Chúa Nhật 15 Thường Niên B
Mc 6,7-13
Chúa nhật 15 Thường niên Năm B cho chúng ta biết chúng ta có ơn gọi và sứ mạng làm con, làm ngôn sứ và làm người rao giảng Tin Mừng Cứu độ của Thiên Chúa. Đó là những hồng ân lớn lao nhưng đồng thời cũng là những trách nhiệm nặng nề phải chu toàn. Chúng ta có thể học cùng thánh Phaolô và các Tông đồ, cũng như học cùng ngôn sứ Amót và nhất là học với chính Đức Giêsu Kitô để sống cách trọn hảo ơn gọi và sứ mạng làm con, làm ngôn sứ và người rao giảng Tin Mừng Cứu độ của Thiên Chúa.
I. LẮNG NGHE & TÌM HIỂU LỜI CHÚA
1.1 Bài đọc 1: Am 7,12-15: Nhờ lời giảng giải của Amót với tư tế Amátgia mà chúng ta hiểu được tại sao Amót trở thành ngôn sứ của Giavê Thiên Chúa: “Tôi không phải là ngôn sứ, cũng chẳng phải là người thuộc nhóm ngôn sứ. Tôi chỉ là người chăn nuôi súc vật và chăm sóc cây sung. Chính Đức Chúa đã bắt lấy tôi khi tôi đi theo sau đàn vật và Đức Chúa đã truyền cho tôi: Hãy đi truyền sấm cho Ítraen dân Ta”
Quả là Amót bị Thiên Chúa “cưỡng bức” làm ngôn sứ chứ bản thân ông không hề muốn làm công việc ấy chút nào. Vì ông biết rõ ông không có tài ăn nói trước công chúng và quan quyền. Cũng có thể vì ông sợ vì ông biết rõ rằng làm ngôn sứ thì chỉ có bị thua thiệt khi thi hành sứ vụ Thiên Chúa giao phó. Ngôn sứ Amót nổi tiếng về các sấm ngôn mà ngày nay chúng ta gọi là “sấm ngôn có tính phê phán xã hội” (prophétisme critique) khi lên án những tình trạng bất công xã hội: kẻ giầu sang, quyền thế bóc lột và áp bức người nghèo hèn. Mỗi một khi ngon sứ lên tiếng bênh vực người nghèo chống lại sự bất công và áp bức của người giầu sang quyền thế là quyền lợi và thậm chí mạng sống của vị ngôn sứ bị đe dọa. Ơn gọi ngôn sứ, theo nhãn quan phàm trần, là ơn gọi bạc bẽo. Nhưng trong nhãn quan của Thiên Chúa thì đó lại là ơn gọi đầy vinh quang vì ngôn sứ là sứ giả của Thiên Chúa, nói lời Thiên Chúa.
1.2 Bài đọc 2: Ep 1,3-14: Thánh Phaolô viết cho các tín hữu Ephêsô và mọi tín hữu khác về ơn gọi làm con và bao hồng ân cao quí khác mà Thiên Chúa đã khứng ban cho chúng ta trong Đức Kitô: “Trong Đức Kitô, từ cõi trời, Người đã thi ân giáng phúc cho ta hưởng muôn vàn ơn phúc của Thánh Thần. Trong Đức Kitô Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ, để trước thánh nhan Người, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ tình thương của Người. Theo ý muốn và lòng nhân ái của Người, Người đã tiền định cho ta làm nghĩa tử nhờ Đức Giêsu Kitô, dể ta hằng ngợi khen ân sủng rạng ngời, ân sủng Người ban tặng cho ta trong Thánh Tử yêu dấu”. Cùng với ơn làm nghĩa tử cao quí ấy, chúng ta còn được ơn nghe biết Tin Mừng Cứu độ và được Thánh Thần đóng dấu ấn để chúng ta được đảm bảo phần gia nghiệp của Thiên Chúa hứa ban cho dân riêng của Người.
1.3 Bài Tin Mừng: Mc 6,7-13: Thánh Máccô tường thuật việc Chúa Giêsu sai mười hai môn đệ đi rao giảng Tin Mừng, trừ quỉ và chữa lành người đau ốm bệnh tật. Các ông được Chúa ban quyền trên các thần ô uế. Các ông còn được Chúa căn dặn tỉ mỉ về hành trang phải chuẩn bị khi ra đi truyền giáo: “không mang gì đi đường, không được mang lương thực, bao bì, tiền giắt lưng, không được mang hai áo”. Các ông còn được Chúa căn dặn kỹ càng về cách ứng xử với mọi người khi được tiếp đón hoặc khi bị từ chối: ”Bất cứ ở đâu, khi anh em đã vào nhà nào, thì hãy ở lại đó cho đến lúc ra đi. Còn nơi nào người ta không đón tiếp và không nghe anh em, thì khi ra khỏi đó, hãy giũ bụi đất dưới chân để tỏ ý cảnh cáo họ” Phúc âm Máccô ghi lại kết quả khả quan mà các tông đồ gặt hái được khi làm theo chỉ thị của Chúa Giêsu: “Các ông đi rao giảng, kêu gọi người ta ăn năn sám hối. Các ông trừ được nhiều quỉ, xức dầu cho nhiều người đau ốm và chữa họ khỏi bệnh”.
II. ĐÓN NHẬN & SỐNG SỨ ĐIỆP LỜI CHÚA
2.1 Mỗi ơn gọi và sứ mạng là một niềm vinh quang và hạnh phúc: Ba bài Sách Thánh nói về ba ơn gọi, ba sứ mạng khác nhau của người tín hữu: ơn gọi và sứ mạng ngôn sứ, ơn gọi và sứ mạng làm nghĩa tử tức làm con và ơn gọi và sứ mạng rao giảng Tin Mừng cứu độ. Ơn gọi và sứ mạng nền tảng và quan trọng nhất của chúng ta là ơn gọi và sứ mạng làm con mà Thánh Phaolô đã trình bày trong thư gửi tín hữu Ephêsô. Ơn gọi và sứ mạng ngôn sứ và ơn gọi và sứ mạng rao giảng Tin Mừng là cùng một ơn gọi, cùng một sứ mạng, nhưng ở hai giai đoạn khác nhau của lịch sử. Mỗi ơn gọi là một niềm vinh quang lớn lao mà Thiên Chúa đã rộng lòng rộng tay ban cho chúng ta. Mỗi ơn gọi và sứ mạng là một nguồn hạnh phúc tầy trời mà chúng ta được hưởng cách “nhưng không”vì thật ra chúng ta chẳng có công lao gì trong đó cả, mà thuần túy chỉ do lòng nhân ái hải hà của Thiên Chúa dành cho chúng ta mà thôi. Nhìn vào mình, chúng ta thấy rõ sự bất xứng và bất tài của chúng ta: bất xứng với ơn làm nghĩa tử, bất tài với ơn làm ngôn sứ và ơn làm người rao giảng Tin Mừng cứu độ!
Vậy thì tâm tình xứng hợp nhất mà chúng ta phải có ở đây là tâm tình chúc tụng, ngợi khen và cảm tạđối với Thiên Chúa là Cha yêu thương và quảng đại. Cách biết ơn tốt nhất, đẹp lòng Thiên Chúa nhất đã được chính Chúa Giêsu gói gọn trong một câu trong Phúc Âm: “Nhận cách nhưng không thì hãy cho đi cách nhưng không”
Tâm tình xứng hợp thứ hai là tâm tình khiêm nhường, xuất phát từ xác tín căn bản là: tất cả những gì chúng ta có, chúng ta nhận được đều từ Thiên Chúa, đều do Thiên Chúa ban cho. Thế thì chúng ta có gì mà vênh vang, tự đắc, mà kênh kiệu với chính mình hay với anh chị em chung quanh?
2.2 Mỗi ơn gọi và sứ mạng là một trách nhiệm nặng nề: Nhưng không chỉ có thế, vì mỗi ơn gọi, mỗi sứ mạng cũng là một trách nhiệm nặng nề mà chúng ta phải chu toàn. Để sống và thực thi ơn gọi làm ngôn sứ Amót đã phải chịu bao cảnh đắng cay tủi nhục và bị bách hại. Để sống và thực thi ơn gọi làm Con, chính Chúa Giêsu đã phải học biết vâng phục, vâng phục cho đến chết trên thập giá. Để sống và thực thi ơn gọi làm ngôn sứ và làm người rao giảng Tin Mừng Cứu độ, chính Đức Giêsu đã dân chúng và giới cầm quyền ghét bỏ và kết án tử hình như một tên tội phạm. Để sống và thực thi ơn gọi làm người rao giảng Tin Mừng Cứu độ, Phêrô, Phaolô và các tông đồ đã phải chịu muôn khổ hình và bị giết chết. Để sống và thực thi ơn gọi và sứ mạng làm người rao giảng Tin Mừng Cứu độ ở cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI này, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã thực hiện hơn một trăm cuộc tông du, đến gần một trăm nước trên thế giới, để chuyển lời Thiên Chúa đến với mọi người lớn bé già trẻ, giầu nghèo sang hèn; đến với mọi dân tộc đã phát triển, đang phát triển và chậm phát triển; đến với mọi thể chế chính trị xã hội tư bản, cộng sản hay xã hội chủ nghĩa. Ngài cũng đã tiếp trong các buổi triều yết không biết bao nhiêu triệu con người tìm đến với Ngài. Ngài cũng đã lên tiếng về hầu như tất cả các vấn đề liên quan tới đời sống con người: chiến tranh, hòa bình, vấn đề toàn cầu hóa, nạn phân biệt chủng tộc, nợ nước ngoài, tình trạng gia đình thoái hóa v.v…
Thế còn chúng ta? Dĩ nhiên chúng ta chỉ có một không gian và thời gian rất giới hạn để chúng ta sống và thực thi ơn gọi và sứ mạng làm con, làm ngôn sứ và làm người rao giảng Tin Mừng. Trước hết trong chính gia đình mỗi người. Sau đó trong môi trường giáo xứ. Và sau cùng trong môi trường nghề nghiệp, xã hội. Trong các môi trường ấy, chúng ta có thể hiện tư cách làm con của Thiên Chúa cho mọi người nhận thấy không? Chúng ta có dám nói lên tiếng nói của chân lý, bênh vực người nghèo, người bị áp bức bóc lột, chống lại bất công chính trị và xã hội không? Chúng ta có mạnh dạn loan báo Tin Mừng Tình Yêu Cứu độ cho mọi người xung quanh không? Để cụ thể hơn, chúng ta có thể tự hỏi những câu sau đây: Tôi đã giúp được mấy người nhận biết và tôn thờ Thiên Chúa? Tôi đã giúp được mấy người hay mấy gia đình khỏi cảnh nghèo đói túng thiếu? Tôi đã bênh vực và giải thoát được mấy nạn nhân khỏi tình trạng bóc lột, bất công, phân biệt đối xử, tệ nạn xã hội?
Có lẽ tâm tình xứng hợp nhất mà chúng ta phải có ở đây là tâm tình khiêm nhường và sám hối ăn năn vì chúng ta biết rất rõ rằng còn lâu chúng ta mới chu toàn được sứ mạng mà Thiên Chúa đã trao ban cho chúng ta.
III. CẦU NGUYỆN
Lạy Thiên Chúa là Cha yêu thương và nhân ái. Chúng con xin cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Cha vì Cha đã ban cho mỗi người chúng con: ơn gọi và sứ mạng làm con, ơn gọi và sứ mạng làm ngôn sứ, ơn gọi và sứ mạng làm người rao giảng Tin Mừng Cứu độ của Cha.
Những ơn gọi và sứ mạng ấy là những hồng ân cao quí mà Cha đã ban cho chúng con mặc dầu chúng con không xứng đáng một chút nào. Chúng con lại đã không ý thức được tầm vóc lớn lao của ơn huệ mà Cha đã ban. Chúng con không hình dung được tầm quan trọng của sứ mạng mà Cha đã tin tưởng giao cho chúng con. Nên chúng con chẳng có tâm tình chúc tụng, ngợi khen và cảm tạ cho xứng hợp. Chúng con cũng chẳng nỗ lực hết sức mình để sống và thi hành ơn gọi và sứ mạng ngôn sứ và rao giảng mà Cha đã giao.
Chúng con chỉ còn biết hổ thẹn trước mặt Cha mà thôi. Xin Cha hãy nhận lấy tâm tình hổ thẹn của chúng con, như của lễ duy nhất mà chúng con có khả năng dâng lên Cha, cùng với của lễ toàn thiêu là Chúa Giêsu Kitô, Con Cha, Chúa chúng con, trên thập giá. Amen.
Mc 6,7-13
Chúa nhật 15 Thường niên Năm B cho chúng ta biết chúng ta có ơn gọi và sứ mạng làm con, làm ngôn sứ và làm người rao giảng Tin Mừng Cứu độ của Thiên Chúa. Đó là những hồng ân lớn lao nhưng đồng thời cũng là những trách nhiệm nặng nề phải chu toàn. Chúng ta có thể học cùng thánh Phaolô và các Tông đồ, cũng như học cùng ngôn sứ Amót và nhất là học với chính Đức Giêsu Kitô để sống cách trọn hảo ơn gọi và sứ mạng làm con, làm ngôn sứ và người rao giảng Tin Mừng Cứu độ của Thiên Chúa.
I. LẮNG NGHE & TÌM HIỂU LỜI CHÚA
1.1 Bài đọc 1: Am 7,12-15: Nhờ lời giảng giải của Amót với tư tế Amátgia mà chúng ta hiểu được tại sao Amót trở thành ngôn sứ của Giavê Thiên Chúa: “Tôi không phải là ngôn sứ, cũng chẳng phải là người thuộc nhóm ngôn sứ. Tôi chỉ là người chăn nuôi súc vật và chăm sóc cây sung. Chính Đức Chúa đã bắt lấy tôi khi tôi đi theo sau đàn vật và Đức Chúa đã truyền cho tôi: Hãy đi truyền sấm cho Ítraen dân Ta”
Quả là Amót bị Thiên Chúa “cưỡng bức” làm ngôn sứ chứ bản thân ông không hề muốn làm công việc ấy chút nào. Vì ông biết rõ ông không có tài ăn nói trước công chúng và quan quyền. Cũng có thể vì ông sợ vì ông biết rõ rằng làm ngôn sứ thì chỉ có bị thua thiệt khi thi hành sứ vụ Thiên Chúa giao phó. Ngôn sứ Amót nổi tiếng về các sấm ngôn mà ngày nay chúng ta gọi là “sấm ngôn có tính phê phán xã hội” (prophétisme critique) khi lên án những tình trạng bất công xã hội: kẻ giầu sang, quyền thế bóc lột và áp bức người nghèo hèn. Mỗi một khi ngon sứ lên tiếng bênh vực người nghèo chống lại sự bất công và áp bức của người giầu sang quyền thế là quyền lợi và thậm chí mạng sống của vị ngôn sứ bị đe dọa. Ơn gọi ngôn sứ, theo nhãn quan phàm trần, là ơn gọi bạc bẽo. Nhưng trong nhãn quan của Thiên Chúa thì đó lại là ơn gọi đầy vinh quang vì ngôn sứ là sứ giả của Thiên Chúa, nói lời Thiên Chúa.
1.2 Bài đọc 2: Ep 1,3-14: Thánh Phaolô viết cho các tín hữu Ephêsô và mọi tín hữu khác về ơn gọi làm con và bao hồng ân cao quí khác mà Thiên Chúa đã khứng ban cho chúng ta trong Đức Kitô: “Trong Đức Kitô, từ cõi trời, Người đã thi ân giáng phúc cho ta hưởng muôn vàn ơn phúc của Thánh Thần. Trong Đức Kitô Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ, để trước thánh nhan Người, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ tình thương của Người. Theo ý muốn và lòng nhân ái của Người, Người đã tiền định cho ta làm nghĩa tử nhờ Đức Giêsu Kitô, dể ta hằng ngợi khen ân sủng rạng ngời, ân sủng Người ban tặng cho ta trong Thánh Tử yêu dấu”. Cùng với ơn làm nghĩa tử cao quí ấy, chúng ta còn được ơn nghe biết Tin Mừng Cứu độ và được Thánh Thần đóng dấu ấn để chúng ta được đảm bảo phần gia nghiệp của Thiên Chúa hứa ban cho dân riêng của Người.
1.3 Bài Tin Mừng: Mc 6,7-13: Thánh Máccô tường thuật việc Chúa Giêsu sai mười hai môn đệ đi rao giảng Tin Mừng, trừ quỉ và chữa lành người đau ốm bệnh tật. Các ông được Chúa ban quyền trên các thần ô uế. Các ông còn được Chúa căn dặn tỉ mỉ về hành trang phải chuẩn bị khi ra đi truyền giáo: “không mang gì đi đường, không được mang lương thực, bao bì, tiền giắt lưng, không được mang hai áo”. Các ông còn được Chúa căn dặn kỹ càng về cách ứng xử với mọi người khi được tiếp đón hoặc khi bị từ chối: ”Bất cứ ở đâu, khi anh em đã vào nhà nào, thì hãy ở lại đó cho đến lúc ra đi. Còn nơi nào người ta không đón tiếp và không nghe anh em, thì khi ra khỏi đó, hãy giũ bụi đất dưới chân để tỏ ý cảnh cáo họ” Phúc âm Máccô ghi lại kết quả khả quan mà các tông đồ gặt hái được khi làm theo chỉ thị của Chúa Giêsu: “Các ông đi rao giảng, kêu gọi người ta ăn năn sám hối. Các ông trừ được nhiều quỉ, xức dầu cho nhiều người đau ốm và chữa họ khỏi bệnh”.
II. ĐÓN NHẬN & SỐNG SỨ ĐIỆP LỜI CHÚA
2.1 Mỗi ơn gọi và sứ mạng là một niềm vinh quang và hạnh phúc: Ba bài Sách Thánh nói về ba ơn gọi, ba sứ mạng khác nhau của người tín hữu: ơn gọi và sứ mạng ngôn sứ, ơn gọi và sứ mạng làm nghĩa tử tức làm con và ơn gọi và sứ mạng rao giảng Tin Mừng cứu độ. Ơn gọi và sứ mạng nền tảng và quan trọng nhất của chúng ta là ơn gọi và sứ mạng làm con mà Thánh Phaolô đã trình bày trong thư gửi tín hữu Ephêsô. Ơn gọi và sứ mạng ngôn sứ và ơn gọi và sứ mạng rao giảng Tin Mừng là cùng một ơn gọi, cùng một sứ mạng, nhưng ở hai giai đoạn khác nhau của lịch sử. Mỗi ơn gọi là một niềm vinh quang lớn lao mà Thiên Chúa đã rộng lòng rộng tay ban cho chúng ta. Mỗi ơn gọi và sứ mạng là một nguồn hạnh phúc tầy trời mà chúng ta được hưởng cách “nhưng không”vì thật ra chúng ta chẳng có công lao gì trong đó cả, mà thuần túy chỉ do lòng nhân ái hải hà của Thiên Chúa dành cho chúng ta mà thôi. Nhìn vào mình, chúng ta thấy rõ sự bất xứng và bất tài của chúng ta: bất xứng với ơn làm nghĩa tử, bất tài với ơn làm ngôn sứ và ơn làm người rao giảng Tin Mừng cứu độ!
Vậy thì tâm tình xứng hợp nhất mà chúng ta phải có ở đây là tâm tình chúc tụng, ngợi khen và cảm tạđối với Thiên Chúa là Cha yêu thương và quảng đại. Cách biết ơn tốt nhất, đẹp lòng Thiên Chúa nhất đã được chính Chúa Giêsu gói gọn trong một câu trong Phúc Âm: “Nhận cách nhưng không thì hãy cho đi cách nhưng không”
Tâm tình xứng hợp thứ hai là tâm tình khiêm nhường, xuất phát từ xác tín căn bản là: tất cả những gì chúng ta có, chúng ta nhận được đều từ Thiên Chúa, đều do Thiên Chúa ban cho. Thế thì chúng ta có gì mà vênh vang, tự đắc, mà kênh kiệu với chính mình hay với anh chị em chung quanh?
2.2 Mỗi ơn gọi và sứ mạng là một trách nhiệm nặng nề: Nhưng không chỉ có thế, vì mỗi ơn gọi, mỗi sứ mạng cũng là một trách nhiệm nặng nề mà chúng ta phải chu toàn. Để sống và thực thi ơn gọi làm ngôn sứ Amót đã phải chịu bao cảnh đắng cay tủi nhục và bị bách hại. Để sống và thực thi ơn gọi làm Con, chính Chúa Giêsu đã phải học biết vâng phục, vâng phục cho đến chết trên thập giá. Để sống và thực thi ơn gọi làm ngôn sứ và làm người rao giảng Tin Mừng Cứu độ, chính Đức Giêsu đã dân chúng và giới cầm quyền ghét bỏ và kết án tử hình như một tên tội phạm. Để sống và thực thi ơn gọi làm người rao giảng Tin Mừng Cứu độ, Phêrô, Phaolô và các tông đồ đã phải chịu muôn khổ hình và bị giết chết. Để sống và thực thi ơn gọi và sứ mạng làm người rao giảng Tin Mừng Cứu độ ở cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI này, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã thực hiện hơn một trăm cuộc tông du, đến gần một trăm nước trên thế giới, để chuyển lời Thiên Chúa đến với mọi người lớn bé già trẻ, giầu nghèo sang hèn; đến với mọi dân tộc đã phát triển, đang phát triển và chậm phát triển; đến với mọi thể chế chính trị xã hội tư bản, cộng sản hay xã hội chủ nghĩa. Ngài cũng đã tiếp trong các buổi triều yết không biết bao nhiêu triệu con người tìm đến với Ngài. Ngài cũng đã lên tiếng về hầu như tất cả các vấn đề liên quan tới đời sống con người: chiến tranh, hòa bình, vấn đề toàn cầu hóa, nạn phân biệt chủng tộc, nợ nước ngoài, tình trạng gia đình thoái hóa v.v…
Thế còn chúng ta? Dĩ nhiên chúng ta chỉ có một không gian và thời gian rất giới hạn để chúng ta sống và thực thi ơn gọi và sứ mạng làm con, làm ngôn sứ và làm người rao giảng Tin Mừng. Trước hết trong chính gia đình mỗi người. Sau đó trong môi trường giáo xứ. Và sau cùng trong môi trường nghề nghiệp, xã hội. Trong các môi trường ấy, chúng ta có thể hiện tư cách làm con của Thiên Chúa cho mọi người nhận thấy không? Chúng ta có dám nói lên tiếng nói của chân lý, bênh vực người nghèo, người bị áp bức bóc lột, chống lại bất công chính trị và xã hội không? Chúng ta có mạnh dạn loan báo Tin Mừng Tình Yêu Cứu độ cho mọi người xung quanh không? Để cụ thể hơn, chúng ta có thể tự hỏi những câu sau đây: Tôi đã giúp được mấy người nhận biết và tôn thờ Thiên Chúa? Tôi đã giúp được mấy người hay mấy gia đình khỏi cảnh nghèo đói túng thiếu? Tôi đã bênh vực và giải thoát được mấy nạn nhân khỏi tình trạng bóc lột, bất công, phân biệt đối xử, tệ nạn xã hội?
Có lẽ tâm tình xứng hợp nhất mà chúng ta phải có ở đây là tâm tình khiêm nhường và sám hối ăn năn vì chúng ta biết rất rõ rằng còn lâu chúng ta mới chu toàn được sứ mạng mà Thiên Chúa đã trao ban cho chúng ta.
III. CẦU NGUYỆN
Lạy Thiên Chúa là Cha yêu thương và nhân ái. Chúng con xin cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Cha vì Cha đã ban cho mỗi người chúng con: ơn gọi và sứ mạng làm con, ơn gọi và sứ mạng làm ngôn sứ, ơn gọi và sứ mạng làm người rao giảng Tin Mừng Cứu độ của Cha.
Những ơn gọi và sứ mạng ấy là những hồng ân cao quí mà Cha đã ban cho chúng con mặc dầu chúng con không xứng đáng một chút nào. Chúng con lại đã không ý thức được tầm vóc lớn lao của ơn huệ mà Cha đã ban. Chúng con không hình dung được tầm quan trọng của sứ mạng mà Cha đã tin tưởng giao cho chúng con. Nên chúng con chẳng có tâm tình chúc tụng, ngợi khen và cảm tạ cho xứng hợp. Chúng con cũng chẳng nỗ lực hết sức mình để sống và thi hành ơn gọi và sứ mạng ngôn sứ và rao giảng mà Cha đã giao.
Chúng con chỉ còn biết hổ thẹn trước mặt Cha mà thôi. Xin Cha hãy nhận lấy tâm tình hổ thẹn của chúng con, như của lễ duy nhất mà chúng con có khả năng dâng lên Cha, cùng với của lễ toàn thiêu là Chúa Giêsu Kitô, Con Cha, Chúa chúng con, trên thập giá. Amen.