Hình ảnh người linh mục như chiếc thang nối giữa trời và đất, là một hình ảnh gợi ý đi từ cụ thể đến siêu hình. Không chỉ dừng lại ở chiếc thang vô tri, vật chất, nhưng còn là chiếc thang kỳ diệu có suy tư, tự do và ý thức.

1. Mầu nhiệm trong sứ vụ của chiếc thang.

Sự trống vắng cõi thiêng ngày càng gia tăng trong đời sống tục hóa, là một đòi hỏi nỗ lực hơn đối với những chiếc thang nối giữa mầu nhiệm và cuộc sống.

“Anh em hãy sống điều mà anh em sẽ chu toàn và hãy uốn mình cho phù hợp với mầu nhiệm Thập Giá của Chúa”. Đó lá lời gọi, huấn dụ của Giáo Hội gửi tới các linh Mục trong nghi thức phong chức. Nhận lãnh sứ vụ của một chiếc thang nối kết, người linh mục trước tiên là người sống Mầu Nhiệm trong đời sống thường nhật của mình. Mầu nhiệm được thực hiện trong đời thường thông qua các bí tích người linh mục cử hành. Không thể lên xuống trên một chiếc thang mục gẫy, như vậy đòi hỏi sự thánh thiện nơi người mục tử, Công Đồng Vat II quả quyết: “ Chính sự thánh thiện của các linh mục là một đóng góp cốt yếu làm cho thừa tác vụ mà các ngài chu toàn được hữu hiệu; chắc hẳn ơn thánh của Thiên Chúa có thể hoàn thành công trình cứu độ ngay cả bởi những thừa tác viên bất xứng. Nhưng, thông thường, Thiên Chúa ưa thích biểu lộ những sự việc cao cả của Ngài qua những con người niềm nở và vâng theo sự thúc đẩy, dẫn dắt của Chúa Thánh Thần, qua những con người sống mật thiết với Chúa Kitô và sống đời sống thánh thiện nhờ đó có thể nói như Thánh Tông Đồ: “Nếu tôi sống thì không còn phải là tôi sống, nhưng là Chúa Kitô sống trong tôi: (Gl, 2, 20)”.

Chiếc thang đầu chạm trời. Thực nghĩa của chiếc thang này là một đòi hỏi vươn mãi không ngừng. Người Đông Phương khởi đi từ cụ thể đi đến siêu hình cũng đặt một điều kiện là biết “vô tri bất mộ”. Người Linh mục là người biết Chúa nhiều hơn, con đường biết này đi từ con đường lý trí và từ con đừơng tình yêu. Lý trí không tình yêu là duy lý, tình yêu không lý trí là cuồng tín. Biết Chúa hơn là con đường học hỏi không ngừng, việc biết Chúa không chỉ dừng lại sau thời gian được học tại Chủng Viện nhưng con là việc tìm biết trong những khoá đào tạo thường kỳ theo chương trình thường huấn. Nền tảng của việc đào tạo thường kỳ này là Đức Ái Mục Vụ. Đức Ái Mục vụ thúc đẩy người Linh mục khơi thắm lại những ân sủng của Thiên Chúa đã ban tặng, Thánh Phaolô gửi cho Timothe lời tâm huyết của mình: “Đừng thờ ơ với đặc sủng đang có nơi anh, đặc sủng Thiên Chúa đã ban cho anh nhờ lời ngôn sứ, khi hàng kỳ mục đặt tay trên anh.15 Anh hãy tha thiết với những điều đó, chuyên chú vào đó, để mọi người nhận thấy những tiến bộ của anh.16 Anh hãy thận trọng trong cách ăn nết ở và trong lời giảng dạy. Hãy kiên trì trong việc đó. Vì làm như vậy, anh sẽ cứu được chính mình, lại còn cứu được những người nghe anh giảng dạy.”

Thông thường trong các chức nghiệp của đời sống, người ta vẫn đòi hỏi các thành viên không ngừng trau dồi thêm kiến thức của mình, mỗi ngày tiến thêm hơn về sự hiểu biết để tiến thêm hơn nữa cho ngành nghề mà họ dấn thân. Sách Lễ ký dạy: “Ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học bất tri đạo”, người học đạo để biết rõ về đạo, có biết mới có thể nói cho người khác, con đường học ấy giống như con đường sinh lại mỗi ngày trong sự hiểu biết.

Tông huấn Pastores Dabo vobis, số 51 dạy: “Trong thực tế, nhờ việc học, nhất là Thần học, người linh mục tương lai bám víu vào Lời Chúa, lớn lên trong đời sống thiêng liêng và có được tư thế sẵn sàng để chu toàn thừa tác vụ mục từ.”

Con đường học biết đạo theo Đông Phương còn là con đường biết bằng chữ tâm. Tâm là nguồn cội của Đạo, Tâm còn là định hướng, năng lực để tiến bước. Khổng Tử dạy học trò phải giữ cái tâm cho trung chính và việc làm cho thành thực: “Quân tử tiến đức tu nghiệp, trung tín, sở dĩ tiến đức giã: Tu từ, lập kỳ thành, sở dĩ cư nghiệp giã. Tri chíchí chi, khả dữ cơ giã; tri chung chung chi, khả giữ tồn nghĩa giã”, nghĩa là: “quân tử tiến đức tu nghiệp, trung tín để tiến đức; tu tỉnh ngôn từ, lập cái thành thực của mình, là để giữ cái nghiệp vậy. Biết chỗ đến mà đến chỗ ấy, là có thể gần cái đức; biết chỗ cuối cùng mà suốt đời giữ vững là có thể còn giữ cái nghĩa vậy”.

Con đường tu đức như vậy, vừa học biết đào luyện nhân, vừa học biết đào luyện nên thánh, Lời Chúa dạy: “Vì Ta muốn tình yêu chứ không cần hy lễ,

thích được các ngươi nhận biết hơn là được của lễ toàn thiêu.”

2. Tri và hành.

“Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: "Lạy Chúa! lạy Chúa! " là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi.22 Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: "Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao? "23 Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!

"Vậy ai nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực hành, thì ví được như người khôn xây nhà trên đá”

Nhân ái là một đức quan trọng trong đời sống xây dựng nhân bản trong Nho giáo, là một đức tính cần thiết để xây dựng đạo nhân. Tinh thần người Việt cũng thế, trọng tình cảm, lấy nguyên tắc “lấy chín bỏ làm mười” để sống và cư xử với nhau. Người có tài đức vẹn toàn là người được chờ đợi hơn cả. Tông huấn Patores dabo vobis, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lớn lên hơn trong tiếp xúc thường ngày với người khác và chia sẻ cuộc sống với người khác: “linh mục cần phải trau giồi tính nhạy bén nhân bản nhờ đó có thể hiểu được những nhu cầu và đón nhận những lời kêu cứu, có thể trực giác những yêu cầu không được phát biểu bằng lời, có thể chia sẻ những mối hy vọng và những nỗi mong chờ, có đủ khả năng gặp gỡ từng người và đối thoại với mọi người”

Như vậy, người Linh mục cần trở nên giống Chúa Giêsu hơn, tự thân là chiếc thang dẫn con người đến gặp gỡ Thiên Chúa. Là người cử hành mầu nhiệm bí tích và cũng là người làm cho bí tích ấy trở nên hữu hình nơi chính mình. Chỉ có một con đường nhất thiết để theo là làm cho Lời của Chúa thành sự thực nơi mình. Đây là một đòi hỏi bao gồm các việc đào luyện:

Nhân bản: Linh mục được mời gọi sống mầu nhiệm Nhập Thể nơi Con Thiên Chúa làm người, để cảm thông và chia sẻ những đau khổ, lo âu, trách nhiệm nơi anh chị em được sai đến.

Nhạy bén: Về những đau khổ, những dấu chỉ của thời đại, những hy vọng ở tương lai để dẫn dắt cộng đoàn được trao phó.

Là chiếc thang thực sự, để con người qua việc gặp gỡ với linh mục bằng xương bằng thịt, họ gặp được Đấng mà họ không thấy. Đây có thể nói chính linh mục phải trở nên bí tích theo nghĩa hiện tại hoá khuôn mặt của Chúa Giêsu nơi trần thế, và là một minh chứng Người đang sống ở giữa chúng tôi. Đó là một kerigma các Tông Đồ tiên khởi đã sống.

3. Con người chân đạp đất.

Điều khó khăn nhất trong niềm tin Kitô giáo là việc người ta tin rằng Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng lại biểu lộ nơi con người tử tội, một Thiên Chúa là Tình Yêu lại thinh lặng trước sự dữ, Một Thiên Chúa Vô hình lại mặc lấy thân xác hữu hình. Người là Thiên Chúa - người, một người ở giữa chúng ta, Người cho chúng ta biết về ý định yêu thương của Thiên Chúa. Một con người như chúng ta, có chỗ đứng trên một quê hương, có tất cả như một con người, ngoại trừ tội lỗi. Sứ vụ và hoạt động của Người bắt nguồn từ sự hiệp thông của Thiên Chúa, đồng thời cũng mở đường cho tất cả những ai tin vào Người cũng được thông hiệp với Ba Ngôi. Nhà thần học Romano Guardini đã sung sướng và kinh ngạc khi đề cập đến quan hệ giữa màu nhiệm vượt qua và màu nhiệm Ba Ngôi: “Trong lòng Thiên Chúa Ba Ngôi có ‘một con người’. Này là Người trong Thiên Chúa (Ecce homo in Deo)”.

Một con người có chân đứng ở dưới thế nhưng có đầu chạm trời cao nhờ Đức Giêsu Kitô Con Thiên Chúa, Người đã làm người ở giữa chúng ta và mãi mãi làm người khi phục sinh trở về nơi Thiên Chúa. Con người có một vị trí nơi Ba Ngôi Thiên Chúa, điếu này chưa bao giờ có, chỉ nơi Đức Giêsu Kitô Phục sinh niềm hy vọng lớn lao của nhân loại mới được thắp sáng.

Như vậy, con người có một vị trí rất đặc biệt nơi Thiên Chúa. Nhấn mạnh điều này để thấy rằng: Cuộc sống của mỗi con người cần được tôn trọng, không chỉ là phù vân, sớm nở tối tàn, không chỉ là một hạt bụi hoá kiếp, không là giọt nắng, giọt mưa mau tan biến. Con người có và từ ấy có tất cả.

Siêu nhiên không triệt tiêu tự nhiên nhưng làm cho tự nhiên trở nên phong phú, con người trong điều kiện sống tự nhiên của mình cũng cần siêu nhiên nâng đỡ để có chiều đứng xứng đáng như một con người. Linh Mục trong khi thi hành tác vụ của mình, trở nên giống Chúa Giêsu hơn có nghĩa là làm cho phẩm giá con người được tôn trọng hơn, yêu thương gắn bó với con người hơn. Giống Đức Giêsu yêu thương như “Thầy yêu thương” là tiêu chuẩn của người linh mục.

“ Lạy Trời, rượu thiêng nào người rót đời tôi đầy tràn … Người đã tự hiến cho tôi trong tình yêu và rồi cảm thấy hết ngọt ngào của Người trong tôi”

Người linh mục và hình ảnh chiếc thang gợi lên những dòng suy nghĩ này, xin được mãi là chiếc thang nối huyền nhiệm vào trong cõi thế, và nối cõi thế vào trong huyền nhiệm. Ước mong của người linh mục như chiếc thang là trở nên giống Thầy mình, trở nên bí tích cho mọi người.