Chúa Nhật Lễ Giáng Sinh (Is. 52,7-10; Dt. 1.1-6; Ga. 1,1-18)
Hãy vui mừng, hãy cùng nhau ca ngợi, vì Chúa đã an ủi dân Người. Chúa đã xuống trần gian đem tin vui cứu độ. Tiên tri Isaia kêu gọi toàn dân hãy vui mừng lên, vì Chúa sẽ đến cứu chuộc Giêrusalem. Chúng ta có thể tưởng tượng khung cảnh của 2500 năm trước, từ Babylon Dân Chúa bị lưu đầy được trở về xứ sở. Miền đất hứa đã trở thành miền đất sa mạc hoang sơ và mọi sự đều phải khởi lại từ đầu. Đất đai, làng mạc, nhà cửa và ruộng vườn đều bị bỏ hoang. Trong cảnh tiêu điều của miền đất hứa năm xưa quạnh hưu vắng lạnh, tiên tri Isaia đã xuất hiện để khơi dậy trong lòng dân ngọn lửa tin yêu và hy vọng vì Chúa sẽ đến an ủi dân Người.
Chúng ta biết ngày xưa, các Tiên tri đi từng làng và từng vùng để rao giảng tin mừng. Trong cuộc sống thô sơ, không có các phương tiện truyền thông văn minh như sách vở, báo chí và thông tin kỹ thuật như ngày nay. Lời của tiên tri cũng bị giới hạn trong từng vùng, từng khu vực hoặc từng nhóm người. Tin mừng về ơn cứu rỗi chỉ được loan truyền giới hạn trong dân Chúa chọn. Chúng ta nhớ rằng không phải ai ai cũng phấn khởi lắng nghe và vui mừng hy vọng. Cuộc sống thực tế còn nhiều vấn đề gai góc và u uẩn phải đối diện. Sau thời gian đi lưu đầy xa xứ, lòng người đã bị nhiễm cách sống theo đa thần giáo của dân ngoại. Cũng có nhiều người đã ngã lòng về với bụt thần vô tri và sống chung đụng với những người ngoại tộc. Lòng tin yêu vào Thiên Chúa cũng bị nhạt nhòa qua những khổ ải cuộc đời.
Các tiên tri được Thiên Chúa sai đến với dân để loan báo về ơn cứu độ cả ngàn năm trước khi Đấng Cứu Thế xuất hiện. Những lời tiên tri đã dần dần được thực hiện cụ thể trong thời gian và không gian. Chúa Cứu Thế đã giáng trần trong lịch cử của nhân loại. Đây là một sự thật hoàn toàn trong lịch sử. Có rất nhiều nhân chứng đã sống chết vì Danh Thánh Chúa Giêsu. Một trong những vị thánh sử là Gioan. Thánh Gioan là một người đánh cá bên hồ, đã được Chúa Giêsu gọi và chọn làm tông đồ. Gioan được Chúa yêu thương dẫn đưa vào mầu nhiệm nước trời. Lời đầu trong phúc âm của thánh Gioan đã mạc khải một kho tàng thiêng liêng sâu thẳm nhất: Từ nguyên thủy đã có Ngôi Lời và Ngôi Lời vẫn ở với Thiên Chúa và Ngôi Lời vẫn là Thiên Chúa. Đây là lời mạc khải xác tín quan trọng về nguồn gốc của Con Thiên Chúa. Ngôi Lời hóa thành nhục thể và cư ngụ giữa chúng ta.
Thánh Gioan viết: Mọi vật đều do Người làm nên và không có Người, thì chẳng vật chi được tác thành. Người chính là nguyên lý và cùng đích của mọi tạo vật. Người chính là nguồn của sự sống và sự sáng. Sự sáng đã chiếu soi vào miền u tối của thế gian. Ánh sáng này chính là mặt trời công chính đang đẩy lùi đêm tối. Ai tiếp nhận sự sáng sẽ được lãnh nhận ơn cứu rỗi. Đã hai ngàn năm trôi qua, chúng ta nhận biết rằng ngày nay còn hơn hai phần ba nhân loại chưa được nhận biết Chúa. Nhiều người chưa bao giờ được nghe giảng tin mừng cứu độ. Nhưng cũng không thiếu số người dửng dưng khi nghe nói đến danh Chúa Giêsu Kitô. Và trong thời buổi văn minh kỹ thuật và xã hội tục hóa, nhiều người còn chối từ, nhạo báng và khinh dể danh Chúa.
Thánh Gioan viết: Người đến nhà các gia nhân Người và các gia nhân Người đã không tiếp nhận Người. Con người thích sống trong bóng đêm hơn là bước đi trong ánh sáng. Có nhiều người không muốn ngước nhìn lên trời cao mà chỉ muốn cúi xuống đi tìm thỏa mãn những nhu cầu của bản năng. Chúa Giêsu đã đến thế gian đem tin vui cứu rỗi. Nhưng để lãnh nhận ơn cứu độ, mỗi người phải phấn đấu trường kỳ để đạt tới. Chúa ban ánh sáng chan hòa nhưng điều kiện tiên quyết là chúng ta phải mở cửa tâm hồn để ánh sáng dọi thấu. Nếu lòng chúng ta khóa chặt và loại trừ, tin mừng cứu độ không thể giải thoát chúng ta. Chúng ta cần tiếp nhận và mở rộng tâm hồn đón nhận ân sủng Chúa Kitô để ơn cứu độ nở hoa.
Tác giả của thơ Do-thái đã diễn tả: Thuở xưa, nhiều lần và dưới nhiều hình thức, Thiên Chúa đã phán dậy cha ông chúng ta qua các tiên tri. Trong những ngày sau hết, Ngài phán dậy chúng ta qua người Con. Chương trình cứu độ trải dài qua các thời đại từ thời các tổ phụ cho đến thời đại của chúng ta. Thiên Chúa đã dẫn dắt Dân Chúa qua từng khúc quanh lịch sử để tỏ bày sự nhiệm mầu. Mọi biến cố của thời Cựu Ước đều có ẩn ý mở đường cho ơn cứu độ. Thiên Chúa chọn một tổ phụ Abraham là cha của một dân tộc. Dân Chúa bị lưu lạc sang Ai-cập. Chúa cứu thoát dân ra khỏi Ai-cập trong biến cố Vượt Qua. Chúa ban Manna và nước uống chảy từ tảng đá trong hoang địa. Những kẻ phạm tội bị rắn cắn, nhìn lên rắn đồng được cứu sống. Dân bị lưu đầy bên Assyria và Balylon rồi được trả tự do trở về. Những biến cố của qúa khứ đều là hình bóng mang ý nghĩa trong chương trình cứu độ. Thiên Chúa luôn đồng hành với Dân Ngài trong mọi biến cố thăng trầm của cuộc sống.
Khi thời gian đã mãn, Thiên Chúa sai chính Con Một của Ngài xuống thế gian. Lời mạc khải qua thơ gởi tín hữu Do-thái: Tất cả các thiên thần Chúa hãy thờ lạy Ngài. Vậy chính Ngài là Thái Tử của Thiên Chúa Cha. Con Thiên Chúa đã giáng trần để mang ơn cứu độ và dẫn đưa chúng ta về cùng Chúa Cha. Mỗi Kitô hữu được tháp nhập trong nhiệm thể của Chúa Kitô. Chúng ta được hưởng nhờ ơn cứu độ, được gọi là con và được chung hưởng hạnh phúc đời sau. Đây là mầu nhiệm Nhập Thể và Cứu Độ.
Chúng ta hân hoan đón mừng Chúa và hãy đến thờ kính Chúa. Ngài là trung tâm của vũ trụ và là cùng đích của mọi tạo vật. Cho dù chúng ta có chấp nhận hay từ chối Chúa, Chúa vẫn luôn yêu thương và ban ơn cứu độ. Chúng ta không thể hiểu thấu mầu nhiệm của tình yêu Thiên Chúa. Thiên Chúa là tình yêu. Tình yêu sẽ thỏa mãn tất cả mọi tìm kiếm, khắc khoải và ước mơ của con người. Ai sống trong tình yêu là sống trong Chúa.
Mừng Lễ Giáng Sinh là lễ của tình yêu. Chúa đã trao ban tình yêu giao hòa, tình yêu hiến dâng, tình yêu tha thứ, tình yêu xót thương và tình yêu nối kết. Vì yêu nhân loại, Chúa Giêsu Kitô đã chấp nhận hóa thân làn người để cùng đồng hành với con người. Chúa Giêsu đã sống và rao giảng qua lời nói và việc làm. Ngài thực hiện các phép lạ ngoại thường, xua trừ ma quỷ, cứu chữa các bệnh nhân và cho kẻ chết sống lại. Cuối cùng, Ngài đã chấp nhận mọi cay đắng, ghen ghét, thù hành, tẩy chay và giết bỏ để hiến thân làm của lễ đền tội cho nhân loại.
Lạy Chúa, đã bao lần chúng con thờ ơ, nhắm mắt, bịt tai và khóa hồn không nhận biết ân sủng của Chúa. Xin Chúa tha thứ mọi tội lỗi của chúng con và ban ơn cứu độ. Xin cho chúng con biết rộng mở tâm hồn đón mừng Chúa. Chúng con cùng chung tiếng hát: Vinh danh Thiên Chúa trên trời. Bình an dưới thế cho người thiện tâm.
Hãy vui mừng, hãy cùng nhau ca ngợi, vì Chúa đã an ủi dân Người. Chúa đã xuống trần gian đem tin vui cứu độ. Tiên tri Isaia kêu gọi toàn dân hãy vui mừng lên, vì Chúa sẽ đến cứu chuộc Giêrusalem. Chúng ta có thể tưởng tượng khung cảnh của 2500 năm trước, từ Babylon Dân Chúa bị lưu đầy được trở về xứ sở. Miền đất hứa đã trở thành miền đất sa mạc hoang sơ và mọi sự đều phải khởi lại từ đầu. Đất đai, làng mạc, nhà cửa và ruộng vườn đều bị bỏ hoang. Trong cảnh tiêu điều của miền đất hứa năm xưa quạnh hưu vắng lạnh, tiên tri Isaia đã xuất hiện để khơi dậy trong lòng dân ngọn lửa tin yêu và hy vọng vì Chúa sẽ đến an ủi dân Người.
Chúng ta biết ngày xưa, các Tiên tri đi từng làng và từng vùng để rao giảng tin mừng. Trong cuộc sống thô sơ, không có các phương tiện truyền thông văn minh như sách vở, báo chí và thông tin kỹ thuật như ngày nay. Lời của tiên tri cũng bị giới hạn trong từng vùng, từng khu vực hoặc từng nhóm người. Tin mừng về ơn cứu rỗi chỉ được loan truyền giới hạn trong dân Chúa chọn. Chúng ta nhớ rằng không phải ai ai cũng phấn khởi lắng nghe và vui mừng hy vọng. Cuộc sống thực tế còn nhiều vấn đề gai góc và u uẩn phải đối diện. Sau thời gian đi lưu đầy xa xứ, lòng người đã bị nhiễm cách sống theo đa thần giáo của dân ngoại. Cũng có nhiều người đã ngã lòng về với bụt thần vô tri và sống chung đụng với những người ngoại tộc. Lòng tin yêu vào Thiên Chúa cũng bị nhạt nhòa qua những khổ ải cuộc đời.
Các tiên tri được Thiên Chúa sai đến với dân để loan báo về ơn cứu độ cả ngàn năm trước khi Đấng Cứu Thế xuất hiện. Những lời tiên tri đã dần dần được thực hiện cụ thể trong thời gian và không gian. Chúa Cứu Thế đã giáng trần trong lịch cử của nhân loại. Đây là một sự thật hoàn toàn trong lịch sử. Có rất nhiều nhân chứng đã sống chết vì Danh Thánh Chúa Giêsu. Một trong những vị thánh sử là Gioan. Thánh Gioan là một người đánh cá bên hồ, đã được Chúa Giêsu gọi và chọn làm tông đồ. Gioan được Chúa yêu thương dẫn đưa vào mầu nhiệm nước trời. Lời đầu trong phúc âm của thánh Gioan đã mạc khải một kho tàng thiêng liêng sâu thẳm nhất: Từ nguyên thủy đã có Ngôi Lời và Ngôi Lời vẫn ở với Thiên Chúa và Ngôi Lời vẫn là Thiên Chúa. Đây là lời mạc khải xác tín quan trọng về nguồn gốc của Con Thiên Chúa. Ngôi Lời hóa thành nhục thể và cư ngụ giữa chúng ta.
Thánh Gioan viết: Mọi vật đều do Người làm nên và không có Người, thì chẳng vật chi được tác thành. Người chính là nguyên lý và cùng đích của mọi tạo vật. Người chính là nguồn của sự sống và sự sáng. Sự sáng đã chiếu soi vào miền u tối của thế gian. Ánh sáng này chính là mặt trời công chính đang đẩy lùi đêm tối. Ai tiếp nhận sự sáng sẽ được lãnh nhận ơn cứu rỗi. Đã hai ngàn năm trôi qua, chúng ta nhận biết rằng ngày nay còn hơn hai phần ba nhân loại chưa được nhận biết Chúa. Nhiều người chưa bao giờ được nghe giảng tin mừng cứu độ. Nhưng cũng không thiếu số người dửng dưng khi nghe nói đến danh Chúa Giêsu Kitô. Và trong thời buổi văn minh kỹ thuật và xã hội tục hóa, nhiều người còn chối từ, nhạo báng và khinh dể danh Chúa.
Thánh Gioan viết: Người đến nhà các gia nhân Người và các gia nhân Người đã không tiếp nhận Người. Con người thích sống trong bóng đêm hơn là bước đi trong ánh sáng. Có nhiều người không muốn ngước nhìn lên trời cao mà chỉ muốn cúi xuống đi tìm thỏa mãn những nhu cầu của bản năng. Chúa Giêsu đã đến thế gian đem tin vui cứu rỗi. Nhưng để lãnh nhận ơn cứu độ, mỗi người phải phấn đấu trường kỳ để đạt tới. Chúa ban ánh sáng chan hòa nhưng điều kiện tiên quyết là chúng ta phải mở cửa tâm hồn để ánh sáng dọi thấu. Nếu lòng chúng ta khóa chặt và loại trừ, tin mừng cứu độ không thể giải thoát chúng ta. Chúng ta cần tiếp nhận và mở rộng tâm hồn đón nhận ân sủng Chúa Kitô để ơn cứu độ nở hoa.
Tác giả của thơ Do-thái đã diễn tả: Thuở xưa, nhiều lần và dưới nhiều hình thức, Thiên Chúa đã phán dậy cha ông chúng ta qua các tiên tri. Trong những ngày sau hết, Ngài phán dậy chúng ta qua người Con. Chương trình cứu độ trải dài qua các thời đại từ thời các tổ phụ cho đến thời đại của chúng ta. Thiên Chúa đã dẫn dắt Dân Chúa qua từng khúc quanh lịch sử để tỏ bày sự nhiệm mầu. Mọi biến cố của thời Cựu Ước đều có ẩn ý mở đường cho ơn cứu độ. Thiên Chúa chọn một tổ phụ Abraham là cha của một dân tộc. Dân Chúa bị lưu lạc sang Ai-cập. Chúa cứu thoát dân ra khỏi Ai-cập trong biến cố Vượt Qua. Chúa ban Manna và nước uống chảy từ tảng đá trong hoang địa. Những kẻ phạm tội bị rắn cắn, nhìn lên rắn đồng được cứu sống. Dân bị lưu đầy bên Assyria và Balylon rồi được trả tự do trở về. Những biến cố của qúa khứ đều là hình bóng mang ý nghĩa trong chương trình cứu độ. Thiên Chúa luôn đồng hành với Dân Ngài trong mọi biến cố thăng trầm của cuộc sống.
Khi thời gian đã mãn, Thiên Chúa sai chính Con Một của Ngài xuống thế gian. Lời mạc khải qua thơ gởi tín hữu Do-thái: Tất cả các thiên thần Chúa hãy thờ lạy Ngài. Vậy chính Ngài là Thái Tử của Thiên Chúa Cha. Con Thiên Chúa đã giáng trần để mang ơn cứu độ và dẫn đưa chúng ta về cùng Chúa Cha. Mỗi Kitô hữu được tháp nhập trong nhiệm thể của Chúa Kitô. Chúng ta được hưởng nhờ ơn cứu độ, được gọi là con và được chung hưởng hạnh phúc đời sau. Đây là mầu nhiệm Nhập Thể và Cứu Độ.
Chúng ta hân hoan đón mừng Chúa và hãy đến thờ kính Chúa. Ngài là trung tâm của vũ trụ và là cùng đích của mọi tạo vật. Cho dù chúng ta có chấp nhận hay từ chối Chúa, Chúa vẫn luôn yêu thương và ban ơn cứu độ. Chúng ta không thể hiểu thấu mầu nhiệm của tình yêu Thiên Chúa. Thiên Chúa là tình yêu. Tình yêu sẽ thỏa mãn tất cả mọi tìm kiếm, khắc khoải và ước mơ của con người. Ai sống trong tình yêu là sống trong Chúa.
Mừng Lễ Giáng Sinh là lễ của tình yêu. Chúa đã trao ban tình yêu giao hòa, tình yêu hiến dâng, tình yêu tha thứ, tình yêu xót thương và tình yêu nối kết. Vì yêu nhân loại, Chúa Giêsu Kitô đã chấp nhận hóa thân làn người để cùng đồng hành với con người. Chúa Giêsu đã sống và rao giảng qua lời nói và việc làm. Ngài thực hiện các phép lạ ngoại thường, xua trừ ma quỷ, cứu chữa các bệnh nhân và cho kẻ chết sống lại. Cuối cùng, Ngài đã chấp nhận mọi cay đắng, ghen ghét, thù hành, tẩy chay và giết bỏ để hiến thân làm của lễ đền tội cho nhân loại.
Lạy Chúa, đã bao lần chúng con thờ ơ, nhắm mắt, bịt tai và khóa hồn không nhận biết ân sủng của Chúa. Xin Chúa tha thứ mọi tội lỗi của chúng con và ban ơn cứu độ. Xin cho chúng con biết rộng mở tâm hồn đón mừng Chúa. Chúng con cùng chung tiếng hát: Vinh danh Thiên Chúa trên trời. Bình an dưới thế cho người thiện tâm.