Chuyện Phiếm Đạo Đời: Suy tư Lời Chúa qua cuộc sống
“Chao ôi! Ghê quá! Chao ghê quá!”
“Cảm thấy hồn tôi ớn lạnh rồi.”
(dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)
Mt 21: 33-43
Hồn tôi ớn lạnh rồi, chẳng phải vì “một vũng cô liêu cũ vạn đời”. “Chao ơi ghê quá! Ghê ghê quá!” phải chăng vì thợ vườn nho giết cả con của chủ vườn, thật đáng trách. Đáng chê trách, như dụ ngôn truyện kể ở trình thuật hôm nay.
Trình thuật, nay thánh sử ghi về dụ ngôn vườn nho, có người chủ gửi cả con mình đến với tá điền để hỏi chuyện. Chuyện Nước Trời. Chuyện, Chúa phú ban cho dân con Do Thái mọi ơn lành để sinh lợi. Ngài còn sai phái cả ngôn sứ đến chăm nom vườn nho để không bị ai phá. Nhưng, họ lại giết hại cả Người Con được sai phái, lẫn vườn nho Nước Trời, để rồi phải chịu hậu quả đắng cay là người La Mã đến xâm chiếm. Trên thực tế, vườn nho Nước Trời không bi phá, nhưng lại đã trao cho dân con đi Đạo, nay là tá điền mới.
Trình thuật tả sự thay đổi đến với nho vườn hiền hoà. Rồi từ đó, có so sánh dân con đi Đạo với tá điền Do thái, để xem ai thực hiện điều Ngài uỷ thác? Dân con đi Đạo hay tá điền được chọn, ai là người đáng được khuyến khích? Dân con Nước Trời có khá hơn tá điền Do thái được chọn không? Là tá điền mới, dân con đi Đạo có hứng chịu cùng một cảnh huống như tá điền được chọn không? Mọi việc sẽ ra sao, nếu như công việc Vườn Nho không còn đuợc trao cho tá điền mới là dân con đi Đạo nữa?
Kinh thánh có nhiều đoạn ghi rõ những chuyện như thế. Những chuyện kể, để người đọc nhận ra rằng dân con đi Đạo ở Palestine cũng là người thuộc sắc tộc Do thái, đã hồi hướng trở về để lo việc Chúa. Họ là những tá điền vườn nho Do thái từng chỉ trích người cận thân và cận lân ở cộng đoàn, bằng ngôn từ khá nặng, cốt để diễn tả tình huống gay go ấy.
Lâu nay, nhiều người vẫn quan niệm là: chúng ta nhờ biết được cung cách rất khác biệt về nguồn gốc người Do thái ở “vườn nho”, nên ta có được lập trường thật đúng cách khi quan hệ với nguời Do thái trong/ngoài nước. Trong quan hệ với họ, ta luôn có trong đầu hai loại người Do thái rất khác biệt. Cả hai đều tốt lành. Tốt, cả về mặt thiêng liêng tinh thần cũng như thực tế. Và, ta còn nhận ra được rằng: quà tặng Chúa ban, ta nhận được là ngang qua người Do thái được Chúa chọn để chuyển trao. Và, khi ta cảm kích biết ơn Chúa, ta cũng cảm tạ cả người Do thái về vai trò chuyển tải này nữa.
So sánh thái độ của dân con đi Đạo với đám tá điền Do thái, là để nói về người Do thái xưa sống ở thời mà mọi thứ từ tôn giáo đến chính trị, xã hội đều đan kết nhau thành đặc trưng đặc sủng, rất Do thái. Có so sánh, mới thấy là thế giới của người xưa đi Đạo vẫn ôm đồm nhiều thứ như cung cách của xã hội ngàn năm văn hiến. Và so sánh, để thấy rằng: tôn giáo của người xưa không mang tính chất đa nguyên/đa dạng hoặc dân chủ phóng/khoáng như một số tôn giáo khác.
Tuy nhiên, cung cách giữ đạo của người xưa dính dấp nhiều vào xã hội đều mang lại khó khăn cho riêng mình. Loại hình ấy, là loại hình trọng nam khinh nữ. Loại hình chủ trương thứ luật lệ cứng ngắc, khắc nghiệt. Cả những chuyện như tiền bạc, tài chánh, chính trị, nhất nhất đều không coi trọng thể chế nào khác ngoài Israel ra.
Bởi thế nên, khi Đạo Chúa lan rộng qua khắp mọi miền đất nước ở trời Âu để rồi bén rễ sâu ở phương Tây lâu ngày, lại trở thành tôn giáo rất khác biệt. Khác, ở chỗ: người thời đó vẫn so sánh Đạo Chúa với đạo của người Do thái như soi tấm gương hai mặt của cùng một thực trạng con người. Đạo Chúa ở trời Tây khi ấy, đã trở thành thứ tôn giáo đi sâu vào lòng dân tộc, ở nhiều nước. Đi sâu và lan rộng, bằng nền tảng chính trị, kinh tế cũng như luật lệ, rất riêng biệt. Đạo Chúa ở nơi đó, không còn là thể chế bao gồm nhiều thứ, nhưng vẫn tạo được ảnh hưởng rất mạnh lên thế giới xung quanh mình. Thế giới, mang đến cho Đạo những ân huệ khả dĩ gây tác dụng ngược lên Đạo. Nói cách khác, Đạo Chúa không còn là đạo của người Do thái khi xưa và chẳng còn ôm đồm nhiều thứ, như trước nữa.
Điều lạ kỳ, là: người Do thái nay lại muốn có lại những lợi lộc rút từ thế giới trần tục, ở trời Tây. Họ không còn suy nghĩ như người Tây phương khi trước hoặc nghĩ mình buộc phải thích nghi với cung cách giữ Đạo mà người đi Đạo ở trời Tây, vẫn hay làm. Nghĩa là, họ chẳng khi nào cho mình là phó thường dân đi Đạo (như những người Công giáo hay Thệ phản thường làm thế). Hoặc, cho rằng mình chỉ là giáo dân hạng thứ, dù vẫn ở trong Đạo. Vẫn giữ Đạo. Họ nghĩ mình vẫn là người Do thái đích thật. Và Chúa vẫn thương yêu họ, như mọi người.
Nhìn vào Hội thánh 50 năm về trước, người giữ Đạo ở trời Tây cũng sống cùng kiểu như người Do thái. Cũng tin vào Đức Chúa. Cũng đi nhà thờ nhà thánh và lãnh đủ mọi bí tích. Nhưng, lại xây dựng một thế giới theo hình thức đạo giáo, kiểu Tây. Tựa như các làng mạc miền quê nước Úc, hoặc vài thị trấn ở Hoa Kỳ, cuộc sống Đạo/đời là thế. Cũng có nhà thờ riêng. Nhà thờ, là trung tâm tạo cuộc sống hăng say, năng nổ cho mọi người. Cũng có trường Đạo. Có hội từ thiện. Có người mở tiệm vẫn rập theo cung cách người có Đạo, rất lương thiện. Có nơi, còn thiết lập cả nhà thương để thương người bệnh. Có đời sống kinh kệ, đạo hạnh. Có câu lạc bộ thể thao, giải trí theo cách con nhà có Đạo, nữa. Tức, sống như người Công giáo vẫn sống. Sống giữa đời có cuộc sống tuy hai mà một.
Ngày hôm nay, cuộc sống của người đi Đạo không còn thế nữa. Người người được giáo dục theo khuôn khổ thế giới rộng lớn. Người người được đào tạo để có cuộc sống doanh thương chức nghiệp rộng lớn đến độ Hội thánh không còn chen chân ở đó nữa. Người Công giáo trở thành nhà giáo, chuyên gia hoặc doanh thương với ngành nghề khác nhau. Hội thánh chỉ có vai trò hướng dẫn để sống Đạo chứ không là người thiết lập ra thể chế. Và, người sống ở đây đã có lý lịch riêng của thế giới này, trước khi là thành viên của Hội thánh.
Có người quan niệm: hai lối sống ấy đều đáng quan ngại. Bởi, do chạy theo lối sống giống như thế Hội thánh đã để mất căn tính riêng của mình. Bởi thế nên, nhiều người mới có tinh thần nệ cổ, là vì muốn trở về với thời xưa, khá cổ lỗ. Muốn trở lại thời có đủ mọi thứ. Thời, mà thế giới nay gặp khủng hoảng nặng nề về luân lý, chuyên chú vào văn hoá của sự chết. Và thế giới nay chẳng giúp giải quyết được sự phân cách giàu/nghèo. Theo quan niệm của họ, thế giới hôm nay không còn chất xúc tác khích lệ nền luân lý đích thực được nữa. Và, Hội thánh ở trời Tây nay cũng thế. Hội thánh cứ phải nhượng bộ và xuống cấp. Hội thánh, không còn là “tôn giáo” đích thực, nhưng chỉ còn mang nhãn hiệu đẹp có được từ cuộc sống hiện đại, thôi.
Trong khi đó, phần đông người Công giáo lại nghĩ khác. Theo họ, lối sống Đạo của người ở trời Tây chẳng có gì khiến ta xấu hổ, nhưng vẫn là một thách đố, cho mọi người. Thách và đố, ta tìm ra Thiên Chúa ở xã hội mình sống. Thách và đố mình học hỏi làm người của Chúa ở thế giới tục phàm này.
Điều đáng buồn, là: nhiều năm qua, phương Tây từng phát triển/nở rộ rất nhiều thứ. Và, Hội thánh mình đã tìm ra được chỗ đứng trong đó. Trong khi người Do thái lại không làm được điều gì tốt lành theo nghĩa đùm bọc về văn hoá, chính trị, kỹ nghệ và quân sự. Họ ra như chỉ thuộc hàng thứ yếu trong một thế giới quá lớn rộng. Ngày nay, người Công giáo lại vẫn nghĩ Đạo của mình tốt lành hơn đạo của người Do thái. Thật ra, thì Đạo Chúa ở trời Tây đang trên đà suy sụp. Trong khi đó, người Do thái lại tìm đuợc đất lành năm xưa. Tìm được tâm hồn mình. Và họ đang minh chứng cho thế giới thấy được chuyện này.
Chuyện này, áp dụng cả cho người Hồi giáo lẫn người Do thái, ở các nơi. Người Hồi giáo tuy cũng có nguồn gốc từ thế giới cổ xưa vốn thừa hưởng giáo huấn của vị “ngôn sứ” lấy kinh Koran làm kim chỉ nam dẫn đường. Có luật Sha’aria hướng dẫn để sống đúng tinh thần của Kinh Sách. Họ là người tự coi mình như một kết hợp giữa xã hội và tôn giáo.
Buốn một chuyện, là: người Đạo Chúa và đạo Hồi vẫn chơi trò tranh chấp khích bác nhau. Cả hai lại không chấp nhận rằng mình khác nhau; và chẳng nhận chân ra rằng chính Chúa đã làm cho ta ra khác biệt. Khác biệt, theo hướng tích cực khiến ta nhớ lại chuyện kể về một bé em Do thái dám hỏi vị thượng tế câu động trời rằng:“Làm sao các ngài chứng minh được con người là hình ảnh của Thiên Chúa nếu như mọi người có khác biệt?” Vị thượng tế nghe hỏi bèn trả lời rất khôn khéo: “Sở dĩ ta là hình ảnh của Thiên Chúa là vì ta có khác biệt, đấy bé ạ!”
Vế với dụ ngôn hôm nay, mọi người đều thấy: Thiên Chúa là chủ vườn nho rộng lớn. Và, Ngài vẫn muốn có hoa trái vườn nho tạo ra. Và Ngài còn muốn cả rượu ngon từ hoa quả chín mộng ấy nữa. Rượu ngon Ngài uống, là do thợ vườn khác biệt làm ra. Khác, cả tính tình lẫn cách trồng trọt và biến hoa trái thành rượu, từ những khác biệt đó.
Trong tâm tình nhận ra ý Chúa tìm rượu ngon từ khác biệt, cũng nên ngâm câu thơ còn để dở:
“Chao ôi! Ghê quá trong tư tưởng,
Một vũng cô liêu, cũ vạn đời!”
(Hàn Mặc Tử - Cô Liêu)
Bởi cô liêu, nên mới không nhận ra khác biệt. Bởi khác biệt, nên đôi lúc cũng tạo cô liêu. Đời sẽ thế, nếu người người cứ như thế. Như thợ vườn nho ở dụ ngôn xưa và hôm rày ta vẫn thấy. Dài dài.
Lm Nguyễn Đức Vinh Sanh - Mai Tá lược dịch.
“Có phải em, mùa Thu Hà Nội?”
“Tuổi phong sương, ta cũng gắng đi tìm.
Có phải em, mùa Thu xưa?
Có bong mùa Thu, thức ta lòng son muộn?”
(Trần Quang Lộc – Có Phải Em Mùa Thu Hà Nội)
(Mt 22: 18, 29-30)
Âu cũng là chuyện bình thường. Ở đời. Khi, người người vẫn cứ vấp phải đôi ba lỗi lầm lớn/nhỏ, trong quan hệ với người đời. Để rồi, cũng có lúc ta sẽ hối tiếc, mà thốt lên câu: “Thật không có cái dại nào như dại nào.”
Bần đạo đây, đôi lúc cũng rơi vào tình huống khá “lấn cấn”, gần như thế. Gần nhất, là như trong chuyến Mỹ du tháng 6/2011 vừa qua, bần đạo đã khám phá ra được sự thật rất chết người. Sự thật, ấy là: hơn 3 năm về hưu nằm nhà, mà sao bần đạo nào thấy dài! Bởi, có ra đi mà kết thân với người ngoài -ngoài Đạo/ngoài đời- thì người người mới thấy mình đôi khi cũng lung túng không ít với các chức sắc hoặc đấng bậc, ở cơ quan.
Thấy họ làm việc tất bật, vật vã đã không thương thì thôi, lại cứ hỏi những câu dư thừa, như: “Busy, busy?” (tức, bận nhỉ?) Để rồi, người đối tác, đã không trả lời/trả vốn thôi, còn hỏi lại: “Phải ông ở Sydney không? Qua đây lâu chưa? Mới có 2 chục năm tức hơn hai thập niên mà không biết là: phi trường Ascot Sydney này cũng bận rộn không kém gì nơi khác như New York, Paris, London hay sao mà còn hỏi? Đúng là câu hỏi thuộc loại vớ vẩn. Không hay lắm!...”
Hú vía! Đó là bần đạo chỉ máy miệng, hỏi có bốn chữ thôi, cũng đã được lời gấp trăm, liên tu hồ điệp tràng pháo tung trời, nổ lốp đốp. Và, lộp độp. Bất chợt nhìn lại sắc da mầu áo của chức sắc ở cơ quan di trú phi trường mới biết: ngài không phải người Tây, mà là “thầy người”, tức bậc thầy Án Độ, rất “fakir”! Thế mới biết, sống ở đời mà cứ lân la chuyện vãn với người “ngoài luồng”, cũng nên nhìn trước nhìn sau mà đoán chừng, đừng tính toán qua loa. Sơ xài. E sẽ hớ!
Chẳng thế mà, nghệ sĩ họ Trần ở trên vẫn hỏi và hát, những câu ngớ ngẩn, mà đâu sao:
“Có phải em là mùa thu Hà Nội
Ngày sang thu anh lót lá em nằm
Bên trời xa sương tóc bay.
Thôi thì có em đời ta hy vọng
Thôi thì có em sương khói môi mềm.”
(Trần Quang Lộc – bđd)
Về hỏi han, dù chỉ sơ qua dăm ba câu chuyện hỏi làm quà, nhiều lúc cũng làm ta rối rắm, rất không ít. Có khi, cũng phức tạp cho người hỏi lẫn người trả lời như cuộc hỏi/đáp dưới đây:
“-Đúng thế không? Cuộc tình của anh chị kéo dài những 15 năm sau đó mới đi đến hôn nhân?
-Điều này không sai. Nhưng, trước khi đi đến hôn nhân, bọn tôi vẫn có một cuộc tình với nhau kéo dài những 15 năm 2 tháng và 1 ngày.
-Thế, anh chị làm gì trong thời gian chờ đợi dài như thế?
-Đơn giản là: trong thời gian đó, chúng tôi đều có gia đình riêng...”
Về đáp trả, đôi lúc dù chẳng giản đơn như hỏi đáp ghi trên; chí ít, là hỏi và đáp về hôn nhân, tức: được hôn (người có lòng) nhân, lại có nhân (duyên cũng dễ) hôn. Hôn nhân/nhân hôn ở đời, toàn những thế. Những chuyện rất ư là rắc rối. Có ở đời.
Nơi nhà Đạo, cũng không tránh khỏi cảnh rối rắm thường dẫn đến nhiều chuyện khá phức tạp khác. Tức những chuyện rắc rối, tối nằm không. Chí ít là khi: cả hai bên đã yêu nhau thật tình, quyết thể hiện tình yêu ấy suốt đời; mà vẫn gặp nhiều vụ việc khá phiền phức về giáo luật, đáng kể như sau:
Đáng kể, là đáng để kể lể và hỏi han có mỗi chuyện như thế này:
“Tụi con yêu nhau và chịu cưới nhau đã là điều tốt rồi, nhưng sao lại cứ phải đưa nhau vào nhà thờ mới được phép làm lễ cưới theo đúng qui cách của Đạo Công giáo. Như thế nghĩa là sao? Các cặp vợ chồng cưới nhau “ngoài nhà thờ” còn có ý nghĩa gì? Xin giải thích cho biết. (Ký tên một người Công giáo hay thắc mắc).
Giả như người hỏi gửi các câu thắc mắc đến đấng bậc phụ trách mục gỡ rối tơ lòng về Đạo hạnh, thì chẳng có gì đáng gọi là “một người Công giáo hay thắc mắc” hết. Bởi, cha cố ở nhà Đạo luôn cần những người cứ thắc mắc những chuyện đại loại như thế, để có cơ mà giải thích. Chứ, bằng không, chẳng lẽ lại treo văn bằng cử nhân thần học lên tường gạch cho con trẻ nó ngắm nghía sao? Bởi thế nên, đấng bậc ở Sydney luôn sốt sắng trả lời/thời trả cả vốn, như sau:
“Câu hỏi của cô (xin phép được gọi bằng “cô” cho thân mật), là điều rất hệ trọng. Ngày nay, nhiều bạn vẫn đi nhà thờ giữ Đạo, nhưng lại không mấy am tường qui định của Hội thánh liên quan chuyện cưới hỏi. Thậm chí có vị từng làm đám cưới “ngoài nhà thờ” mà không hay biết hậu quả có thể xảy ra, nữa.
Trước hết, xin bắt đầu bằng một giải thích xem thế nào là “đám cưới ngoài nhà thờ”. Cụm từ này, dù gì đi nữa, cũng không là danh từ chuyên môn gì cho cam, mà chỉ muốn nói đến cung cách tổ chức đám cưới đã được Hội thánh chuẩn nhận, cho làm “trong nhà thờ”, vậy thôi.
Điều 1108 nơi Giáo luật đòi rằng: đám cưới giữa người theo Đạo Công giáo chỉ hiệu lực nếu thuận theo qui định của Hội thánh, tức: phải có sự hiện diện của ít là một linh mục, hoặc vị phó tế; và thêm vào đó, là hai người chứng, như thế mới thành. Trong lễ cưới như thế, vị linh mục hoặc phó tế phải yêu cầu cả hai cô dâu chú rể phải bày tỏ sự đồng thuận, rất rõ ràng.
Có làm như thế, thì hai vợ chồng mới được coi là đã làm đám cưới “trong nhà thờ”, theo phép Đạo. Và, đám cưới của hai người mới hợp lệ được. Về đòi hỏi phải có sự chứng giám của một linh mục hoặc phó tế và hai người chứng được gọi là “đám cưới theo khuôn phép rất đúng” như luật định.
Trong một số trường hợp, Hội thánh có thể châm chước chuẩn miễn để hai người không buộc phải theo khuôn khổ như luật định. Chẳng hạn như: nếu một bên là người Công giáo đi cưới một người không phải Công giáo nhưng đã được rửa tội (theo Đạo Chúa như bên Tin Lành) thì hai người có thể yêu cầu được phép làm đám cưới “trong nhà thờ” của người bên Đạo Chúa Kitô mà không phải là Công giáo. Làm như thế, là để trân trọng quan hệ đặc biệt hai người vẫn có với chức sắc của Giáo hội ấy. Hoặc, để khỏi bị gia đình ly cách. Trường hợp này, hai người vẫn có thể hoàn tất chuẩn bị đám cưới thông thường theo Công giáo; và, chỉ có vị linh mục mới có thể xin Đức Giám Mục chủ quản của ngài miễn cho việc rập theo khuôn phép ở giáo luật (x. Giáo luật 1127, #2)
Ở vào tình huống này, bởi hai người đã được Hội thánh Công giáo cho phép, nên mới có thể làm đám cưới tại nhà thờ thuộc giáo phái. Và, đám cưới của hai người khi đó mới được coi là hợp lẽ Đạo. Và mới thành.
Nếu người Công giáo cưới một người theo đạo Chính Thống làm phép tại nhà thờ Đạo Chính Thống trước sự hiện diện của vị chức sắc thuộc giáo phái ấy, mà không có sự chuẩn chước của vị Giám mục chủ quản Công giáo, thì đám cưới ấy vẫn không thành. Đó là nhìn sự kiện theo cung cách hiểu rằng cả người Công giáo và người theo Chính Thống giáo lâu nay san sẻ cùng một cảm thông chung về hôn phối. (x. Giáo luật điều 1127, #1)
Sao phải làm đám cưới “trong nhà thờ” như thế? Có gì quan trọng đến vậy?
Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo đã liệt kê những điều hay, lẽ phải của đám cưới có sự hiện diện của linh mục và hai người chứng, như sau:
-Bí tích hôn phối là việc làm có tính cách phụng vụ. Vì thế nên, cần phải cử hành theo qui cách phụng tự của Hội thánh.
-Hôn nhân đưa dắt con người đi vào khuôn khổ có trật tự như Giáo luật dạy. Như thế mới đem lại quyền lợi cũng như bổn phận trong Hội thánh giữa hai người phối ngẫu, để rồi hai người cùng nhau hướng về con cái của mình.
-Hôn nhân là sức sống của Hội thánh, đó là điều hệ trọng. Và, cũng là lý do bắt buộc phải có sự chứng kiến của hai người chứng.
-Tính công khai nơi việc chứng giám/đồng thuận là để bảo vệ lời thề và quyết tâm của hai người giữa nhà thờ, có Chúa hiện diện. Có thế, cả hai mới thực hiện được sự chung thủy cần có. (GLHTCG #1631)
Để tóm tắt, khi cử hành đám cưới có sự chứng giám của Hội thánh như thế thì nhiệm tích hôn phối mới giúp hai người trung thành với điều mình quyết thề hứa mà tiến đến hôn nhân. Việc này cũng giúp hai người chuẩn bị hôn nhân cho phải phép; có như thế, mới tạo sự bền đỗ của hôn phối cũng như củng cố được hôn nhân giữa hai người, qua sự đồng thuận được tuyên bố trang trọng trước mặt Chúa và cộng đoàn Hội thánh.
Giả như hai người cưới nhau “ngoài nhà thờ” trước mặt người chứng hoặc trước mặt mục sư mà không có phép chuẩn của Hội thánh, thì đám cưới của họ không được coi là thành, trong nhà Chúa, dù vẫn hiệu lực với luật đời. Với luật Đạo, thì hai người có sống với nhau vẫn ở trong tình trạng gọi là “rối”, cũng giống như hai người sống đời đôi lứa ở với nhau không phép cưới. Và như thế, cả hai đều không được phép rước Chúa vào lòng.
Dù sao đi nữa, cũng nên biết: cả hai người đều có tư cách để lấy nhau -nghĩa là trước đó chưa bên nào từng làm đám cưới hoặc đã từng ly dị- trường hợp này, cả hai đều có thể tương đối dễ dàng xin Hội thánh hợp thức hoá sự kết hợp sống chung của mình theo một trong hai cách: hoặc trao nhau lời thề nguyền có sự hiện diện của một linh mục và hai người chứng, dù chỉ bằng buổi lễ riêng tư thầm lặng, nếu họ muốn. Hoặc, cả hai cùng xin Đức Giám Mục chủ quản cho phép hợp thức hoá hồi tố, nghĩa là được ngài tuyên bố rằng: hôn nhân của hai người được coi như hợp lệ kể từ ngày tháng hôm trước trong đó họ có trao nhau lời thề nguyền không hợp lệ. (x. Giáo luật điều 1160-1161). Nếu họ làm thế, cả hai đều có thể quay về với Hội thánh, mà rước Chúa. (x. Lm John Flader, Question Time, Connorcourt publishing 2008, tr. 180-182)
Theo bài bản, ở luật Đạo, thì như thế. Thế nhưng, vấn đề là: người thời nay, ở nước ngoài, có làm thế nữa hay không? Đó là vấn đề. Và luật lệ có nên du di, luật trừ một chút chăng? Và hôm nay, người trẻ ở đời lại những muốn đôi điều lạ, là: làm đám cưới ở bãi biển, công viên, chứ không phải “trong nhà thờ” như trước, thì sao? Đại để, như người nghệ sĩ ở đời vẫn có giòng nhạc hỏi rằng:
“Tháng tám mùa thu lá rơi vàng chưa nhỉ?
Từ độ người đi thương nhớ âm thầm
Có phải em là mùa thu Hà Nội
Tuổi phong sương ta cũng gắng đi tìm
Có phải em mùa thu xưa?”
(Trần Quang Lộc – bđd)
Nơi thi ca hay trong cuộc đời, có người vẫn cứ hỏi. Bạn và tôi, có trả lời hay không, thì người người vẫn cứ sống. Sống cuộc đời người. Với người đời có thi ca, âm nhạc, như còn hát:
“Thôi thì có em đời ta hy vọng
Thôi thì có em sương khói môi mềm
Có phải em là mùa thu Hà Nội
Nghe đâu đây lá úa và mi xanh
Nghe đâu đây hồn Trưng Vương sông Hát.”
(Trần Quang Lộc – bđd)
Trả một lời như thế, phải chăng nhà thơ đã trả lời trả vốn, cho mọi người. Bằng nhiều cách? Còn nhà Đạo, cũng có người đến hỏi những câu rất tương tự, để người người lại học được một chân lý, rất tự nhiên:
“Vậy, trong ngày sống lại,
bà ấy sẽ là vợ ai trong số bảy người,
vì tất cả đều đã lấy bà?"
(Mt 22: 18)
Và câu trả lời đích đáng hơn cả, vẫn là:
“Đức Giê-su trả lời họ:
"Các ông lầm, vì không biết Kinh Thánh,
cũng chẳng biết quyền năng Thiên Chúa.
Quả thế, trong ngày sống lại,
người ta chẳng lấy vợ lấy chồng,
nhưng sẽ giống như các thiên thần trên trời.”
(Mt 22: 29-30)
Sống lại với Nước Trời, người người sống với nhau không bằng luật lệ, của Môsê hay ai đó, mà là sống có tình với nhau. Luật hay lệ, vẫn chỉ là chữ viết, vẫn o ép. Bức bách. Bức bách hay o ép, đến chỗ chết, hãy như người nữ phụ trong truyện kể ở dưới, cứ thấy vui mà kể lể:
“Truyện kể rằng:
Sau khi chẩn đoàn rất kỹ lưỡng, vị bác sĩ bèn nói với bệnh nhân rằng:
-Dù là tin buồn, nhưng tôi vẫn phải nói để bà còn thu xếp mọi chuyện cho chu đáo. Bà bị ung thư gan, giai đoạn cuối. Thế nên, tôi đề nghị khi về nhà, bà sắp xếp mọi chuyện với chồng con, sao cho phải lẽ. Có như thế, khi ra đi, bà mới cảm thấy thanh thoát. Nhẹ nhàng.
Tuy sững sờ, nhưng bà bệnh nhân kịp lấy lại sự bình tĩnh, rồi ra ngoài nói với người con gái đang chờ, ở phòng đợi:
-Con à, là phụ nữ, mẹ con mình vẫn có thói quen là sự thể dù có thế nào đi nữa, vẫn bình tĩnh. Cứ ăn mừng. Cả khi có tin dữ lẫn tin vui. Và tin hôm nay là tin không được vui cho lắm: mẹ được bác sĩ cho biết, đã ung thư. Bởi thế nên, nay mẹ con mình ra câu lạc bạ uống đôi ba ly, cho đỡ buồn.
Uống xong hai ba ly martini, cả hai mẹ con đã bớt buồn. Người mẹ còn cười cười nói nói, rất liên hồi. Cuối cùng có vài người bạn đến gần hỏi:
-Này cho mình hỏi lý do sao mà bà cứ là vui như Tết chẳng lo gì hết vậy?
-Tôi nói thật với các bà điều này: Bác sĩ vừa bảo tôi bị bệnh Siđa, đấy!
Ai nghe thế, đều hú vía bịt mồm bịt miệng chạy cho mau về nhà, kẻo lây. Khi mọi người đi hết, người con gái bèn hỏi mẹ:
-Mẹ này. Sao lúc nãy mẹ bảo với con rằng bác sĩ nói mẹ bị ung thư, giờ thì mẹ lại nói Siđa, là sao con chẳng hiểu gì cả?
-Ngốc ơi là ngốc. Nếu mẹ không nói thế, thì sau khi mẹ chết đi, mấy mụ này sẽ lại tằng tịu lăng nhăng với bố mày, thôi.
-À ra thế. Nay con mới hiểu lời bác sĩ nói: để bà còn thu xếp mọi chuyện cho chu đáo! Đúng là cuộc đời. Giời ơi là giời…”
Truyện kể chỉ là truyện hư cấu, ở trời Tây. Giữa người đời. Nhưng nếu người người vẫn cứ ưu tư thắc mắc chuyện người đời những muốn “thu xếp mọi chuyện cho chu đáo” cả lúc sống cũng như khi chết, thì truyện kể ở bên trên có xảy ra ở đâu đi chăng nữa, vẫn là chuyện dài ở huyện. Cả huyện nhà Đạo, cũng không chừng.
Thế nên, lời cuối phiếm loạn hôm nay, lại là câu hát có ý tứ cũng rất lạ như sau:
“Có chắc mùa Thu, lá rơi vàng tiếng gọi
Lệ mừng gặp nhau, xôn xao phím dương cầm.
Có phải em là mùa Thu Hà Nội?
Nghìn năm sau, ta níu bóng quay về?
Ôi mùa thu của ước mơ…”
(Trần Quang Lộc – bđd)
Thế thì, mùa Thu Hà Nội, hay mùa Xuân của Sàigòn vẫn cứ nên gọi đó, mùa của hy vọng. Có những tình tự rất thân thương. Ưu ái, một kiếp người. Ở muôn nơi.
Trần Ngọc Mười Hai
Hỏi thì vẫn hỏi
nhưng đâu nào có gọi
người em mình
là mùa Thu Hà Nội hay Sàigòn.
Mà: Xuân nhà Đạo
có nở rộ khắp nơi nơi?
“Chao ôi! Ghê quá! Chao ghê quá!”
“Cảm thấy hồn tôi ớn lạnh rồi.”
(dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)
Mt 21: 33-43
Hồn tôi ớn lạnh rồi, chẳng phải vì “một vũng cô liêu cũ vạn đời”. “Chao ơi ghê quá! Ghê ghê quá!” phải chăng vì thợ vườn nho giết cả con của chủ vườn, thật đáng trách. Đáng chê trách, như dụ ngôn truyện kể ở trình thuật hôm nay.
Trình thuật, nay thánh sử ghi về dụ ngôn vườn nho, có người chủ gửi cả con mình đến với tá điền để hỏi chuyện. Chuyện Nước Trời. Chuyện, Chúa phú ban cho dân con Do Thái mọi ơn lành để sinh lợi. Ngài còn sai phái cả ngôn sứ đến chăm nom vườn nho để không bị ai phá. Nhưng, họ lại giết hại cả Người Con được sai phái, lẫn vườn nho Nước Trời, để rồi phải chịu hậu quả đắng cay là người La Mã đến xâm chiếm. Trên thực tế, vườn nho Nước Trời không bi phá, nhưng lại đã trao cho dân con đi Đạo, nay là tá điền mới.
Trình thuật tả sự thay đổi đến với nho vườn hiền hoà. Rồi từ đó, có so sánh dân con đi Đạo với tá điền Do thái, để xem ai thực hiện điều Ngài uỷ thác? Dân con đi Đạo hay tá điền được chọn, ai là người đáng được khuyến khích? Dân con Nước Trời có khá hơn tá điền Do thái được chọn không? Là tá điền mới, dân con đi Đạo có hứng chịu cùng một cảnh huống như tá điền được chọn không? Mọi việc sẽ ra sao, nếu như công việc Vườn Nho không còn đuợc trao cho tá điền mới là dân con đi Đạo nữa?
Kinh thánh có nhiều đoạn ghi rõ những chuyện như thế. Những chuyện kể, để người đọc nhận ra rằng dân con đi Đạo ở Palestine cũng là người thuộc sắc tộc Do thái, đã hồi hướng trở về để lo việc Chúa. Họ là những tá điền vườn nho Do thái từng chỉ trích người cận thân và cận lân ở cộng đoàn, bằng ngôn từ khá nặng, cốt để diễn tả tình huống gay go ấy.
Lâu nay, nhiều người vẫn quan niệm là: chúng ta nhờ biết được cung cách rất khác biệt về nguồn gốc người Do thái ở “vườn nho”, nên ta có được lập trường thật đúng cách khi quan hệ với nguời Do thái trong/ngoài nước. Trong quan hệ với họ, ta luôn có trong đầu hai loại người Do thái rất khác biệt. Cả hai đều tốt lành. Tốt, cả về mặt thiêng liêng tinh thần cũng như thực tế. Và, ta còn nhận ra được rằng: quà tặng Chúa ban, ta nhận được là ngang qua người Do thái được Chúa chọn để chuyển trao. Và, khi ta cảm kích biết ơn Chúa, ta cũng cảm tạ cả người Do thái về vai trò chuyển tải này nữa.
So sánh thái độ của dân con đi Đạo với đám tá điền Do thái, là để nói về người Do thái xưa sống ở thời mà mọi thứ từ tôn giáo đến chính trị, xã hội đều đan kết nhau thành đặc trưng đặc sủng, rất Do thái. Có so sánh, mới thấy là thế giới của người xưa đi Đạo vẫn ôm đồm nhiều thứ như cung cách của xã hội ngàn năm văn hiến. Và so sánh, để thấy rằng: tôn giáo của người xưa không mang tính chất đa nguyên/đa dạng hoặc dân chủ phóng/khoáng như một số tôn giáo khác.
Tuy nhiên, cung cách giữ đạo của người xưa dính dấp nhiều vào xã hội đều mang lại khó khăn cho riêng mình. Loại hình ấy, là loại hình trọng nam khinh nữ. Loại hình chủ trương thứ luật lệ cứng ngắc, khắc nghiệt. Cả những chuyện như tiền bạc, tài chánh, chính trị, nhất nhất đều không coi trọng thể chế nào khác ngoài Israel ra.
Bởi thế nên, khi Đạo Chúa lan rộng qua khắp mọi miền đất nước ở trời Âu để rồi bén rễ sâu ở phương Tây lâu ngày, lại trở thành tôn giáo rất khác biệt. Khác, ở chỗ: người thời đó vẫn so sánh Đạo Chúa với đạo của người Do thái như soi tấm gương hai mặt của cùng một thực trạng con người. Đạo Chúa ở trời Tây khi ấy, đã trở thành thứ tôn giáo đi sâu vào lòng dân tộc, ở nhiều nước. Đi sâu và lan rộng, bằng nền tảng chính trị, kinh tế cũng như luật lệ, rất riêng biệt. Đạo Chúa ở nơi đó, không còn là thể chế bao gồm nhiều thứ, nhưng vẫn tạo được ảnh hưởng rất mạnh lên thế giới xung quanh mình. Thế giới, mang đến cho Đạo những ân huệ khả dĩ gây tác dụng ngược lên Đạo. Nói cách khác, Đạo Chúa không còn là đạo của người Do thái khi xưa và chẳng còn ôm đồm nhiều thứ, như trước nữa.
Điều lạ kỳ, là: người Do thái nay lại muốn có lại những lợi lộc rút từ thế giới trần tục, ở trời Tây. Họ không còn suy nghĩ như người Tây phương khi trước hoặc nghĩ mình buộc phải thích nghi với cung cách giữ Đạo mà người đi Đạo ở trời Tây, vẫn hay làm. Nghĩa là, họ chẳng khi nào cho mình là phó thường dân đi Đạo (như những người Công giáo hay Thệ phản thường làm thế). Hoặc, cho rằng mình chỉ là giáo dân hạng thứ, dù vẫn ở trong Đạo. Vẫn giữ Đạo. Họ nghĩ mình vẫn là người Do thái đích thật. Và Chúa vẫn thương yêu họ, như mọi người.
Nhìn vào Hội thánh 50 năm về trước, người giữ Đạo ở trời Tây cũng sống cùng kiểu như người Do thái. Cũng tin vào Đức Chúa. Cũng đi nhà thờ nhà thánh và lãnh đủ mọi bí tích. Nhưng, lại xây dựng một thế giới theo hình thức đạo giáo, kiểu Tây. Tựa như các làng mạc miền quê nước Úc, hoặc vài thị trấn ở Hoa Kỳ, cuộc sống Đạo/đời là thế. Cũng có nhà thờ riêng. Nhà thờ, là trung tâm tạo cuộc sống hăng say, năng nổ cho mọi người. Cũng có trường Đạo. Có hội từ thiện. Có người mở tiệm vẫn rập theo cung cách người có Đạo, rất lương thiện. Có nơi, còn thiết lập cả nhà thương để thương người bệnh. Có đời sống kinh kệ, đạo hạnh. Có câu lạc bộ thể thao, giải trí theo cách con nhà có Đạo, nữa. Tức, sống như người Công giáo vẫn sống. Sống giữa đời có cuộc sống tuy hai mà một.
Ngày hôm nay, cuộc sống của người đi Đạo không còn thế nữa. Người người được giáo dục theo khuôn khổ thế giới rộng lớn. Người người được đào tạo để có cuộc sống doanh thương chức nghiệp rộng lớn đến độ Hội thánh không còn chen chân ở đó nữa. Người Công giáo trở thành nhà giáo, chuyên gia hoặc doanh thương với ngành nghề khác nhau. Hội thánh chỉ có vai trò hướng dẫn để sống Đạo chứ không là người thiết lập ra thể chế. Và, người sống ở đây đã có lý lịch riêng của thế giới này, trước khi là thành viên của Hội thánh.
Có người quan niệm: hai lối sống ấy đều đáng quan ngại. Bởi, do chạy theo lối sống giống như thế Hội thánh đã để mất căn tính riêng của mình. Bởi thế nên, nhiều người mới có tinh thần nệ cổ, là vì muốn trở về với thời xưa, khá cổ lỗ. Muốn trở lại thời có đủ mọi thứ. Thời, mà thế giới nay gặp khủng hoảng nặng nề về luân lý, chuyên chú vào văn hoá của sự chết. Và thế giới nay chẳng giúp giải quyết được sự phân cách giàu/nghèo. Theo quan niệm của họ, thế giới hôm nay không còn chất xúc tác khích lệ nền luân lý đích thực được nữa. Và, Hội thánh ở trời Tây nay cũng thế. Hội thánh cứ phải nhượng bộ và xuống cấp. Hội thánh, không còn là “tôn giáo” đích thực, nhưng chỉ còn mang nhãn hiệu đẹp có được từ cuộc sống hiện đại, thôi.
Trong khi đó, phần đông người Công giáo lại nghĩ khác. Theo họ, lối sống Đạo của người ở trời Tây chẳng có gì khiến ta xấu hổ, nhưng vẫn là một thách đố, cho mọi người. Thách và đố, ta tìm ra Thiên Chúa ở xã hội mình sống. Thách và đố mình học hỏi làm người của Chúa ở thế giới tục phàm này.
Điều đáng buồn, là: nhiều năm qua, phương Tây từng phát triển/nở rộ rất nhiều thứ. Và, Hội thánh mình đã tìm ra được chỗ đứng trong đó. Trong khi người Do thái lại không làm được điều gì tốt lành theo nghĩa đùm bọc về văn hoá, chính trị, kỹ nghệ và quân sự. Họ ra như chỉ thuộc hàng thứ yếu trong một thế giới quá lớn rộng. Ngày nay, người Công giáo lại vẫn nghĩ Đạo của mình tốt lành hơn đạo của người Do thái. Thật ra, thì Đạo Chúa ở trời Tây đang trên đà suy sụp. Trong khi đó, người Do thái lại tìm đuợc đất lành năm xưa. Tìm được tâm hồn mình. Và họ đang minh chứng cho thế giới thấy được chuyện này.
Chuyện này, áp dụng cả cho người Hồi giáo lẫn người Do thái, ở các nơi. Người Hồi giáo tuy cũng có nguồn gốc từ thế giới cổ xưa vốn thừa hưởng giáo huấn của vị “ngôn sứ” lấy kinh Koran làm kim chỉ nam dẫn đường. Có luật Sha’aria hướng dẫn để sống đúng tinh thần của Kinh Sách. Họ là người tự coi mình như một kết hợp giữa xã hội và tôn giáo.
Buốn một chuyện, là: người Đạo Chúa và đạo Hồi vẫn chơi trò tranh chấp khích bác nhau. Cả hai lại không chấp nhận rằng mình khác nhau; và chẳng nhận chân ra rằng chính Chúa đã làm cho ta ra khác biệt. Khác biệt, theo hướng tích cực khiến ta nhớ lại chuyện kể về một bé em Do thái dám hỏi vị thượng tế câu động trời rằng:“Làm sao các ngài chứng minh được con người là hình ảnh của Thiên Chúa nếu như mọi người có khác biệt?” Vị thượng tế nghe hỏi bèn trả lời rất khôn khéo: “Sở dĩ ta là hình ảnh của Thiên Chúa là vì ta có khác biệt, đấy bé ạ!”
Vế với dụ ngôn hôm nay, mọi người đều thấy: Thiên Chúa là chủ vườn nho rộng lớn. Và, Ngài vẫn muốn có hoa trái vườn nho tạo ra. Và Ngài còn muốn cả rượu ngon từ hoa quả chín mộng ấy nữa. Rượu ngon Ngài uống, là do thợ vườn khác biệt làm ra. Khác, cả tính tình lẫn cách trồng trọt và biến hoa trái thành rượu, từ những khác biệt đó.
Trong tâm tình nhận ra ý Chúa tìm rượu ngon từ khác biệt, cũng nên ngâm câu thơ còn để dở:
“Chao ôi! Ghê quá trong tư tưởng,
Một vũng cô liêu, cũ vạn đời!”
(Hàn Mặc Tử - Cô Liêu)
Bởi cô liêu, nên mới không nhận ra khác biệt. Bởi khác biệt, nên đôi lúc cũng tạo cô liêu. Đời sẽ thế, nếu người người cứ như thế. Như thợ vườn nho ở dụ ngôn xưa và hôm rày ta vẫn thấy. Dài dài.
Lm Nguyễn Đức Vinh Sanh - Mai Tá lược dịch.
“Có phải em, mùa Thu Hà Nội?”
“Tuổi phong sương, ta cũng gắng đi tìm.
Có phải em, mùa Thu xưa?
Có bong mùa Thu, thức ta lòng son muộn?”
(Trần Quang Lộc – Có Phải Em Mùa Thu Hà Nội)
(Mt 22: 18, 29-30)
Âu cũng là chuyện bình thường. Ở đời. Khi, người người vẫn cứ vấp phải đôi ba lỗi lầm lớn/nhỏ, trong quan hệ với người đời. Để rồi, cũng có lúc ta sẽ hối tiếc, mà thốt lên câu: “Thật không có cái dại nào như dại nào.”
Bần đạo đây, đôi lúc cũng rơi vào tình huống khá “lấn cấn”, gần như thế. Gần nhất, là như trong chuyến Mỹ du tháng 6/2011 vừa qua, bần đạo đã khám phá ra được sự thật rất chết người. Sự thật, ấy là: hơn 3 năm về hưu nằm nhà, mà sao bần đạo nào thấy dài! Bởi, có ra đi mà kết thân với người ngoài -ngoài Đạo/ngoài đời- thì người người mới thấy mình đôi khi cũng lung túng không ít với các chức sắc hoặc đấng bậc, ở cơ quan.
Thấy họ làm việc tất bật, vật vã đã không thương thì thôi, lại cứ hỏi những câu dư thừa, như: “Busy, busy?” (tức, bận nhỉ?) Để rồi, người đối tác, đã không trả lời/trả vốn thôi, còn hỏi lại: “Phải ông ở Sydney không? Qua đây lâu chưa? Mới có 2 chục năm tức hơn hai thập niên mà không biết là: phi trường Ascot Sydney này cũng bận rộn không kém gì nơi khác như New York, Paris, London hay sao mà còn hỏi? Đúng là câu hỏi thuộc loại vớ vẩn. Không hay lắm!...”
Hú vía! Đó là bần đạo chỉ máy miệng, hỏi có bốn chữ thôi, cũng đã được lời gấp trăm, liên tu hồ điệp tràng pháo tung trời, nổ lốp đốp. Và, lộp độp. Bất chợt nhìn lại sắc da mầu áo của chức sắc ở cơ quan di trú phi trường mới biết: ngài không phải người Tây, mà là “thầy người”, tức bậc thầy Án Độ, rất “fakir”! Thế mới biết, sống ở đời mà cứ lân la chuyện vãn với người “ngoài luồng”, cũng nên nhìn trước nhìn sau mà đoán chừng, đừng tính toán qua loa. Sơ xài. E sẽ hớ!
Chẳng thế mà, nghệ sĩ họ Trần ở trên vẫn hỏi và hát, những câu ngớ ngẩn, mà đâu sao:
“Có phải em là mùa thu Hà Nội
Ngày sang thu anh lót lá em nằm
Bên trời xa sương tóc bay.
Thôi thì có em đời ta hy vọng
Thôi thì có em sương khói môi mềm.”
(Trần Quang Lộc – bđd)
Về hỏi han, dù chỉ sơ qua dăm ba câu chuyện hỏi làm quà, nhiều lúc cũng làm ta rối rắm, rất không ít. Có khi, cũng phức tạp cho người hỏi lẫn người trả lời như cuộc hỏi/đáp dưới đây:
“-Đúng thế không? Cuộc tình của anh chị kéo dài những 15 năm sau đó mới đi đến hôn nhân?
-Điều này không sai. Nhưng, trước khi đi đến hôn nhân, bọn tôi vẫn có một cuộc tình với nhau kéo dài những 15 năm 2 tháng và 1 ngày.
-Thế, anh chị làm gì trong thời gian chờ đợi dài như thế?
-Đơn giản là: trong thời gian đó, chúng tôi đều có gia đình riêng...”
Về đáp trả, đôi lúc dù chẳng giản đơn như hỏi đáp ghi trên; chí ít, là hỏi và đáp về hôn nhân, tức: được hôn (người có lòng) nhân, lại có nhân (duyên cũng dễ) hôn. Hôn nhân/nhân hôn ở đời, toàn những thế. Những chuyện rất ư là rắc rối. Có ở đời.
Nơi nhà Đạo, cũng không tránh khỏi cảnh rối rắm thường dẫn đến nhiều chuyện khá phức tạp khác. Tức những chuyện rắc rối, tối nằm không. Chí ít là khi: cả hai bên đã yêu nhau thật tình, quyết thể hiện tình yêu ấy suốt đời; mà vẫn gặp nhiều vụ việc khá phiền phức về giáo luật, đáng kể như sau:
Đáng kể, là đáng để kể lể và hỏi han có mỗi chuyện như thế này:
“Tụi con yêu nhau và chịu cưới nhau đã là điều tốt rồi, nhưng sao lại cứ phải đưa nhau vào nhà thờ mới được phép làm lễ cưới theo đúng qui cách của Đạo Công giáo. Như thế nghĩa là sao? Các cặp vợ chồng cưới nhau “ngoài nhà thờ” còn có ý nghĩa gì? Xin giải thích cho biết. (Ký tên một người Công giáo hay thắc mắc).
Giả như người hỏi gửi các câu thắc mắc đến đấng bậc phụ trách mục gỡ rối tơ lòng về Đạo hạnh, thì chẳng có gì đáng gọi là “một người Công giáo hay thắc mắc” hết. Bởi, cha cố ở nhà Đạo luôn cần những người cứ thắc mắc những chuyện đại loại như thế, để có cơ mà giải thích. Chứ, bằng không, chẳng lẽ lại treo văn bằng cử nhân thần học lên tường gạch cho con trẻ nó ngắm nghía sao? Bởi thế nên, đấng bậc ở Sydney luôn sốt sắng trả lời/thời trả cả vốn, như sau:
“Câu hỏi của cô (xin phép được gọi bằng “cô” cho thân mật), là điều rất hệ trọng. Ngày nay, nhiều bạn vẫn đi nhà thờ giữ Đạo, nhưng lại không mấy am tường qui định của Hội thánh liên quan chuyện cưới hỏi. Thậm chí có vị từng làm đám cưới “ngoài nhà thờ” mà không hay biết hậu quả có thể xảy ra, nữa.
Trước hết, xin bắt đầu bằng một giải thích xem thế nào là “đám cưới ngoài nhà thờ”. Cụm từ này, dù gì đi nữa, cũng không là danh từ chuyên môn gì cho cam, mà chỉ muốn nói đến cung cách tổ chức đám cưới đã được Hội thánh chuẩn nhận, cho làm “trong nhà thờ”, vậy thôi.
Điều 1108 nơi Giáo luật đòi rằng: đám cưới giữa người theo Đạo Công giáo chỉ hiệu lực nếu thuận theo qui định của Hội thánh, tức: phải có sự hiện diện của ít là một linh mục, hoặc vị phó tế; và thêm vào đó, là hai người chứng, như thế mới thành. Trong lễ cưới như thế, vị linh mục hoặc phó tế phải yêu cầu cả hai cô dâu chú rể phải bày tỏ sự đồng thuận, rất rõ ràng.
Có làm như thế, thì hai vợ chồng mới được coi là đã làm đám cưới “trong nhà thờ”, theo phép Đạo. Và, đám cưới của hai người mới hợp lệ được. Về đòi hỏi phải có sự chứng giám của một linh mục hoặc phó tế và hai người chứng được gọi là “đám cưới theo khuôn phép rất đúng” như luật định.
Trong một số trường hợp, Hội thánh có thể châm chước chuẩn miễn để hai người không buộc phải theo khuôn khổ như luật định. Chẳng hạn như: nếu một bên là người Công giáo đi cưới một người không phải Công giáo nhưng đã được rửa tội (theo Đạo Chúa như bên Tin Lành) thì hai người có thể yêu cầu được phép làm đám cưới “trong nhà thờ” của người bên Đạo Chúa Kitô mà không phải là Công giáo. Làm như thế, là để trân trọng quan hệ đặc biệt hai người vẫn có với chức sắc của Giáo hội ấy. Hoặc, để khỏi bị gia đình ly cách. Trường hợp này, hai người vẫn có thể hoàn tất chuẩn bị đám cưới thông thường theo Công giáo; và, chỉ có vị linh mục mới có thể xin Đức Giám Mục chủ quản của ngài miễn cho việc rập theo khuôn phép ở giáo luật (x. Giáo luật 1127, #2)
Ở vào tình huống này, bởi hai người đã được Hội thánh Công giáo cho phép, nên mới có thể làm đám cưới tại nhà thờ thuộc giáo phái. Và, đám cưới của hai người khi đó mới được coi là hợp lẽ Đạo. Và mới thành.
Nếu người Công giáo cưới một người theo đạo Chính Thống làm phép tại nhà thờ Đạo Chính Thống trước sự hiện diện của vị chức sắc thuộc giáo phái ấy, mà không có sự chuẩn chước của vị Giám mục chủ quản Công giáo, thì đám cưới ấy vẫn không thành. Đó là nhìn sự kiện theo cung cách hiểu rằng cả người Công giáo và người theo Chính Thống giáo lâu nay san sẻ cùng một cảm thông chung về hôn phối. (x. Giáo luật điều 1127, #1)
Sao phải làm đám cưới “trong nhà thờ” như thế? Có gì quan trọng đến vậy?
Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo đã liệt kê những điều hay, lẽ phải của đám cưới có sự hiện diện của linh mục và hai người chứng, như sau:
-Bí tích hôn phối là việc làm có tính cách phụng vụ. Vì thế nên, cần phải cử hành theo qui cách phụng tự của Hội thánh.
-Hôn nhân đưa dắt con người đi vào khuôn khổ có trật tự như Giáo luật dạy. Như thế mới đem lại quyền lợi cũng như bổn phận trong Hội thánh giữa hai người phối ngẫu, để rồi hai người cùng nhau hướng về con cái của mình.
-Hôn nhân là sức sống của Hội thánh, đó là điều hệ trọng. Và, cũng là lý do bắt buộc phải có sự chứng kiến của hai người chứng.
-Tính công khai nơi việc chứng giám/đồng thuận là để bảo vệ lời thề và quyết tâm của hai người giữa nhà thờ, có Chúa hiện diện. Có thế, cả hai mới thực hiện được sự chung thủy cần có. (GLHTCG #1631)
Để tóm tắt, khi cử hành đám cưới có sự chứng giám của Hội thánh như thế thì nhiệm tích hôn phối mới giúp hai người trung thành với điều mình quyết thề hứa mà tiến đến hôn nhân. Việc này cũng giúp hai người chuẩn bị hôn nhân cho phải phép; có như thế, mới tạo sự bền đỗ của hôn phối cũng như củng cố được hôn nhân giữa hai người, qua sự đồng thuận được tuyên bố trang trọng trước mặt Chúa và cộng đoàn Hội thánh.
Giả như hai người cưới nhau “ngoài nhà thờ” trước mặt người chứng hoặc trước mặt mục sư mà không có phép chuẩn của Hội thánh, thì đám cưới của họ không được coi là thành, trong nhà Chúa, dù vẫn hiệu lực với luật đời. Với luật Đạo, thì hai người có sống với nhau vẫn ở trong tình trạng gọi là “rối”, cũng giống như hai người sống đời đôi lứa ở với nhau không phép cưới. Và như thế, cả hai đều không được phép rước Chúa vào lòng.
Dù sao đi nữa, cũng nên biết: cả hai người đều có tư cách để lấy nhau -nghĩa là trước đó chưa bên nào từng làm đám cưới hoặc đã từng ly dị- trường hợp này, cả hai đều có thể tương đối dễ dàng xin Hội thánh hợp thức hoá sự kết hợp sống chung của mình theo một trong hai cách: hoặc trao nhau lời thề nguyền có sự hiện diện của một linh mục và hai người chứng, dù chỉ bằng buổi lễ riêng tư thầm lặng, nếu họ muốn. Hoặc, cả hai cùng xin Đức Giám Mục chủ quản cho phép hợp thức hoá hồi tố, nghĩa là được ngài tuyên bố rằng: hôn nhân của hai người được coi như hợp lệ kể từ ngày tháng hôm trước trong đó họ có trao nhau lời thề nguyền không hợp lệ. (x. Giáo luật điều 1160-1161). Nếu họ làm thế, cả hai đều có thể quay về với Hội thánh, mà rước Chúa. (x. Lm John Flader, Question Time, Connorcourt publishing 2008, tr. 180-182)
Theo bài bản, ở luật Đạo, thì như thế. Thế nhưng, vấn đề là: người thời nay, ở nước ngoài, có làm thế nữa hay không? Đó là vấn đề. Và luật lệ có nên du di, luật trừ một chút chăng? Và hôm nay, người trẻ ở đời lại những muốn đôi điều lạ, là: làm đám cưới ở bãi biển, công viên, chứ không phải “trong nhà thờ” như trước, thì sao? Đại để, như người nghệ sĩ ở đời vẫn có giòng nhạc hỏi rằng:
“Tháng tám mùa thu lá rơi vàng chưa nhỉ?
Từ độ người đi thương nhớ âm thầm
Có phải em là mùa thu Hà Nội
Tuổi phong sương ta cũng gắng đi tìm
Có phải em mùa thu xưa?”
(Trần Quang Lộc – bđd)
Nơi thi ca hay trong cuộc đời, có người vẫn cứ hỏi. Bạn và tôi, có trả lời hay không, thì người người vẫn cứ sống. Sống cuộc đời người. Với người đời có thi ca, âm nhạc, như còn hát:
“Thôi thì có em đời ta hy vọng
Thôi thì có em sương khói môi mềm
Có phải em là mùa thu Hà Nội
Nghe đâu đây lá úa và mi xanh
Nghe đâu đây hồn Trưng Vương sông Hát.”
(Trần Quang Lộc – bđd)
Trả một lời như thế, phải chăng nhà thơ đã trả lời trả vốn, cho mọi người. Bằng nhiều cách? Còn nhà Đạo, cũng có người đến hỏi những câu rất tương tự, để người người lại học được một chân lý, rất tự nhiên:
“Vậy, trong ngày sống lại,
bà ấy sẽ là vợ ai trong số bảy người,
vì tất cả đều đã lấy bà?"
(Mt 22: 18)
Và câu trả lời đích đáng hơn cả, vẫn là:
“Đức Giê-su trả lời họ:
"Các ông lầm, vì không biết Kinh Thánh,
cũng chẳng biết quyền năng Thiên Chúa.
Quả thế, trong ngày sống lại,
người ta chẳng lấy vợ lấy chồng,
nhưng sẽ giống như các thiên thần trên trời.”
(Mt 22: 29-30)
Sống lại với Nước Trời, người người sống với nhau không bằng luật lệ, của Môsê hay ai đó, mà là sống có tình với nhau. Luật hay lệ, vẫn chỉ là chữ viết, vẫn o ép. Bức bách. Bức bách hay o ép, đến chỗ chết, hãy như người nữ phụ trong truyện kể ở dưới, cứ thấy vui mà kể lể:
“Truyện kể rằng:
Sau khi chẩn đoàn rất kỹ lưỡng, vị bác sĩ bèn nói với bệnh nhân rằng:
-Dù là tin buồn, nhưng tôi vẫn phải nói để bà còn thu xếp mọi chuyện cho chu đáo. Bà bị ung thư gan, giai đoạn cuối. Thế nên, tôi đề nghị khi về nhà, bà sắp xếp mọi chuyện với chồng con, sao cho phải lẽ. Có như thế, khi ra đi, bà mới cảm thấy thanh thoát. Nhẹ nhàng.
Tuy sững sờ, nhưng bà bệnh nhân kịp lấy lại sự bình tĩnh, rồi ra ngoài nói với người con gái đang chờ, ở phòng đợi:
-Con à, là phụ nữ, mẹ con mình vẫn có thói quen là sự thể dù có thế nào đi nữa, vẫn bình tĩnh. Cứ ăn mừng. Cả khi có tin dữ lẫn tin vui. Và tin hôm nay là tin không được vui cho lắm: mẹ được bác sĩ cho biết, đã ung thư. Bởi thế nên, nay mẹ con mình ra câu lạc bạ uống đôi ba ly, cho đỡ buồn.
Uống xong hai ba ly martini, cả hai mẹ con đã bớt buồn. Người mẹ còn cười cười nói nói, rất liên hồi. Cuối cùng có vài người bạn đến gần hỏi:
-Này cho mình hỏi lý do sao mà bà cứ là vui như Tết chẳng lo gì hết vậy?
-Tôi nói thật với các bà điều này: Bác sĩ vừa bảo tôi bị bệnh Siđa, đấy!
Ai nghe thế, đều hú vía bịt mồm bịt miệng chạy cho mau về nhà, kẻo lây. Khi mọi người đi hết, người con gái bèn hỏi mẹ:
-Mẹ này. Sao lúc nãy mẹ bảo với con rằng bác sĩ nói mẹ bị ung thư, giờ thì mẹ lại nói Siđa, là sao con chẳng hiểu gì cả?
-Ngốc ơi là ngốc. Nếu mẹ không nói thế, thì sau khi mẹ chết đi, mấy mụ này sẽ lại tằng tịu lăng nhăng với bố mày, thôi.
-À ra thế. Nay con mới hiểu lời bác sĩ nói: để bà còn thu xếp mọi chuyện cho chu đáo! Đúng là cuộc đời. Giời ơi là giời…”
Truyện kể chỉ là truyện hư cấu, ở trời Tây. Giữa người đời. Nhưng nếu người người vẫn cứ ưu tư thắc mắc chuyện người đời những muốn “thu xếp mọi chuyện cho chu đáo” cả lúc sống cũng như khi chết, thì truyện kể ở bên trên có xảy ra ở đâu đi chăng nữa, vẫn là chuyện dài ở huyện. Cả huyện nhà Đạo, cũng không chừng.
Thế nên, lời cuối phiếm loạn hôm nay, lại là câu hát có ý tứ cũng rất lạ như sau:
“Có chắc mùa Thu, lá rơi vàng tiếng gọi
Lệ mừng gặp nhau, xôn xao phím dương cầm.
Có phải em là mùa Thu Hà Nội?
Nghìn năm sau, ta níu bóng quay về?
Ôi mùa thu của ước mơ…”
(Trần Quang Lộc – bđd)
Thế thì, mùa Thu Hà Nội, hay mùa Xuân của Sàigòn vẫn cứ nên gọi đó, mùa của hy vọng. Có những tình tự rất thân thương. Ưu ái, một kiếp người. Ở muôn nơi.
Trần Ngọc Mười Hai
Hỏi thì vẫn hỏi
nhưng đâu nào có gọi
người em mình
là mùa Thu Hà Nội hay Sàigòn.
Mà: Xuân nhà Đạo
có nở rộ khắp nơi nơi?