Chúa Nhật 15 Thường Niên B
Mc 6,7-13
Thưa quý vị,
Đã lâu lắm tôi bỏ, không rao giảng các Thánh vịnh dùng làm đáp ca cho bài đọc 1 thánh lễ Chúa Nhật. Như có lần tôi đã nêu ra lý do, tôi đi giảng thuyết lang thang, nay nhà thờ này, mai xứ đạo khác, ít có cơ hội trụ lại một chỗ, thành thử không nắm chắc nơi tôi đến người ta có sử dụng Thánh vịnh đáp ca như sách các bài đọc chỉ định không hay thay thế bằng bài hát khác tương đương. Nếu tôi chọn Thánh vịnh để rao giảng thì xác xuất hụt hẫng rất cao. An toàn là chọn một hoặc hai bài đọc làm đề tài. Dầu sao điều đó vẫn là một thiếu sót đáng xấu hổ: bởi lẽ thánh vịnh cũng là kho tàng rao giảng phong phú và nhiều ích lợi thiêng liêng. Chúng là những mảng văn chương thơ phú rất gần với tình cảm nhân loại hoặc mô tả những tình huống con người phải vật lộn với Thượng đế, thế gian hay ngay cả với chính mình nữa! Nếu như quý vị có thể vững bụng, ca đoàn nhà thờ không thay đổi bài đáp ca, thì tại sao chúng ta không thử một lần xem sao? Đáp ca là lời cộng đồng thưa lại tiếng Chúa trong bài đọc một, rao giảng về nó quả là đúng lý. Tuần này, tôi cố gắng trình bày một bài mẫu. Có nhiều phương pháp tiếp cận với Thánh vịnh, có thể chúng ta suy gẫm toàn bộ nội dung, rồi liên kết với bài đọc một, hoặc riêng lẻ từng câu, đáp lại từng ý. Phần tôi, tôi sẽ xem xét Thánh vịnh một cách độc lập rồi đối chiếu với Amos để tìm ra những liên quan cần thiết. Nói chung, bài đọc 1 nêu lên tình cảnh thảm thiết của dân Chúa, Thánh vịnh đáp lại bằng lời cầu khẩn tha thiết hoặc, bài đọc kể ra những kỳ công vĩ đại của Đức Chúa và bài đáp ca dâng Ngài tiếng hát ngợi khen. Như vậy ngoài phần thông điệp của Thượng đế và tính toàn vẹn của con người, Thánh vịnh còn thêm phần tài năng nghệ thuật và ý nghĩa đặc biệt dưới ánh sáng của bài đọc 1. Chúng ta thử xem có đúng như thế không?
Thường thường khi Thánh vịnh được dùng như đáp ca, người ta không đọc hoặc hát toàn bộ Thánh vịnh mà chỉ trích ra vài câu có ý nghĩa liên quan với nội dung bài đọc. Như vậy dòng chảy của toàn thể Thánh vịnh bị ngắt đoạn. Thí dụ Thánh vịnh 84 (85) hôm nay: phần đầu bị lược bỏ, chỉ có phần hai được chọn, tức các câu 9-14. Mặc dù phụng vụ chỉ nhấn mạnh đến phần hai, nhưng tôi thấy phần đầu của Thánh vịnh 84 cũng rất hữu ích để hiểu được buổi cử hành này. Bởi lẽ nó nêu ra những lời cầu xin, những van nài trước Đấng tối cao. Cộng đoàn dân thánh chờ đợi trong hy vọng lời đáp trả của Đức Chúa. Mùa Vọng vừa qua phụng vụ cũng dùng Thánh vịnh này, vì nó thích hợp cho tâm tình thời gian đó. Các tín hữu van xin Đấng Cứu thế và cũng lắng nghe Thiên Chúa trả lời. Với giọng điệu khẩn khoản như thường lệ, tác giả lý luận rằng nếu Thượng Đế nghe theo lời cầu khẩn của dân chúng mà giơ tay giải cứu, thì danh thánh Ngài sẽ vinh hiển khắp địa cầu: “Vinh quang Ngài hằng chiếu toả trên đất nước chúng ta.” Lý luận đó không có chi tinh tế khó hiểu. Bởi lẽ Đức chúa đã ký kết giao ước với tuyển dân. Lúc này họ đang gặp gian truân cùng khốn. Nếu Ngài giải thoát họ, vinh quang Ngài thật quá rõ ràng. Thiên hạ sẽ chứng kiến những điều kỳ diệu. Danh thánh Ngài sẽ được người ta rao truyền khắp nơi. Chư dân sẽ nhận biết Thiên Chúa trung tín với giao ước của Ngài, lúc này họ đang chịu khổ đau. Nhưng Thiên Chúa không hề bỏ rơi họ. Đấng thánh của Israel thật đáng cậy tin.
Khi đọc Thánh vịnh 84 chúng ta thấy trong lòng dâng trào một niềm hy vọng mãnh liệt: “Ngài đã tỏ lòng thương xót thánh địa. Tù nhân nhà Gia-cóp Ngài dẫn đưa về.” Điều mà thuở xưa Ngài đã làm, thì nay Ngài vẫn thực hiện. Tuyển dân chẳng thể tự mình đối phó với hoàn cảnh, họ phải cậy nhờ vào bàn tay oai hùng của Đức Chúa. Đức Chúa sẽ giơ tay giải cứu. Thánh vịnh này không chỉ là lời cổ vũ, ngõ hầu dân Chúa cố gắng hơn, làm việc nhiều hơn, chịu đựng nhiều hơn để thoát khỏi cạm bẫy tạm thời. Nó còn là lời khẳng định. Tuyển dân không tự thân cứu lấy mình. Thiên Chúa sẽ giơ tay giải thoát. Cho nên họ tin tưởng đợi chờ, tai mắt họ mở rộng để đòn ơn cứu độ khi nào, lúc nào sẽ đến. Ơn đó không phải là tinh thần, thiêng liêng ủi an. Mà là một ơn rất cụ thể, nắm bắt được. Những phạm trù thần linh được thể hiện rõ nét “Tín nghĩa ân tình nay hội ngộ. Hoà bình công lý sẽ hôn nhau. Chân lý mọc lên từ đất thấp, công bằng nhìn xuống tự trời cao”. Dân Chúa sẽ chờ đợi bình an và công lý, cuối cùng những điều đó sẽ được công bố trên khắp thế gian và dân Chúa sẽ được hưởng phúc lộc chan hoà trong thời đại mới. Đất nước sẽ có những mùa gặt bội thu. Thiên Chúa sẽ viếng thăm dân Ngài. công lý sẽ dẫn đầu đám rước vương giả.
Hiện thời thì tuyển dân còn chịu đựng sống trong khốn khổ và không thể tự cứu mình. Họ ngước trông lên thượng đế để tin tưởng vào sự trợ giúp đến từ Đức Chúa. Thánh vịnh không chỉ là lời cầu nguyện mà còn là lời khẳng định về Thiên Chúa. Các từ như chân lý, hoà bình, xót thương, nhân hậu, tử tế phải được thể hiện cụ thể chứ không trong ước vọng mà thôi. sự đáp trả của Đức Chúa giống như lời khích lệ của một nhà giảng thuyết cổ vũ dân chúng đang nhát đảm. Công bố hồng ân Thiên Chúa sẽ đến. Ngài sẽ cứu giúp và vinh quang Ngài sẽ hiển hiện giữa tuyển dân.
Theo truyền thuyết, thì Thánh vịnh này là một bài ca của lễ hội mùa thu. Mùa thu là thời gian chấm dứt tiến trình tăng trưởng, để chuyển sang mùa trồng cấy, thu hoạch mới. Nó cũng là thời gian dành cho việc đền tội, bỏ lại phía sau những sai xót quá khứ, xin ơn thứ tha để có thể mạnh dạn khởi sự một tương lai mới, tốt đẹp hơn. Mấy câu thơ mở màn Thánh vịnh gợi ý rằng: Cộng đoàn thành khẩn ăn năn vì lỗi lầm cũ và kêu xin Chúa thứ tha: “Tội vạ dân Ngài, Ngài tha thứ cả. Mọi lỗi lầm cũng phủ lấp đi. Ngài dẹp trận lôi đình, và nguôi cơn thịch nộ.” Mùa cũ đã qua, mùa mới bắt đầu. Vậy xin Thượng Đế tha thứ tội lỗi chúng sinh, nhiều lần chúng con đã phản bội giao ước với Ngài. Thánh vịnh viết: “Ôi lạy Chúa, xin tỏ cho chúng con thấy tình thương của Chúa, và ban ơn cứu độ chúng con.”(câu 8). Tuy nhiên xin luôn nhớ, phụng vụ đặt trọng tâm vào phần thứ hai của Thánh vịnh. Nhìn kỹ vào nội dung, chúng ta sẽ biết cách suy niệm về Thánh vịnh. Những nhà lựa chọn bài đọc đã nhìn thấy khả năng áp dụng Thánh vịnh cho những ý tưởng của Amos, như chúng ta sẽ làm sau đây:
Lúc ấy, tiên tri Amos phải đương đầu với thầy tế lễ của đền thờ Bethel, tên là Amaziah. Triều đình đã chỉ định ông làm ngôn sứ và tư tế cho nhà vua và ngôi đền thánh quốc gia Bethel. Dưới ông còn nhiều tiên tri và tư tế khác nữa. Họ thuộc giai cấp tiên tri công chức, khác với tiên tri được Thiên Chúa kêu gọi. Họ thuộc về cơ chế quốc gia và có nhiệm vụ cầu mong cho nhà vua và triều đình được an khang thịnh vượng. Tiên tri Amos chỉ trích xã hội dương thời và triều đình thối nát, tiên tri loan báo sự sụp đổ của đền thờ và cả nhà vua. Do đó, Amaziah nổi giận đuổi Amos về quê hương ông ở Miền nam, tức Giuda. Y nói Amos về đó mà bán các lời sấm kiếm ăn, không được nói láo ở Bethel nữa. Tiên tri Amos đang ở Miền bắc tức Israel, làm nghề chăn cừu và hái sung thuê. Thiên Chúa đã gọi ông, sai nói tiên tri chống lại vua Gia-rop-am và vương quốc Miền bắc, đang trong thời kỳ sa đoạ. Do đó rõ ràng có sự đối kháng giữa Amaziah và Amos. Amaziah tâng bốc triều đình, nói toàn lời tốt đẹp, mọi người đều muốn nghe. Còn Amos nói ngược lại, toàn lời trừng phạt và đe doạ sụp đổ, gây sợ hãi. Amaziah gọi tiên tri Amos là kẻ “thấy thị kiến”. Chắc chắn không phải để khen thưởng, ngược lại, để khinh bỉ. Bởi lẽ Amos tuyên sấm toàn điều viễn vông, không có thực. Amaziah đang phục vụ triều đình. Ông liên kết tôn giáo với quốc gia, ủng hộ mọi quyết định của nhà vua và các cấp lãnh đạo, vẫy cờ và chúc lành cho các đạo binh ra trận, cầu mong chiến thắng cho các binh sĩ, bất kể sự thối nát đang tràn lan mọi nơi. “Đức Chúa về phe với chúng ta” bằng mọi giá!
Ngược lại, Amos đứng làm tiêu khiển cho đức tin kiên cường, chăm chú nghe Lời Chúa và đáp trả trung thành. Ông là mẫu gương cho người tín hữu Do thái chân chính lúc ấy và cả cho chúng ta ngày nay. Lời rao giảng của ông không mang lợi lộc nào cho bản thân ông, thực tế, toàn thù ghét và bách hại. Nhưng Thiên Chúa nói, ông lắng nghe và đáp lại ngoan ngoãn. Trong khi Amaziah bênh vực những người có chức quyền lợi lộc bền vững thì Amos đòi hỏi phải có một sự thay đổi tư duy, não trạng, nếp sống, nếu không quốc gia sẽ lâm vào cảnh sụp đổ hoàn toàn.
Như thế trong ánh sáng của bài đọc một, thánh vịnh đáp ca mang một ý nghĩa đặc biệt. Tác giả thánh vịnh muốn nêu lên lòng tin cậy của chúng ta phải đặt vào Thiên Chúa, chứ không vào quyền lực thế gian. Đấng giải cứu phải là Đức Chúa chứ không phải vua quan trần thế. An ninh thịnh vượng của đồng bào, tổ quốc là ân huệ trời ban cho những dân tộc nào, quốc gia nào biết lắng nghe lời Thiên Chúa, chứ không phải tự thân kiếm được. “Vâng, chính Chúa sẽ tặng ban phúc lộc và đất nước chúng ta sẽ trổ sinh hoa trái.” (câu 13). Amaziah và toàn thể nhà Israel đã không nhận ra giọng điệu đó ở bài đọc thứ nhất. Amos là một sứ giả đích thực của Đức Chúa đem đến lời cảnh cáo lối sống sa đoạ đồng thời lời hứa hẹn thịnh vượng cho những kẻ nào đáp trả thuận lợi đường lối của Thiên Chúa.
Đó là viễn tượng Thiên Chúa muốn tỏ lộ cho xã hội loài người, mà tác giả Thánh vịnh đã đặt thành bài ca. Tổ quốc Hoa Kỳ cũng muốn áp dụng đường lối ấy cho mình, nên đã lấy khẩu hiệu “One nation under God” (một quốc gia dưới cánh tay Thiên Chúa) làm nền tảng hướng dẫn nếp sống và suy nghĩ của mỗi công dân. Nhưng thực tế chúng ta có thực hiện đúng như vậy không? Hay chỉ có dáng vẻ bên ngoài? Tuyên bố xuông chưa đủ, cần phải có nội dung! Chúng ta hy vọng với tác giả Thánh vịnh: “Tín nghĩa và sự thật, công lý và bình an” thực sự ngự trị trên tổ quốc mình, bắt đầu từ những tín hữu Chúa Kitô. Chúng ta phải tha thiết cầu xin Thượng đế biến đổi mình thành những sứ giả bình an và công lý, sự thật và tình thương cho mọi người, kể cả kẻ thù. Trước bàn thờ Thánh Thể hôm nay, chúng ta nhìn lại lối sống của mình ! Chúng ta đã sống thế nào? Có thật vinh quang Thiên Chúa đang toả lan trên chúng ta? Trên xứ đạo chúng ta? Làm thế nào để các phạm trù thiêng liêng: sự thật, tình thương, hoà bình… trở thành cụ thể trong những mối tương giao của chúng ta với người khác? Với ánh sáng Lời Chúa và với ân huệ của Chúa Giêsu Thánh Thể, chúng ta có quyền ước vọng một tương lai tươi sáng hơn, tức phản ảnh được vẻ đẹp huy hoàng của Đức Chúa trên đồng bào, trên nhân loại. Amen.
Suy gẫm: Sự nghèo khó cởi trói cho Lời Chúa, nên Chúa Giêsu trong Phúc âm hôm nay đòi buộc các môn đệ phải sống khó nghèo để có thể rao giảng Nước Trời.
Mc 6,7-13
Thưa quý vị,
Đã lâu lắm tôi bỏ, không rao giảng các Thánh vịnh dùng làm đáp ca cho bài đọc 1 thánh lễ Chúa Nhật. Như có lần tôi đã nêu ra lý do, tôi đi giảng thuyết lang thang, nay nhà thờ này, mai xứ đạo khác, ít có cơ hội trụ lại một chỗ, thành thử không nắm chắc nơi tôi đến người ta có sử dụng Thánh vịnh đáp ca như sách các bài đọc chỉ định không hay thay thế bằng bài hát khác tương đương. Nếu tôi chọn Thánh vịnh để rao giảng thì xác xuất hụt hẫng rất cao. An toàn là chọn một hoặc hai bài đọc làm đề tài. Dầu sao điều đó vẫn là một thiếu sót đáng xấu hổ: bởi lẽ thánh vịnh cũng là kho tàng rao giảng phong phú và nhiều ích lợi thiêng liêng. Chúng là những mảng văn chương thơ phú rất gần với tình cảm nhân loại hoặc mô tả những tình huống con người phải vật lộn với Thượng đế, thế gian hay ngay cả với chính mình nữa! Nếu như quý vị có thể vững bụng, ca đoàn nhà thờ không thay đổi bài đáp ca, thì tại sao chúng ta không thử một lần xem sao? Đáp ca là lời cộng đồng thưa lại tiếng Chúa trong bài đọc một, rao giảng về nó quả là đúng lý. Tuần này, tôi cố gắng trình bày một bài mẫu. Có nhiều phương pháp tiếp cận với Thánh vịnh, có thể chúng ta suy gẫm toàn bộ nội dung, rồi liên kết với bài đọc một, hoặc riêng lẻ từng câu, đáp lại từng ý. Phần tôi, tôi sẽ xem xét Thánh vịnh một cách độc lập rồi đối chiếu với Amos để tìm ra những liên quan cần thiết. Nói chung, bài đọc 1 nêu lên tình cảnh thảm thiết của dân Chúa, Thánh vịnh đáp lại bằng lời cầu khẩn tha thiết hoặc, bài đọc kể ra những kỳ công vĩ đại của Đức Chúa và bài đáp ca dâng Ngài tiếng hát ngợi khen. Như vậy ngoài phần thông điệp của Thượng đế và tính toàn vẹn của con người, Thánh vịnh còn thêm phần tài năng nghệ thuật và ý nghĩa đặc biệt dưới ánh sáng của bài đọc 1. Chúng ta thử xem có đúng như thế không?
Thường thường khi Thánh vịnh được dùng như đáp ca, người ta không đọc hoặc hát toàn bộ Thánh vịnh mà chỉ trích ra vài câu có ý nghĩa liên quan với nội dung bài đọc. Như vậy dòng chảy của toàn thể Thánh vịnh bị ngắt đoạn. Thí dụ Thánh vịnh 84 (85) hôm nay: phần đầu bị lược bỏ, chỉ có phần hai được chọn, tức các câu 9-14. Mặc dù phụng vụ chỉ nhấn mạnh đến phần hai, nhưng tôi thấy phần đầu của Thánh vịnh 84 cũng rất hữu ích để hiểu được buổi cử hành này. Bởi lẽ nó nêu ra những lời cầu xin, những van nài trước Đấng tối cao. Cộng đoàn dân thánh chờ đợi trong hy vọng lời đáp trả của Đức Chúa. Mùa Vọng vừa qua phụng vụ cũng dùng Thánh vịnh này, vì nó thích hợp cho tâm tình thời gian đó. Các tín hữu van xin Đấng Cứu thế và cũng lắng nghe Thiên Chúa trả lời. Với giọng điệu khẩn khoản như thường lệ, tác giả lý luận rằng nếu Thượng Đế nghe theo lời cầu khẩn của dân chúng mà giơ tay giải cứu, thì danh thánh Ngài sẽ vinh hiển khắp địa cầu: “Vinh quang Ngài hằng chiếu toả trên đất nước chúng ta.” Lý luận đó không có chi tinh tế khó hiểu. Bởi lẽ Đức chúa đã ký kết giao ước với tuyển dân. Lúc này họ đang gặp gian truân cùng khốn. Nếu Ngài giải thoát họ, vinh quang Ngài thật quá rõ ràng. Thiên hạ sẽ chứng kiến những điều kỳ diệu. Danh thánh Ngài sẽ được người ta rao truyền khắp nơi. Chư dân sẽ nhận biết Thiên Chúa trung tín với giao ước của Ngài, lúc này họ đang chịu khổ đau. Nhưng Thiên Chúa không hề bỏ rơi họ. Đấng thánh của Israel thật đáng cậy tin.
Khi đọc Thánh vịnh 84 chúng ta thấy trong lòng dâng trào một niềm hy vọng mãnh liệt: “Ngài đã tỏ lòng thương xót thánh địa. Tù nhân nhà Gia-cóp Ngài dẫn đưa về.” Điều mà thuở xưa Ngài đã làm, thì nay Ngài vẫn thực hiện. Tuyển dân chẳng thể tự mình đối phó với hoàn cảnh, họ phải cậy nhờ vào bàn tay oai hùng của Đức Chúa. Đức Chúa sẽ giơ tay giải cứu. Thánh vịnh này không chỉ là lời cổ vũ, ngõ hầu dân Chúa cố gắng hơn, làm việc nhiều hơn, chịu đựng nhiều hơn để thoát khỏi cạm bẫy tạm thời. Nó còn là lời khẳng định. Tuyển dân không tự thân cứu lấy mình. Thiên Chúa sẽ giơ tay giải thoát. Cho nên họ tin tưởng đợi chờ, tai mắt họ mở rộng để đòn ơn cứu độ khi nào, lúc nào sẽ đến. Ơn đó không phải là tinh thần, thiêng liêng ủi an. Mà là một ơn rất cụ thể, nắm bắt được. Những phạm trù thần linh được thể hiện rõ nét “Tín nghĩa ân tình nay hội ngộ. Hoà bình công lý sẽ hôn nhau. Chân lý mọc lên từ đất thấp, công bằng nhìn xuống tự trời cao”. Dân Chúa sẽ chờ đợi bình an và công lý, cuối cùng những điều đó sẽ được công bố trên khắp thế gian và dân Chúa sẽ được hưởng phúc lộc chan hoà trong thời đại mới. Đất nước sẽ có những mùa gặt bội thu. Thiên Chúa sẽ viếng thăm dân Ngài. công lý sẽ dẫn đầu đám rước vương giả.
Hiện thời thì tuyển dân còn chịu đựng sống trong khốn khổ và không thể tự cứu mình. Họ ngước trông lên thượng đế để tin tưởng vào sự trợ giúp đến từ Đức Chúa. Thánh vịnh không chỉ là lời cầu nguyện mà còn là lời khẳng định về Thiên Chúa. Các từ như chân lý, hoà bình, xót thương, nhân hậu, tử tế phải được thể hiện cụ thể chứ không trong ước vọng mà thôi. sự đáp trả của Đức Chúa giống như lời khích lệ của một nhà giảng thuyết cổ vũ dân chúng đang nhát đảm. Công bố hồng ân Thiên Chúa sẽ đến. Ngài sẽ cứu giúp và vinh quang Ngài sẽ hiển hiện giữa tuyển dân.
Theo truyền thuyết, thì Thánh vịnh này là một bài ca của lễ hội mùa thu. Mùa thu là thời gian chấm dứt tiến trình tăng trưởng, để chuyển sang mùa trồng cấy, thu hoạch mới. Nó cũng là thời gian dành cho việc đền tội, bỏ lại phía sau những sai xót quá khứ, xin ơn thứ tha để có thể mạnh dạn khởi sự một tương lai mới, tốt đẹp hơn. Mấy câu thơ mở màn Thánh vịnh gợi ý rằng: Cộng đoàn thành khẩn ăn năn vì lỗi lầm cũ và kêu xin Chúa thứ tha: “Tội vạ dân Ngài, Ngài tha thứ cả. Mọi lỗi lầm cũng phủ lấp đi. Ngài dẹp trận lôi đình, và nguôi cơn thịch nộ.” Mùa cũ đã qua, mùa mới bắt đầu. Vậy xin Thượng Đế tha thứ tội lỗi chúng sinh, nhiều lần chúng con đã phản bội giao ước với Ngài. Thánh vịnh viết: “Ôi lạy Chúa, xin tỏ cho chúng con thấy tình thương của Chúa, và ban ơn cứu độ chúng con.”(câu 8). Tuy nhiên xin luôn nhớ, phụng vụ đặt trọng tâm vào phần thứ hai của Thánh vịnh. Nhìn kỹ vào nội dung, chúng ta sẽ biết cách suy niệm về Thánh vịnh. Những nhà lựa chọn bài đọc đã nhìn thấy khả năng áp dụng Thánh vịnh cho những ý tưởng của Amos, như chúng ta sẽ làm sau đây:
Lúc ấy, tiên tri Amos phải đương đầu với thầy tế lễ của đền thờ Bethel, tên là Amaziah. Triều đình đã chỉ định ông làm ngôn sứ và tư tế cho nhà vua và ngôi đền thánh quốc gia Bethel. Dưới ông còn nhiều tiên tri và tư tế khác nữa. Họ thuộc giai cấp tiên tri công chức, khác với tiên tri được Thiên Chúa kêu gọi. Họ thuộc về cơ chế quốc gia và có nhiệm vụ cầu mong cho nhà vua và triều đình được an khang thịnh vượng. Tiên tri Amos chỉ trích xã hội dương thời và triều đình thối nát, tiên tri loan báo sự sụp đổ của đền thờ và cả nhà vua. Do đó, Amaziah nổi giận đuổi Amos về quê hương ông ở Miền nam, tức Giuda. Y nói Amos về đó mà bán các lời sấm kiếm ăn, không được nói láo ở Bethel nữa. Tiên tri Amos đang ở Miền bắc tức Israel, làm nghề chăn cừu và hái sung thuê. Thiên Chúa đã gọi ông, sai nói tiên tri chống lại vua Gia-rop-am và vương quốc Miền bắc, đang trong thời kỳ sa đoạ. Do đó rõ ràng có sự đối kháng giữa Amaziah và Amos. Amaziah tâng bốc triều đình, nói toàn lời tốt đẹp, mọi người đều muốn nghe. Còn Amos nói ngược lại, toàn lời trừng phạt và đe doạ sụp đổ, gây sợ hãi. Amaziah gọi tiên tri Amos là kẻ “thấy thị kiến”. Chắc chắn không phải để khen thưởng, ngược lại, để khinh bỉ. Bởi lẽ Amos tuyên sấm toàn điều viễn vông, không có thực. Amaziah đang phục vụ triều đình. Ông liên kết tôn giáo với quốc gia, ủng hộ mọi quyết định của nhà vua và các cấp lãnh đạo, vẫy cờ và chúc lành cho các đạo binh ra trận, cầu mong chiến thắng cho các binh sĩ, bất kể sự thối nát đang tràn lan mọi nơi. “Đức Chúa về phe với chúng ta” bằng mọi giá!
Ngược lại, Amos đứng làm tiêu khiển cho đức tin kiên cường, chăm chú nghe Lời Chúa và đáp trả trung thành. Ông là mẫu gương cho người tín hữu Do thái chân chính lúc ấy và cả cho chúng ta ngày nay. Lời rao giảng của ông không mang lợi lộc nào cho bản thân ông, thực tế, toàn thù ghét và bách hại. Nhưng Thiên Chúa nói, ông lắng nghe và đáp lại ngoan ngoãn. Trong khi Amaziah bênh vực những người có chức quyền lợi lộc bền vững thì Amos đòi hỏi phải có một sự thay đổi tư duy, não trạng, nếp sống, nếu không quốc gia sẽ lâm vào cảnh sụp đổ hoàn toàn.
Như thế trong ánh sáng của bài đọc một, thánh vịnh đáp ca mang một ý nghĩa đặc biệt. Tác giả thánh vịnh muốn nêu lên lòng tin cậy của chúng ta phải đặt vào Thiên Chúa, chứ không vào quyền lực thế gian. Đấng giải cứu phải là Đức Chúa chứ không phải vua quan trần thế. An ninh thịnh vượng của đồng bào, tổ quốc là ân huệ trời ban cho những dân tộc nào, quốc gia nào biết lắng nghe lời Thiên Chúa, chứ không phải tự thân kiếm được. “Vâng, chính Chúa sẽ tặng ban phúc lộc và đất nước chúng ta sẽ trổ sinh hoa trái.” (câu 13). Amaziah và toàn thể nhà Israel đã không nhận ra giọng điệu đó ở bài đọc thứ nhất. Amos là một sứ giả đích thực của Đức Chúa đem đến lời cảnh cáo lối sống sa đoạ đồng thời lời hứa hẹn thịnh vượng cho những kẻ nào đáp trả thuận lợi đường lối của Thiên Chúa.
Đó là viễn tượng Thiên Chúa muốn tỏ lộ cho xã hội loài người, mà tác giả Thánh vịnh đã đặt thành bài ca. Tổ quốc Hoa Kỳ cũng muốn áp dụng đường lối ấy cho mình, nên đã lấy khẩu hiệu “One nation under God” (một quốc gia dưới cánh tay Thiên Chúa) làm nền tảng hướng dẫn nếp sống và suy nghĩ của mỗi công dân. Nhưng thực tế chúng ta có thực hiện đúng như vậy không? Hay chỉ có dáng vẻ bên ngoài? Tuyên bố xuông chưa đủ, cần phải có nội dung! Chúng ta hy vọng với tác giả Thánh vịnh: “Tín nghĩa và sự thật, công lý và bình an” thực sự ngự trị trên tổ quốc mình, bắt đầu từ những tín hữu Chúa Kitô. Chúng ta phải tha thiết cầu xin Thượng đế biến đổi mình thành những sứ giả bình an và công lý, sự thật và tình thương cho mọi người, kể cả kẻ thù. Trước bàn thờ Thánh Thể hôm nay, chúng ta nhìn lại lối sống của mình ! Chúng ta đã sống thế nào? Có thật vinh quang Thiên Chúa đang toả lan trên chúng ta? Trên xứ đạo chúng ta? Làm thế nào để các phạm trù thiêng liêng: sự thật, tình thương, hoà bình… trở thành cụ thể trong những mối tương giao của chúng ta với người khác? Với ánh sáng Lời Chúa và với ân huệ của Chúa Giêsu Thánh Thể, chúng ta có quyền ước vọng một tương lai tươi sáng hơn, tức phản ảnh được vẻ đẹp huy hoàng của Đức Chúa trên đồng bào, trên nhân loại. Amen.
Suy gẫm: Sự nghèo khó cởi trói cho Lời Chúa, nên Chúa Giêsu trong Phúc âm hôm nay đòi buộc các môn đệ phải sống khó nghèo để có thể rao giảng Nước Trời.