NGUYÊN NHÂN XUẤT HIỆN & TẦM QUAN TRỌNG CỦA CÁC CỘNG ĐOÀN GIÁO HỘI CƠ BẢN TRONG GIÁO HỘI NGÀY NAY

I. MỤC ĐÍCH

1. Giúp các học viên hiểu rõ nguyên nhân làm phát sinh các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản trong các giáo xứ khắp nơi trên thế giới trong mấy thập niên gần đây, vì người ta thường nói “Biết nguyên nhân mới gọi là biết”

2. Giúp các học viên nhận ra vai trò quan trọng của các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản này trong đời sống các giáo xứ và Giáo hội địa phương ngày nay để họ quan tâm đến việc xây dựng các cộng đoàn ấy trong khu vực sống của mình.

II. TIẾP CẬN VẤN ĐỀ

Theo một tài liệu về Công giáo Á châu mà tôi đã được đọc cách đây mấy năm thì 100 % tín hữu thuộc 121 giáo xứ thành phố Seoul (Hàn Quốc) đều thuộc các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản. Còn tại Philíppin thì trong một số giáo phận có hơn 50 % giáo dân thuộc các cộng đoàn như thế. Tại hội nghị về Phúc âm hóa của Đài Loan mới đây, đại đa số các đại biểu đã nhất trí ủng hộ việc thiết lập các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản và coi đó là một trong ba mục tiêu chính của ba năm sau đó: ”Một mục tiêu đề ra cho đời sống nội bộ của Giáo hội Đài Loan là việc thiết lập các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản.” Các đại biểu ấy cũng xác nhận rằng: “Trong hội nghị, Chúa Thánh Thần đã cho chúng tôi cảm nghiệm sâu sắc về Giáo hội như một “đàn chiên nhỏ” (Lc 12,32). Nếu đàn chiên nhỏ này được tràn đầy tinh thần Tin Mừng và hiệp nhất trong yêu thương như là một Cộng đoàn đức Tin (Ga 10,16) thì Cộng đoàn ấy chẳng những sẽ lôi kéo các cá nhân vào đoàn chiên mà còn trở nên công cụ cho việc Phúc âm hóa xã hội Trung Hoa nữa(1).

Ở một hội nghị cao hơn nữa là của Liên Hội đồng Giám mục Á châu (FABC: The Federation of Asian Bishops Conferences) thì trong hội nghị về các Thừa tác vụ trong Giáo hội, được tổ chức tại Hồng Kông vào ngày 5 tháng 3 năm 1977, các đại biểu của các Giáo hội Á châu cũng đã bỏ phiếu tán thành chiến lược xây dựng các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản cho toàn Giáo hội Á châu (2).

1. Vậy theo bạn thì do đâu mà các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản xuất hiện trong Giáo hội ở khắp các châu lục (Mỹ châu, Au châu, Á và Phi châu…) trong những thập niên vừa qua?

2. Dựa vào định nghĩa và các hoạt động của các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản đã được trình bày trong đề tài 01, bạn có thể hình dung được các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản ấy quan trọng như thế nào đối với các giáo dân tham gia các Cộng đoàn ấy cũng như đối với Giáo xứ nói riêng và Giáo hội địa phương nói chung?

III. TÌM HIỂU:

1. Do đâu mà các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản xuất hiện trong lòng các Giáo hội (cụ thể là ở các Giáo xứ)?

Khi nói về nguyên nhân khiến các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản xuất hiện trong Giáo hội, Đức Giám mục Phaolô Shan, Dòng Tên, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Đài Loan đã tóm tắt như sau:

Các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản này đáp ứng nhu cầu căn bản của con người thời nay. Các Cộng đoàn ấy cổ võ sự phát triển thiêng liêng và sự tham gia vào sứ mạng tông đồ giữa các tín hữu. Các Cộng đoàn ấy còn làm sống lại nền văn hóa Trung Hoa là nền văn hóa đặt nền tảng trên gia đình. Các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản ấy dã thực sự trở thành dấu chỉ thời đại(3).

Còn trong phần kết luận của cuộc tòa đàm về các Thừa tác vụ trong Giáo hội tại Hồng Kông kể trên chúng ta có thể tìm thấy nguyên nhân tại sao các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản được hình thành:

số 41. Tại nhiều nơi ở Á châu ngày nay người ta cảm nhận cách mạnh mẽ hơn nhu cầu thành lập các Cộng đoàn Kitô cơ bản. Dân chúng đang cho thấy họ có nhu cầu về một loại cộng đồng xã hội cơ bản qui tụ các thành viên lại với nhau và họ có thể diễn tả mối tương quan liên vị thực sự và cảm nhận mình thuộc về một cộng đoàn. Có nhiều hình thái khác nhau đang phát triển dẫn tới việc làm cho mọi người tham gia trọn vẹn hơn vào đời sống Kitô hữu. Các nhóm này không phải là phương thế duy nhất để tham dự vào đời sống của Giáo hội; nhưng dường như Thánh Thần đang thúc đẩy Giáo hội cách mạnh mẽ đi vào hướng đi này.

“số 42. Các Cộng đoàn Kitô cơ bản này được thành lập để đáp ứng các nhu cầu và các hoàn cảnh như sau:

i. Nhiều khi các cơ cấu hiện hữu của giáo xứ không dẫn tới một đời sống Kitô hữu intensive. Các cơ cấu ấy trở nên bất cập trong việc đáp ứng các nhu cầu ngày càng phát triển của dân Chúa.

ii. Dân quá đông và ở quá rải rác so với số các linh mục có thể thực hiện các thừa tác vụ cho họ.

iii. Dân chúng cần thuộc về một cộng đoàn nào đó và cần sự hỗ trợ, nhất là trong môi trường không Kitô giáo.

iv. Dân chúng muốn có trách nhiệm hơn đối với Giáo hội của mình và có muốn đáp ứng các thừa tác vụ mới để phục vụ các Cộng đoàn Kitô nhỏ.

v. Khẩn trương cần có những chứng tá trong cộng đoàn giữa những cuôc đấu tranh có tính ý thức hệ tại Á châu
. (4)

Vậy chúng ta có thể rút ra những yếu tố được xem như là nguyên nhân hình thành của các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản như sau:

1.- Các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản thỏa mãn những ước vọng thâm sâu của con người, chống lại khuynh hướng chung của thời đại là tạo nên những cá nhân theo một khuôn mẫu có sẵn, thậm chí biến con người thành sản phẩm của xã hội, theo một mô hình đồng nhất. Con người ngày nay, nam cũng như nữ, không ai muốn mình bị nhận chìm hoặc bị cuốn hút hoàn toàn bởi đám đông của các cộng đồng lớn. Họ mong muốn được nhìn nhận như các cá nhân và muốn được quan tâm tới khi người ta đưa ra quyết định nào đó. Càng ngày càng có nhiều người ý thức được rằng họ có trách nhiệm về những vấn đề ảnh hưởng trên xã hội như vấn đề hòa bình, vấn đề môi trường sinh thái, vấn đề quyền con người… Họ mong đợi được tham gia cách tích cực vào cuộc chơi là cuộc sống.

2.- Trong Giáo hội cũng có ý thức ngày càng lớn, nơi nhiều giáo dân nam nữ, về trách nhiệm của mỗi chi thể đối với lợi ích của anh em chị em mình, nhằm thực hiện được sứ mạng của Giáo hội trong thế giới:

Nếu một bộ phận nào đau, thì mọi bộ phận cùng đau. Nếu một bộ phận nào được vẻ vang, thì mọi bộ phận vui chung” (1 Cr 12,26).

a) Điều này không thể thực hiện được trong một nhóm đông người. Cũng không thể thực hiện được trong một tập hợp vô danh như cả một giáo xứ. Chính đó là nguyên nhân khiến các Cộng đoàn Giáo hội căn bản ra đời. Cộng đoàn Giáo hội cơ bản sẽ chia cộng đồng lớn thành nhiều nhóm nhỏ, trong đó cá nhân:

* được nhìn nhận và yêu quí,

* phát triển nên người và thành Kitô hữu cách tốt hơn,

* có thể phục vụ tha nhân và chia sẻ với người khác bằng nhiều cách khác nhau hơn.

Nói cách khác các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản đang tác động cách tích cực, giúp Kitô hữu:

* trưởng thành trong đời sống đức Tin,

* thấy mình có trách nhiệm trong sứ mạng tông đồ.

b) Kitô hữu ngày nay giống như các Kitô hữu thời Giáo hội sơ khai, cần chia sẻ kinh nghiệm đầy hoan hỉ của cuộc sống trong Cộng đoàn Hội Thánh. Họ cảm thấy có nhu cầu cảm nghiệm tình Bác Ai Kitô sống động và thực sự giữa một nhóm bạn bè. Vì thế các Kitô hữu sung sướng gặp lại nhau, sung sướng cầu nguyện chung với nhau, sung sướng cùng nhau khám phá Thiên Chúa trong Thánh Kinh, sung sướng cùng nhau đi tìm ánh sáng của Chúa và ý nghĩa cuộc sống, sung sướng chia sẻ với nhau những niềm vui nỗi khổ của cuộc đời. Dưới sự hướng dẫn của Thánh Linh, họ cùng nhau lớn lên trong đức Tin và trong đức Ai, để trở thành một Đức Kitô sống động hiện diện trong thế giới hôm nay thông qua nhóm nhỏ.

Tình hữu nghị, niềm vui, tính đơn sơ, tình Bác Ai của họ sẽ lôi cuốn những ban bè mới là những người có thể đang tìm kiếm một ý nghĩa cho cuộc sống của mình, hoặc đang đi tìm một tình yêu đích thực trong đáy lòng họ, vì có thể họ cũng cảm thấy đơn độc, lẻ loi giữa lòng một thế giới lãnh lẽo và thiếu vắng tình thương này. Nhóm sẽ thu xếp để có thể giáo dục đức Tin cho bất cứ người nào mới tới mà lại quan tâm muốn tìm hiểu tại sao các Kitô hữu lại sống như thế. Những người tìm kiếm đức Tin thế này không bị đòi hỏi phải đến nghe một ông thày, nhưng được đề nghị tham dự vào một Cộng đồng sống động và dễ thương là Cộng đoàn niềm Tin Kitô. Chính họ sẽ cảm nghiệm thấy rằng đây là một cộng đoàn thân hữu trong Chúa. Con người thời nay dị ứng với thày dạy giáo thuyết; họ thích đi tìm các chứng nhân hơn. Họ không nghe một ông thày, trừ khi ông thày đó cũng là một chứng nhân.

c) Kinh nghiệm của nhiều Giáo hội cho thấy rằng dù trong một số giáo xứ, có rất nhiều tổ chức, đoàn thể như Legio Mariae, Cursillo, Thanh Lao Công, các nhóm học hỏi Kinh Thánh, các nhóm cầu nguyện Thánh Linh, Hội Thánh Vinh Sơn, Hội Focolarini… thì phần đông giáo dân trong giáo xứ vẫn chỉ là những cá nhân lẻ loi, không được quan tâm, thụ động, không dấn thân. Khi những tổ chức kể trên biến thành các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản thì lập tức các thành viên trở nên sống động và tích cực hăng say truyền Đạo.

d) Nhiều người Á châu tin rằng các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản là một hình thái lý tưởng cho việc tông đồ giữa những người Trung Hoa (và Việt Nam) vì rất phù hợp với những đặc tính xã hội của người Trung Hoa (và Việt Nam) là thích tập hợp thành nhóm bạn bè, thành hiệp hội trong một bầu khí gia đình.

Nói tóm lại nguyên nhân khiến các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản xuất hiện là do Thánh Thần tác động: Thánh Thần khơi dậy nơi tâm hồn các Kitô hữu ý thức sâu sắc về nhu cầu và khát vọng phát triển trong đời sống thiêng liêng và liên đới với con người, về trách nhiệm truyền giáo của một chi thể của Thân mình Chúa Kitô.

2. Tầm quan trọng của các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản.

Khi viết về giáo dân trong lịch sử Giáo hội, Linh mục F. Gomez Ngô Minh, Dòng Tên, đã nhắc đến vai trò của họ trong các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản (5) như sau:

Cuối cùng, có lẽ đặc thù nhất của thời đại là phong trào các Cộng đoàn cơ bản (Comunidades de base / Basic Christian Communities). Khởi sự tại Châu Mỹ La-tinh như một trào lưu “tư dưới lên”, các Cộng đoàn cơ bản đã lan dàn ra khắp thế giới như là hiện thân của quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh cho các quyền lợi căn bản của họ. Đó là một sáng kiến Công giáo, nhưng sau này không chỉ Tin lành mà cả đến các tôn giáo khác cũng đã lấy lại để tổ chức các cộng đoàn nhỏ làm phương tiện phát huy tinh thần huynh đệ và tương trợ giữa xả hội (6). Trong các Cộng đoàn cơ bản, giáo hữu quen nhau, cầu nguyện với nhau, chia sẻ Kinh Thánh và phát huy tinh thần huynh đệ nhằm đối phó với tình thế tôn giáo và xã hội. Trong các nhóm như thế, giáo dân và giáo sĩ hợp tác với nhau trong bối cảnh hàng xóm, nơi môi trường làm việc, v.v.; giáo xứ có thể giữ vai trò phối hợp các cộng đoàn. Cộng đoàn cơ bản giúp củng cố căn tính tôn giáo cho các thành viên cũng như giúp họ kháng cự những công kích tứ phía tinh thần tục hóa các, tôn phái quá khích, các tổ chức bóc lột và áp bức, v.v.. Quả vậy, các Cộng đoàn nhỏ này đã trở thành công cụ truyền giáo hữu hiêu vào bậc nhất. Khi các Kitô hữu là thiểu số, thò một cộng đoàn như thế là bối cảnh sống đạo cần thiết để có thể dễ dàng cảm nghiệm mầu nhiệm Giáo hội. Một cộng đoàn chưa phải là Giáo hội, song là một phần tử trong niềm hiệp thông Công giáo. Hiện có những Cộng đoàn Kitô giáo như thế ở thôn quê cũng như nơi thành thị, ở giữa giới tiện dân cũng như giữa giai cấp giầu có, trong các đại học cũng như giữa những người di dân mù chữ: đức tin chỉ là một cho mọi người và bất cứ ở đâu(7)

Vậy chúng ta có thể khẳng định các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản có tầm quan trọng chẳng những đối với bản thân những người giáo dân tham gia các Cộng đoàn ấy mà còn đối với cả Cộng đoàn Giáo hội địa phương nữa.

2.1 Đối với bản thân các giáo dân tham gia các Cộng đoàn ấy

Các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản được coi là môi trường tốt nhất cho người giáo dân trưởng thành và dấn thân trong đời sống đức tin. Trong các Cộng đoàn Giáo hội, người giáo dân có cơ hội thể hiện tính chủ động, tích cực trong việc tìm kiếm Anh sáng Lời Chúa cũng như trong việc thực thi đức bác ái huynh đệ và giới thiệu Tìn Mừng cho hết mọi người, nhất là những người cần đến sự quan tâm chăm sóc của những người yêu thương quảng đại.

2.2 Đối với giáo xứ nói riêng và Giáo hội địa phương nói chung:

Đối với các giáo xứ nói riêng và Giáo hội địa phương nói chung thì sự xuất hiện và hoạt động của các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản là một trang sử mới của Giáo hội. Theo tài liệu mà Oswald Hirmer trình bày tại Hội nghị toàn thể lần thứ 7 của Liên Hội đồng Giám mục Á châu (FABC) được tổ chức từ ngày 17 đến 27 tháng 7 năm 1990 tại Bandung, Indonesia, thì Giáo hội trưởng thành theo 5 giai đoạn tiêu biểu như sau:

Gđ1: Một Giáo hội đóng vai người chu cấp tất cả,

Gđ2: Một Giáo hội có Hội đồng mục vụ giáo xứ,

Gđ3: Một Giáo hội thức tỉnh,

Gđ4: Một Giáo hội có nhiều nhóm trách nhiệm,

Gđ5: Một Giáo hội hiệp thông giữa các cộng đoàn.

Năm giai đoạn tiêu biểu của một Giáo hội trưởng thành cũng là năm cách khác nhau để thể hiện Giáo hội. Giai đoạn thứ 5 hay cách thể hiện thứ 5 là cách cao nhất, hoàn hảo nhất vì khi đó có nhiều người tham gia vào đời sống và sứ mạng của Giáo hội nhất, và thể hiện tính hiệp thông cộng đoàn một cách rõ nét nhất. Đó chính là lúc giáo xứ được tổ chức thành các đơn vị nhỏ là các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản (8).

IV. ÁP DỤNG

1. Các bạn đã hiểu tại sao các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản xuất hiện trong nhiều giáo xứ, thuộc nhiều Giáo hội ở khắp nơi trên thế giới? Các bạn hãy tóm tắt các nguyên nhân ấy và ứng dụng vào hoàn cảnh của địa phương mình, xem Cộng đoàn Giáo hội cơ bản có cần thiết không?

2. Các bạn thấy lợi ích to lớn hay vai trò quan trọng của các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản như thế nào đối với người giáo dân nói riêng và đối với Giáo hội địa phương nói chung?

V. CHIA SẺ

1. Theo các bạn thì người giáo dân ngày nay có những nhu cầu căn bản nào? Và tại sao mà các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản lại đáp ứng được các nhu cầu căn bản ấy của họ?

2. Các bạn có tham gia một hội đoàn tông đồ, một Nhóm sinh hoạt nào trong hay ngoài giáo xứ của các bạn không? Các bạn nhận được những gì từ sự tham gia ấy và các bạn thấy còn thiếu gì không?

3. Có khi nào các bạn cảm thấy còn thiếu một chút gì đó trong việc thể hiện tính cộng đoàn Kitô hữu, tình hiệp thông của Giáo hội, sự liên đới và san sẻ giữa các chi thể của một thân thể không? Các bạn có đi tìm và các bạn tìm ở đâu các biện pháp để không còn cảm thấy “thiếu thiếu cái gì đó” nữa?

Chú thích

(1) Một tài liệu tiếng Anh mà soạn giả không ghi lại các chi tiết cần thiết.

(2) Xem Gaudencio B. Rosales và C.G. Arévalo, For all Peoples of Asia: Federation of Asian Bishops’ Conferences Documents from 1970 to 1991 (Maryknoll: Orbis Books, 1992), Asian Colloquium on Ministries in the Church, Conclusions, trang 76.

(3) Tài liệu tiếng Anh đã thất lạc.

(4) Xem Gaudencio B. Rosales và C.G. Arévalo, For all Peoples of Asia: Federa-tion of Asian Bishops’ Conferences Documents from 1970 to 1991 (Maryknoll: Orbis Books, 1992), Asian Colloquium on Ministries in the Church, Conclusions, trang 76.

(5) Hợp tuyển thần học số 34 với chủ đề “Giáo dân trong Hội Thánh”, trong chương “Giáo dân trong lịch sử

(6) Sergio Torres and John Eagleson (Eds), The Challenge of Basic Christian Communities: papers from the International Ecumenical Congress of Theology (1980: Sao Paulo, Brazil), Maryknoll: Orbis Books 1981; Andrew Dawson, Susan Peterson, The Birth and Impact of the Base Ecclesial Community, International Scholars Publications, 1998.

(7) Tại châu Á, xin đọc Cora Mateo và Giám mục Orlando Quevedo, FABC Papers số 921, tháng giêng 2000.

(8) Giêrônimô Nguyễn Văn Nội, “Những cách thể hiện Giáo hội khác nhau tại Châu Á”, trong cuốn “Các Phương pháp Thánh Kinh thực hành”, 2002, trang 71-87.