ý nghĩa hơn. Yêu thương và hi sinh phải là chị em sinh đôi trong tâm hồn của người Ki-tô hữu, mặc dù nó là hai cụm từ khác nhau, nhưng luôn luôn hiện diện bên nhau. Khi nói đến yêu thương, thì hi sinh cũng đồng thời có mặt kề bên để làm cho hành động yêu thương được phong phú dồi dào hơn, cao quý hơn, và thiêng liêng hơn. Cũng như Đức Chúa Ki-tô đã trở nên mẫu gương tuyệt vời của lòng nhân hậu, Ngài đã dang tay ôm ấp tất cả mọi người vào trong trái tim vô cùng yêu thương của Ngài, và tình yêu thương vô cùng này đã được thể hiện bằng sự hi sinh vĩ đại: hi sinh mạng sống cho người mình yêu (3) , người yêu đó chính là mỗi một người trong chúng ta, là nhân loại tội lỗi, và cũng là những “người thân cận” của Đức Chúa Ki-tô.
Do đó, hi sinh chính là thước đo lòng nhân ái của mình đối với “người thân cận”, là mức độ yêu thương được thể hiện trong hành vi, ngôn ngữ của mình đối với anh chị em đồng loại, và cũng là hiệu quả của việc thi hành luật mới -luật yêu thương- nơi bản thân của chúng ta vậy.
(còn tiếp)
(1) Ga 13, 34.
(2) Ga 15, 13.
(3) Ga 15, 13.
------------------------
http://www.vietcatholic.net/nhantai
http://blog.yahoo.com/nhantai
jmtaiby@yahoo.com taibytw@hotmail.com
Ở đâu có yêu thương thì ở đó có hi sinh, và hi sinh là kết quả của sự yêu thương chân thật. Có thể có hi sinh mà không có yêu thương, nhưng không thể có yêu thương mà không có hi sinh, cho nên có thể nói hi sinh chính là hoa quả của yêu thương vậy.
Vì yêu thương nhân loại nên Chúa Cha đã hi sinh Con Một của mình là Đức Chúa Giê-su.
Vì yêu thương nhân loại tội lỗi, nên Đức Chúa Giê-su đã hi sinh mạng sống của mình để cứu chuộc nhân loại khỏi ách thống trị của sa-tan, đầu mối của tội lỗi. Và hi sinh đã trở thành điều kiện của tình thương chân thật đối với người thân cận, và khi Đức Chúa Giê-su bị đóng đinh trên thập giá, Ngài đã cầu xin lớn tiếng với Chúa Cha: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” . Thực ra không phải các kỳ mục của người Do thái, các thượng tế, các kinh sư và những người quá khích khác không biết việc họ làm đâu, họ biết quá đi chứ, nhưng chính vì để “bảo vệ” lề luật của cha ông khỏi phải bị “tên làm loạn phá hoại”, mà họ đã lên án tử cho Đức Chúa Giê-su, và như thế chính họ đã lỗi lề luật trước: “chớ giết người”.
Vậy mà, vì yêu thương mà Đức Chúa Giê-su đã bào chữa cho họ trước toà án công thẳng của Thiên Chúa, và giá trị hi sinh mạng sống của Ngài đã trở thành quan toà tuyên bố trắng án cho nhân loại tội lỗi, và cho cả những người lên án tử cho Ngài nữa, nếu họ biết nhìn nhận việc mình làm là sai trái, mà hối cải ăn năn.
Hi sinh là hiệu quả của yêu thương chân chính, hay nói cách khác, văn hoa hơn một chút: yêu thương là cây, và hoa quả chính là những việc làm hi sinh vậy.
Chàng và nàng yêu thương nhau, tình yêu nầy người ta có thể lấy “thước” để đo được, thước đây chính là sự hi sinh của chàng dành cho nàng, và của nàng dành cho chàng. Cây và quả tình yêu nầy cũng đẹp thật đấy, nhưng có thể nói, đây là một tình yêu ích kỷ, tình yêu có qua có lại, và trong một cách nhìn nào đó, chàng và nàng đều cố gắng làm cho đối tượng của mình thấy được tình yêu của mình dành cho họ bằng những hi sinh nhiều ít của mình, đây cũng là một tình yêu tự nhiên của con người.
Đức Chúa Ki-tô muốn người môn đệ của mình tiến xa hơn một bước trong tình yêu liên đới giữa người với người, bằng một lệnh truyền :
“Thầy ban cho anh em một điều răn mới
là anh em hãy yêu thương nhau ;
như Thầy đã yêu thương anh em.” . (1)
Yêu thương nhau như Đức Chúa Giê-su yêu thương chúng ta, mà tình yêu của Ngài đối với chúng ta không phải là một tình yêu như cha mẹ yêu thương con cái, cũng không phải như chàng và nàng yêu thương nhau, nhưng là một tình yêu vượt ra khỏi mọi tính toán của con người: hiến dâng mạng sống vì bạn hữu của mình (2) . Đó là một hi sinh to lớn mà không mọi khối óc khôn ngoan tài trí nào suy ra hay nghĩ tới, chỉ có Thiên Chúa là tình yêu, vì yêu thương nhân loại tội lỗi nên mới nghĩ ra phương pháp vĩ đại mà mầu nhiệm này, mầu nhiệm tình yêu nầy được thực hiện nơi bản thân Con Một của Ngài là Đức Chúa Giê-su, và nó đã trở thành một công thức thực hành trong đời sống của những người Ki-tô hữu: Yêu thương = Hi sinh + Thập giá.
Công thức nầy cũng được giải thích như thế nầy: có nghĩa là khi tôi cúi xuống để an ủi, giúp đỡ “người thân cận” (yêu thương), thì tôi phải hao tài tốn của, mất thời giờ quý báu của mình (hi sinh), và phải quên đi những luật lệ đang ràng buộc tâm hồn tôi trước những đau khổ của anh chị em, và như thế tôi sẽ bị người ta chê trách là không tuân giữ lề luật (thập giá). Đó chính là yêu thương “người thân cận” như chính mình vậy.
“Như Thầy đã yêu thương anh em”, hay nói cách khác “như Thầy đã hi sinh cho anh em”, cũng là nói lên một con tim biết rung động trước những đau khổ của người anh chị em mà sẵn sàng hi sinh tất cả thời giờ, tiền bạc, hi sinh những gì mình có như người Sa-ma-ri nhân hậu, để anh chị em được an ủi và để họ cảm thấy cuộc sống có ý nghĩa hơn. Yêu thương và hi sinh phải là chị em sinh đôi trong tâm hồn của người Ki-tô hữu, mặc dù nó là hai cụm từ khác nhau, nhưng luôn luôn hiện diện bên nhau. Khi nói đến yêu thương, thì hi sinh cũng đồng thời có mặt kề bên để làm cho hành động yêu thương được phong phú dồi dào hơn, cao quý hơn, và thiêng liêng hơn. Cũng như Đức Chúa Ki-tô đã trở nên mẫu gương tuyệt vời của lòng nhân hậu, Ngài đã dang tay ôm ấp tất cả mọi người vào trong trái tim vô cùng yêu thương của Ngài, và tình yêu thương vô cùng này đã được thể hiện bằng sự hi sinh vĩ đại: hi sinh mạng sống cho người mình yêu (3) , người yêu đó chính là mỗi một người trong chúng ta, là nhân loại tội lỗi, và cũng là những “người thân cận” của Đức Chúa Ki-tô.
Do đó, hi sinh chính là thước đo lòng nhân ái của mình đối với “người thân cận”, là mức độ yêu thương được thể hiện trong hành vi, ngôn ngữ của mình đối với anh chị em đồng loại, và cũng là hiệu quả của việc thi hành luật mới -luật yêu thương- nơi bản thân của chúng ta vậy.
(còn tiếp)
(1) Ga 13, 34.
(2) Ga 15, 13.
(3) Ga 15, 13.
------------------------
http://www.vietcatholic.net/nhantai
http://blog.yahoo.com/nhantai
jmtaiby@yahoo.com taibytw@hotmail.com