Truyền thống thanh tẩy có nhiều trong các tôn giáo, hay trong các truyền thống tâm linh. sự kiện này được ghi dấu theo nhiều hình thức khác nhau, nhưng có cùng một mục đích gột tẩy những cũ kỹ nặng nề để vươn mình tới linh thiêng, siêu thoát hơn khỏi những ràng buộc của sự xấu.

I Thanh Tẩy trong Truyền thống tâm linh và tôn giáo.

1. Truyền thống tâm linh. Một phần lớn kinh nghiệm trong các truyền thống tâm linh, chính là việc nhận ra những đổ vỡ hay sự rạn nứt mối quan hệ giữa con người và thực tại linh thiêng, giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên. Xem xét các huyền thoại, sự đổ vỡ là kinh nghiệm phổ biến nhất trong các truyền thống tâm linh của các dân tộc. Trong một số huyền thoại của vài bộ lạc Châu Phi, người ta thấy rằng xưa kia con người sống rất gần với thần linh, trong vườn địa đàng. Do một số lỗi lầm của con người, thần linh đuổi con người ra khỏi nơi ấy, hoặc thần linh phải bỏ đi, khiến con người lâm vào cảnh lầm than chết chóc. Rất nhiều thần thoại thuật lại sự đổ vỡ của con người.

Người Việt thì có những truyện:

Thần thoại Thái: Ngày xưa đất trời liên lạc với nhau bằng một cây song lớn, nhờ đó mà dân lên trời, dưới đất giao thiệp được với nhau.

Trên mặt đất có một người đàn bà goá có một người con trai thường đi lại trên trời, một hôm mẹ đập lúa gọi con về giúp, nhưng nó cứ ở lại trêntrời, bà giận lấy mác chặt đứt cây song, từ đó đường đi lại giữa trời và đất không còn nữa.

- Thời ấy, cây cối, loài vật đều biết nói; ông trới giả vờ chết để thử lòng xem đứa nào còn trung thành với ông. tất cả đều nói: Ông tổ chết rồi chúng ta tha hồ theo ý mình.

- Con người được rùa dậy cho nên nói: Ông trời chết rồi, tôi không còn chốn ở, ông tổ chết rồi tôi không có gì ăn. trời thấy vậy cho người được phép ăn các muông thú.

- Truyện về sáng tạo: Khi mặt đất khô ráo rồi, chữ làu lấy một nắm đất nặn thân hình con người đầu tiên, hả sinh khí vào miệng, cho hồn vào bụng và tiếng nói ở cổ họng. Sau đó chữ làu đưa đến cho người đàn ông một người đàn bà, để hai bên lấy nhau. Chữ Làu làm ra thực phẩm để nuôi sống họ và gia súc cho họ dùng, nhưng vẫn để họ trần truồng, Chữ Làu giao tiếp thẳng với họ ban ngày. Đến sau này chữ làu chỉ họ biết ý qua trung gian một người nữ hiện ra trong mộng.

Loài người trở nên đông đúc trên mặt đất, họ nuối tiếc những lạc thú ở vườn Giu - Giang - ka, mới quyết định trở lại tìm. họ rủ nhau làm một cây tháp thật cao để trèo lên trời. Chữ Làu thấy vậy nghĩ rằng sở dĩ loài người có thể xây được cái tháp đó vì tất cả đều nói một thứ tiếng và ở một chỗ, vậy phải phân tán họ đi khắp mặt đất và bắt họ phải nói nhiều thứ tiếng khác nhau. Chữ Làu bèn dùng sét đánh tất cả những người trèo lên trời. từ ngày đó mỗi gia đình có một thứ tiếng khác nhau, người ta không còn hiểu nhau được nữa nên phải phân tán ra mọi nơi.

- Vườn địa đàng Đông Phương: Chữ Làu sáng tạo nên con người, không chết ai cũng sống 9000 năm rồi chết để vào vườn cực lạc gọi là Giu - Giang - Ka. Sau 12 hôm thì lột xác như rắn sống lại trẻ trung. Sau đó một mẹ chồng trở lại bị con dâu rủa về làm chi. mẹ chồng tức quá trở lại vườn Giu - Giang - ka và ăn trái cấm mà chữ Làu cấm. từ đó chữ làu không cho con người vào vườn nữa, con người phải chết và chết luôn. Ban đầu ruộng đất sản sinh ra nhiều loại hoa trái, nhưng từ ấy con người phải vất vả làm việc mới có cái để ăn. Đó là nguồn gốc của nước mắt, mồ hôi, thẹn thùng và cũng là nguồn gốc của sự chết.

Giải huyền:

Nguồn gốc của con người được Trời sinh ra và được sống hạnh phúc, không phải lao nhọc và chết.

Con người bất trung với thần linh, nên chịu đoạ đày và phải chết.

Khi con người sống đổ vỡ tương quan với thần linh thì cũng đổ vỡ tương quan sống với nhau.

Sự đổ vỡ là cắt đứt mối tương quan. Từ đó con người lẩn tránh thần linh, cuộc lẩn tránh đó đạt điểm khi khai tử thần linh, chối bỏ nguồn gốc của mình.

Để tránh những đổ vỡ ở cực điểm, con người cần có một lối thoát, lối thoát ấy là con đường thanh tẩy. Con người muốn trở lại với thần linh cần trải qua một giai đoạn thanh tẩy, gột bỏ vật dục để nên trinh trong trước khi diện kiến thần linh.

2. Thanh tẩy.

Cây tre, được biểu hiện cho việc đổ rỗng tâm linh, càng vươn lên cao, càng rỗng ruột. Làm trồng tâm là một hình thức khá phổ biến trong nền văn hoá Đông Phương. “Làm trống tâm” là một kinh nghiệm về cái chết tạm thời trong thời gian, có phương pháp cổ xưa như hình thức Yoga, hình thức này được áp dụng vào “Thiền”; hình thức “ở ẩn” tránh những giao tiếp thường ngày...

Kinh nghiệm thanh tẩy là ý thức về sự dơ bẩn cần được tẩy rửa sạch sẽ, từ đồ vật đến tâm linh, trong truyền thống tâm linh là kinh nghiệm về trạng thái dứt bỏ và phục hồi, cũng là giai đoạn của Kenosis và plerosis

Đông Phương đề cao việc “Đổ rỗng”, đó là thời kỳ Kenosis, thời kỳ đổ rỗng tâm linh để hồi sinh, trút bỏ lối đường cũ để sống đời sống mới. Trong thực hành kenosis có nhiều hình thức, một trong những nghi thức phổ biến nhất là tẩy rửa, thanh lọc các uế tạp của đời sống cá nhân cũng như tập thể, thú tội và sám hối, tách ly với cuộc đời đang sống để tịnh tâm. Tại một số cách thức của những dân tộc Á Châu hay Châu Phi, để bước qua một tuổi thiếu niên, một người phải đi vào rừng sâu để lột xác. Tại Thái Lan, những thiếu niên bước vào tuổi thanh niên phải trải qua ba năm ở trong một ngôi chùa nào đó. Đó là thời kỳ Kenosis, thời kỳ đổ rỗng, dứt bỏ hiện tại, cuộc sống thường ngày, đang trong thời kỳ ấy người ta gọi là thời kỳ limen (liminal state), sau đó khi bước ra khỏi rừng sâu trở về với cuộc sống người thiếu niên đã được chứng nhận là trưởng thành, đó là thời kỳ Plerosis. Trong rừng sâu người thiếu niên phải giũ bỏ hết những gì đang có, để một mình đối diện với chính mình, một mình đối diện với thiên nhiên và một mình đối thoại với Đấng linh thiêng.

Truyền thống thanh tẩy có nhiều trong các nền văn hoá, nó được biểu lộ qua các hình thức lễ hội, những hình thức sám hối, lễ tế.

Trong lịch sử Việt Nam, kể từ thời nhà Lý (1010 - 1225), đàn Nam Giao đã được thiết lập tại Kinh đô Thăng Long để tế trời.

Chỉ một mình vua có bổn phận thay cho dân để tế trời, trước khi tế lễ, nhà vua phải thanh tẩy tại Trai cung, khi việc tế tự đã xong nhà vua phải trở về Trai cung để báo cáo về việc tế tự đã đựơc thực hiện đầy đủ và trang nghiêm.

Hình thức thanh tẩy của các dân tộc ven các sông lớn thường là gắn liền chay tịnh với việc tắm rửa trong dòng sông để việc tẩy uế được hòan tất. Nhiều thế kỷ trước công nguyên ở các việc thờ thần Isis, Mithras, Attis.. ở Ai Cập và ngoài Ai Cập người ta vẫn thực hành việc tắm rửa trước khi thờ thần linh.

Qua các hình thức thanh tẩy người ta thấy con người có ý thức về cõi thiêng. Cõi thiêng ấy là nơi tinh khôi của ngày mới tạo dựng, con người sống hoà hợp với thiên nhiên, với nhau và với thần linh. Qua thanh tẩy con người muốn diễn tả ước muốn trở về với thần linh.

3. Thanh Tẩy trong tôn giáo.

Từ truyền thống tâm linh tiến đến hình thành những tôn giáo là bước tiến triển chuyển giai đoạn từ những ý niệm thông thường về thanh tẩy đến nghi thức thanh tẩy trong tôn giáo. Trở thành một nghi thức nên có một trình tự thực hiện ấn định trước mỗi thời kỳ thực hành lễ.

Ý niệm trong sạch và nhơ uế là một thành phần rất quan trọng trong đời sống của người Ấn Giáo. Các thần linh cao nhất phải được giai cấp Bà la Môn thờ phụng, bởi chỉ có giai cấp này là hội đủ điều kiện thuần khiết tế lễ. một giáo sỹ Bà La Môn cấm không được đụng chạm đến giai cấp thấp hơn, nếu như vậy là mắc ô uế. Một người nữ đang thời kỳ kinh nguyệt không được tham gia vào việc chuẩn bị lễ vật cúng. Các nghi lễ hiến tế quy định trong Kinh Veđa cũng như chính Kinh Veđa. Nghi lễ cổ xưa nhất trong kinh Veđa là nghi lễ tế lửa trong gia đình gọi là Agnihotra, các tín đồ một ngày thực hành hai lần. Tuỳ thuộc và khuynh hướng cá nhân, giai cấp hay tập quán gia đình, các tín đồ Ấn Độ giáo thực hành một loạt các nghi lễ cúng hằng ngày đa dạnh. Một tín đồ thành tâm sẽ thức dậy vào lúc mặt trời mọc để trầm tư quán tưởng về các phẩm chất thuộc thần linh, tắm rửa thanh tịnh, thực hành lễ tế, sau đó mới ăn sáng. Các nghi lễ tế tự Veđa dành cho ba giai cấp cao (Brahmin, Kshatriya, Vaishya), còn Puja dành cho các giai cấp không phân biệt. Tiết điệu và thời gian thiêng liêng tại Ấn Độ diễn ra hằng ngày, hằng tuần, hằng tháng và hằng năm. Nghi thức tắm rửa trước khi tế lễ, các tín đồ không tắm trong bồn hoặc bể mà tắm trên một dòng sông chảy, hoặc bằng cách dội nước lên người.

Con đường toàn giác của Đức Phật. Đức Phật sanh vào khoảng năm 563 TCN trong một bộ lạc Shakya miền Bắc Ấn. Sáu năm trôi qua trong thời gian vị hoàng tử bỏ cung thành để kiếm tìm chân lý. Ngài theo phái Yoga với hai bậc thầy và mau chóng đạt tới mức thầy trong phương pháp, ngài không tìm thấy con đường chân lý tối hậu trong phương pháp này và chuyển qua thể chế tu hành xác. Giống như vị Đại sư Mahavira và các đệ tử đạo Kỳ Na đã làm, bằng cách nhịn đói và chối bỏ hầu hết các nhu cầu tối thiểu của cuộc sống. đến một lúc đói lả ngài nghiệm ra một điều: Đây không phải là con đường đạt tới chính định, giác ngộ và giải thoát… Con đường tìm chân lý cần phải tỉnh thức, trí tuệ phải mẫn, và thống nhất mới mong đạt được. thế là ngài chọn con đường trung đạo. cũng vào trong thời gian đó, với sự chỉ dẫn của thần linh, một cô gái chăn bò tên là Nan đà (Sujata) đã đem sữa dâng lên Đức Phật. Ngài nhận rồi tắm rửa và vào cuộc thọ trai, ngồi dưới gốc cây Bồ Đề để Đạo tràng mong thực hiện được một giải pháp tối hậu: “Thân ta sẽ rữa nát tại đây, nếu không đạt được tới chánh giác”. Cuộc chiến giằng co bắt đầu diễn tiến giữa sự chết là một cực của đam mê dục vọng và con đường giác ngộ. Tất cả quyền lực của bóng tối bị đẩy lui nhờ công đức tu hành của ngài. Vào đêm rằm đầu tiên ngài đã đạt được tới toàn giác. Trong thời khắc đó, Đức Phật đã thấy được toàn bộ các tiền kiếp của mình và mọi sinh linh đau khổ bất tận, tiếp sau là một tuệ nhãn luân hồi khiến ngài phát tâm từ bi, sau cùng là một tuệ nhãn tri kiến những nhân quả của tử sinh và con đường dẫn tới chấm dứt phiền não.

Các lễ hội lớn của Phật Giáo. Tại các nước tiểu thừa, Tết năm mới vào mùa khô và vạn vật chuyển mình nảy nở, đây cũng là lúc người ta rũ bỏ những điều xâu của năm qua và sống một năm mới. Hai ngày đầu tiên được tổ chức như một lễ hội hoá trang - trong đó là hội nước, nước tẩy sạch mọi vết nhơ, cũ kỹ. Bên cạnh việc tẩy rửa về tinh thần còn là hội vui người ta té nước vào nhau. Ngày thứ ba là ngày đảnh lễ, giữ giới thờ Phật, vào ngày này người ta hay mua những con chim bị bắt để phóng thích.

Ngoài lễ hội ngày đầu năm, người Phật Giáo còn có ngày mừng sinh nhật của Đức Phật gọi là ngày Phật Đản. Trong ngày này, người Phật Giáo có nghi thức Tắm Phật, Lễ hội này được tổ chức vào ngày rằm tháng Năm, Người ta tin rằng sau khi Phật sinh, ngài được thần linh tắm cho bằng nước thơm. Ngoài ra còn các kỳ lễ khác nhau được sắp xếp theo chu kỳ mặt trăng vào ngày 1 và 15, trong tháng theo Âm lịch. Các Mùa thì có Mùa An cư Kiết hạ, tuỳ theo từng quốc gia Phật giáo, mùa an cư bắt đầu vào mùa mưa cho đến hết mùa mưa. Tại Việt Nam mùa an cư kiết hạ từ rằm tháng Ba đến Rằm tháng Bảy. Trong Mùa này các vị tu hành tụ họp trong các chùa, tránh ra ngoài, để dành thời gian tụng niệm, học hỏi Kinh Sách, tiến tấn trong đạo tâm. Mùa Vu lan báo hiếu vào rằm tháng bảy là ngày tết của các vị tu sĩ.

Thờ kính tổ tiên tại Việt Nam là một tín ngưỡng được thực hành ở nhiều tôn giáo, hoặc tại gia đình, nghi thức thanh tẩy, chú trọng vào việc thực hành những nghi thức vòng đời người giữa sinh và tử.