Chiếc thang của Giacóp.
Giấc mộng của Giacóp:
“Gia-cóp ra khỏi Bơ-e Se-va và đi về Kha-ran.11 Cậu đến một nơi kia và nghỉ đêm tại đó vì mặt trời đã lặn. Cậu lấy một hòn đá ở nơi đó để gối đầu và nằm ngủ ở đó.12 Cậu chiêm bao thấy một chiếc thang dựng dưới đất, đầu thang chạm tới trời, trên đó có các sứ thần của Thiên Chúa lên lên xuống xuống.13 Và kìa ĐỨC CHÚA đứng bên trên thang mà phán: "Ta là ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của Áp-ra-ham, tổ phụ ngươi, và là Thiên Chúa của I-xa-ác. Đất ngươi đang nằm, Ta sẽ ban cho ngươi và dòng dõi ngươi.14 Dòng dõi ngươi sẽ nhiều như bụi trên đất; ngươi sẽ lan tràn ra khắp đông tây nam bắc. Nhờ ngươi và dòng dõi ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc.15 Này Ta ở với ngươi; ngươi đi bất cứ nơi nào, Ta sẽ giữ gìn ngươi, và Ta sẽ đưa ngươi về đất này, vì Ta sẽ không bỏ ngươi cho đến khi Ta hoàn thành điều Ta đã phán với ngươi."16 Gia-cóp tỉnh giấc và nói: "Quả thật, có ĐỨC CHÚA ở nơi này mà tôi không biết! "17 Cậu phát sợ và nói: "Nơi này đáng sợ thay! Đây là nhà của Thiên Chúa, là cửa trời, chứ không phải là gì khác."18 Sáng hôm sau, Gia-cóp dậy sớm, lấy hòn đá cậu đã gối đầu, dựng lên làm trụ và đổ dầu lên đầu trụ.19 Cậu đặt tên cho nơi đó là Bết Ên; trước đó, tên thành ấy là Lút.
20 Gia-cóp khấn rằng: "Nếu Thiên Chúa ở với tôi và giữ gìn tôi trong chuyến đi tôi đang thực hiện, nếu Người ban cho tôi bánh ăn áo mặc,21 nếu tôi được trở về nhà cha tôi bình an, thì ĐỨC CHÚA sẽ là Thiên Chúa của tôi,22 hòn đá này là hòn đá tôi đã dựng lên làm trụ sẽ là nhà của Thiên Chúa, và lạy Chúa, mọi sự Ngài ban cho con, con sẽ dâng cho Ngài một phần mười."
St 28, 10 -22.
I.Hình ảnh chiếc thang.
Một chiếc thang đầu thang chạm tới trời chân thang sát dưới đất.
1 Cây thang chạm trời.
Cây tre trăm đốt trong câu truyện cổ của người Việt Nam như là một huyền thoại “bắc thang lên hỏi ông trời”. Người Việt quan niệm về trời như một người rất cao trên con người và cũng gần với người. Trời là Đấng minh quân soi xét, Trời làm cho con người được sống, Trời cũng giúp con người hoàn thành những công trình của con người lao công “mưu sự tại nhân thành sự tại thiên”. Trời không là vô hình như trời xanh mây biếc mà cũng không là hữu hình có thể đụng chạm được. Trời được xưng danh Ông Trời, danh xưng ông chỉ Đấng Thiên có ngôi vị siêu việt, được tôn thờ. Ông không chỉ về giống bởi vì người Việt cũng gọi Bà Thiên. Vượt xa thọ tạo nên giống mà cũng khác với người. Đó là một ngôn ngữ tỷ loại, nói như vậy mà không là như vậy, là như thế mà không là như thế.
Có ông Trời và có bà Thiên, đó là cách diễn tả cặp đối xứng theo cách của người Việt, Ông Trời bà Thiên diễn tả Đấng Tạo Hoá như người cha và như người mẹ trong cuộc sinh thành và dưỡng nuôi. Cha sinh, mẹ dưỡng là nguồn căn của Hiếu đạo (bổn phận làm con).
Isaia loan báo lòng yêu thương này của Thiên Chúa đối với nhân loại như Người Cha và Người Mẹ.
“Như mục tử, Chúa chăn giữ đoàn chiên của Chúa,
tập trung cả đoàn dưới cánh tay.
Lũ chiên con, Người ấp ủ vào lòng”
bầy chiên mẹ, cũng tận tình dẫn dắt.” 1
Hiếu đạo, vì thế là bổn phận của mọi người sống trên dương thế, mọi người cùng một cha một mẹ dẫn đến bổn phận trong đời sống luân lý “Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”. Hun đúc từ niềm tin cha Trời, mẹ Đất dẫn đến cuộc sống tương quan nhân sinh. Tương quan nhân sinh lấy nguồn gốc từ Trời: “Không có Trời ai ở với ai” như vậy khi gọi Danh Xưng Trời người Việt cũng sống theo đạo Trời mà thuận với đạo nhân.
Tìm thấy trong gốc của Đạo Trời là Tâm, người Việt sống chữ Tâm ấy, theo những suy nghiệm của mình, cùng trong bối cảnh tư tưởng Đông Phương. Nguồn gốc nhân sinh là một câu hỏi liên tục chi phối tâm trí nhân loại Đông cũng như Tây, cả Đông và Tây đều chấp nhận một thực tại, tạo dựng là một diễn biến từ vô hình đến hữu hình. Nhờ một năng lực huyền nhiệm, vũ trụ xuất hiện, sức năng huyền nhiệm ấy Đông Phương theo Khổng Tử là Thái Cực, theo Lão Tử là Đạo. Từ Một sinh nhiều. Một ấy theo Đông Phương là Tâm của Trời Đất, Thái cực do Đạo sinh ra: “Đạo sinh nhất, Nhất vi Thái cực”. Từ Một sinh nhiều và nhiều trở về Một: “Thiên do Đạo nhi sinh, địa do Đạo nhi thành, vật do Đạo nhi hình, nhân do Đạo nhi hành. Thiên, địa, nhân, vật, tắc dị hĩ, kỳ ư Đạo, nhất dã”.
Rất gần với giáo huấn của Kinh Thánh về việc tạo dựng, mà các con đường suy biết của con người theo tự nhiên có thể đạt tới. Từ suối nguồn Tình Yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi Ngài đã làm nên vũ trụ và ban sự sống cho nhân loại, vạn vật;
“Ngày ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa làm ra đất và trời, chưa có bụi cây ngoài đồng nào trên mặt đất, chưa có đám cỏ ngoài đồng nào mọc lên, vì ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa chưa cho mưa xuống đất và không có người để canh tác đất đai. Nhưng có một dòng nước từ đất trào lên và tưới khắp mặt đất. ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật. Rồi ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa trồng một vườn cây ở Ê-đen, về phía đông, và đặt vào đó con người do chính mình nặn ra.” 2
và ngày quang lâm tất cả sẽ được thu họp nên Một trong Đức Kitô.
“Người cho ta được biết thiên ý nhiệm mầu:
thiên ý này là kế hoạch yêu thương
Người đã định từ trước trong Đức Ki-tô.
10 Đó là đưa thời gian tới hồi viên mãn
là quy tụ muôn loài trong trời đất
dưới quyền một thủ lãnh là Đức Ki-tô.
Cũng trong Đức Ki-tô.” 3
Chiếc thang chạm Trời, có một ý nghĩa trong mạc khải tự nhiên, con người có thể nhận biết Thiên Chúa qua các dấu ấn do bàn tay Thiên Chúa tạo dựng. Chiếc thang chạm trời này còn cho biết, con người tìm kiếm chân lý gặp nhau ở một đỉnh cao, nơi Thiên Chúa, Người muốn bày tỏ. Mạc Khải từ Thiên Chúa, từ ấy, có thể giải thích như một điểm tựa trên cao cho chiếc thang từ đất dựa vào. Không có sự mạc khải của Thiên Chúa tự bày tỏ qua các dấu ấn là bằng chứng sự hiện diện của Thiên Chúa, theo nghĩa “luận cứ đồng quy đầy thuyết phục” 4, thì chiếc thang từ đất sẽ ngã đổ vì thiếu điểm tựa trên cao.
Vì thế, những con đường tâm linh của Đông Phương, dù chưa gọi Danh chính xác về Thiên Chúa nhưng họ cũng tin rằng có Đấng vô hình và vĩnh hằng là điểm đầu của chiếc thang để con người có thể lên hay xuống trên chiếc thang ấy.
2. Chiếc thang nối giữa đất và trời.
Chân lý tuyệt đối là Một, nhưng có nhiều cách nhận thức, cách nhận thức này giống như chiếc thang, người ta dùng nhiều loại thang, cao dài thấp khác nhau, nhiều góc cạnh vẫn quy về Một, Khổng Tử viết: “Thiên hạ đồng qui nhi thù đồ, nhất trí nhi bách lự” (nhiều đường nhưng hướng về một chốn, trăm suy nghĩ đều về một mối”. Người Tây Phương thì nói: “Tout chemin conduit à Rome” (mọi con đường đều dẫn tới Roma). Tây Phương chọn lối suy tư phân tách - tổng hợp, Đông Phương chọn lối tổng Hợp - phân tách. Tây Phương có tính mạnh là triệt tiêu, Đông Phương có tính cách hài hoà. Âm - Dương hai khía cạnh đối lập nhưng không đối chọi lẫn nhau, Dương không triệt tiêu Âm, nhưng luân chuyển biến dịch mà sinh thành. Từ cách thế ấy Đông Phương có một lối đi: Tri và hành.
Tri và hành là chiếc thang của Đông phương, nguồn gốc của Đạo là Tâm. Tâm là nguyên lý bao dung, hoà hợp để sống, không có thánh chiến, không có huỷ diệt và loại bỏ. Biết được Đạo trời mà sống Đạo nhân là nguyên tắc của việc tri và hành, tri hành phân biệt và không tách biệt. Là chiếc thang có chiều đi lên và có hướng đi xuống. Từ Trời nối Đất và từ Đất hướng lên Trời. Đạo vì thế, rất gần và rất xa, ở trong tâm và vượt xa tâm.
Cây thang từ đất.
Không có siêu nhiên nếu không đặt trên nền tảng tự nhiên, tự nhiên nâng đỡ siêu nhiên trong hướng nhìn của chiếc thang đặt gốc từ đất. Không có tự nhiên cũng chẳng có siêu nhiên. Trở về với nguồn gốc tự nhiên của mình, người Đông Phương đề cập đến chữ tính trong nhân tính của mình bao gốm bộ tâm và bộ sinh. Tâm là hình ảnh biểu lộ trái tim, sinh là là sự sống. Trở về với căn tính của nhân sinh là trở về với nguồn gốc nhân tính của mình, nguồn gốc ấy là tình trời, tình trời làm cho sống và sống sự sống dồi dào, bởi thế đạo nhân là đạo lấy nghĩa mà đáp trả ân.
Thực tại siêu nhiên cắm rễ trong tự nhiên, phương cách đi tìm chân lý của Đông Phương cũng đề cao việc tĩnh lặng mà chiêm ngắm huyền nhiệm. Chiêm ngắm trong tự nhiên để nhận ra tình trời.
“Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa,
không trung loan báo việc tay Người làm.
3 Ngày qua mách bảo cho ngày tới,
đêm này kể lại với đêm kia.
4 Chẳng một lời một lẽ, chẳng nghe thấy âm thanh,
mà tiếng vang đã dội khắp hoàn cầu” 5
Con đường nhận thức của Đông Phương cũng thấy trong con đường của Thánh Kinh. Không nghe thấy âm thanh mà tiếng vang dội lại khắp hoàn cầu. Con đường nhận thức siêu việt khởi đi từ tự nhiên ấy cũng gặp nơi tư tưởng của Tagore, bài số 72, trong cuốn lời dâng.
“ Người là Đấng sâu thẳm thức tỉnh tôi bằng những tiếp xúc sâu kín,
Người là Đấng thoa bùa mê trên cặp mắt này và hoan hỷ gảy những dây đàn của lòng tôi theo những tiết tấu buồn vui phức tạp.
Người là Đấng đan tâm mạng ảo hoá lung linh sắc vàng sắc bạc, mầu biếc mầu xanh và qua riềm xếp để lộ đôi chân mà khẽ chạm là tôi đã quên mình.
Ngày tới, thời qua, và Người vẫn là Đấng hằng là Đấng xúc động tim tôi bằng bao danh hiệu, dưới bao dáng vẻ, trong bao mê đắm buồn vui.” 6
Trong lời cầu nguyện của Hàn mặc Tử chúng ta cũng gặp một tâm hồn câu nguyện trong tĩnh lặng của hồn đau:
“Ta chắp hai tay lại quỳ hoan hảo,
Ngửa trông cao, cầu nguyện trắng không gian.
Để vừa dâng vừa hiệp bốn mùa xuân,
Nở một lượt giầu sang lên Thượng Đế..”
1 Is 40, 11.
2 St 2, 4 - 8.
3 Ep 1, 9 -10.
4 Augustin.
5 Tv 18, 2- 4.
6 Khúc hát dâng đời, Tagore, bản dịch Phạm Hồng Dung và Phạm Bích Thuỷ, nhà sách Nguồn sáng xuất bản, 1971, trang 42.
Giấc mộng của Giacóp:
“Gia-cóp ra khỏi Bơ-e Se-va và đi về Kha-ran.11 Cậu đến một nơi kia và nghỉ đêm tại đó vì mặt trời đã lặn. Cậu lấy một hòn đá ở nơi đó để gối đầu và nằm ngủ ở đó.12 Cậu chiêm bao thấy một chiếc thang dựng dưới đất, đầu thang chạm tới trời, trên đó có các sứ thần của Thiên Chúa lên lên xuống xuống.13 Và kìa ĐỨC CHÚA đứng bên trên thang mà phán: "Ta là ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của Áp-ra-ham, tổ phụ ngươi, và là Thiên Chúa của I-xa-ác. Đất ngươi đang nằm, Ta sẽ ban cho ngươi và dòng dõi ngươi.14 Dòng dõi ngươi sẽ nhiều như bụi trên đất; ngươi sẽ lan tràn ra khắp đông tây nam bắc. Nhờ ngươi và dòng dõi ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc.15 Này Ta ở với ngươi; ngươi đi bất cứ nơi nào, Ta sẽ giữ gìn ngươi, và Ta sẽ đưa ngươi về đất này, vì Ta sẽ không bỏ ngươi cho đến khi Ta hoàn thành điều Ta đã phán với ngươi."16 Gia-cóp tỉnh giấc và nói: "Quả thật, có ĐỨC CHÚA ở nơi này mà tôi không biết! "17 Cậu phát sợ và nói: "Nơi này đáng sợ thay! Đây là nhà của Thiên Chúa, là cửa trời, chứ không phải là gì khác."18 Sáng hôm sau, Gia-cóp dậy sớm, lấy hòn đá cậu đã gối đầu, dựng lên làm trụ và đổ dầu lên đầu trụ.19 Cậu đặt tên cho nơi đó là Bết Ên; trước đó, tên thành ấy là Lút.
20 Gia-cóp khấn rằng: "Nếu Thiên Chúa ở với tôi và giữ gìn tôi trong chuyến đi tôi đang thực hiện, nếu Người ban cho tôi bánh ăn áo mặc,21 nếu tôi được trở về nhà cha tôi bình an, thì ĐỨC CHÚA sẽ là Thiên Chúa của tôi,22 hòn đá này là hòn đá tôi đã dựng lên làm trụ sẽ là nhà của Thiên Chúa, và lạy Chúa, mọi sự Ngài ban cho con, con sẽ dâng cho Ngài một phần mười."
St 28, 10 -22.
I.Hình ảnh chiếc thang.
Một chiếc thang đầu thang chạm tới trời chân thang sát dưới đất.
1 Cây thang chạm trời.
Cây tre trăm đốt trong câu truyện cổ của người Việt Nam như là một huyền thoại “bắc thang lên hỏi ông trời”. Người Việt quan niệm về trời như một người rất cao trên con người và cũng gần với người. Trời là Đấng minh quân soi xét, Trời làm cho con người được sống, Trời cũng giúp con người hoàn thành những công trình của con người lao công “mưu sự tại nhân thành sự tại thiên”. Trời không là vô hình như trời xanh mây biếc mà cũng không là hữu hình có thể đụng chạm được. Trời được xưng danh Ông Trời, danh xưng ông chỉ Đấng Thiên có ngôi vị siêu việt, được tôn thờ. Ông không chỉ về giống bởi vì người Việt cũng gọi Bà Thiên. Vượt xa thọ tạo nên giống mà cũng khác với người. Đó là một ngôn ngữ tỷ loại, nói như vậy mà không là như vậy, là như thế mà không là như thế.
Có ông Trời và có bà Thiên, đó là cách diễn tả cặp đối xứng theo cách của người Việt, Ông Trời bà Thiên diễn tả Đấng Tạo Hoá như người cha và như người mẹ trong cuộc sinh thành và dưỡng nuôi. Cha sinh, mẹ dưỡng là nguồn căn của Hiếu đạo (bổn phận làm con).
Isaia loan báo lòng yêu thương này của Thiên Chúa đối với nhân loại như Người Cha và Người Mẹ.
“Như mục tử, Chúa chăn giữ đoàn chiên của Chúa,
tập trung cả đoàn dưới cánh tay.
Lũ chiên con, Người ấp ủ vào lòng”
bầy chiên mẹ, cũng tận tình dẫn dắt.” 1
Hiếu đạo, vì thế là bổn phận của mọi người sống trên dương thế, mọi người cùng một cha một mẹ dẫn đến bổn phận trong đời sống luân lý “Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”. Hun đúc từ niềm tin cha Trời, mẹ Đất dẫn đến cuộc sống tương quan nhân sinh. Tương quan nhân sinh lấy nguồn gốc từ Trời: “Không có Trời ai ở với ai” như vậy khi gọi Danh Xưng Trời người Việt cũng sống theo đạo Trời mà thuận với đạo nhân.
Tìm thấy trong gốc của Đạo Trời là Tâm, người Việt sống chữ Tâm ấy, theo những suy nghiệm của mình, cùng trong bối cảnh tư tưởng Đông Phương. Nguồn gốc nhân sinh là một câu hỏi liên tục chi phối tâm trí nhân loại Đông cũng như Tây, cả Đông và Tây đều chấp nhận một thực tại, tạo dựng là một diễn biến từ vô hình đến hữu hình. Nhờ một năng lực huyền nhiệm, vũ trụ xuất hiện, sức năng huyền nhiệm ấy Đông Phương theo Khổng Tử là Thái Cực, theo Lão Tử là Đạo. Từ Một sinh nhiều. Một ấy theo Đông Phương là Tâm của Trời Đất, Thái cực do Đạo sinh ra: “Đạo sinh nhất, Nhất vi Thái cực”. Từ Một sinh nhiều và nhiều trở về Một: “Thiên do Đạo nhi sinh, địa do Đạo nhi thành, vật do Đạo nhi hình, nhân do Đạo nhi hành. Thiên, địa, nhân, vật, tắc dị hĩ, kỳ ư Đạo, nhất dã”.
Rất gần với giáo huấn của Kinh Thánh về việc tạo dựng, mà các con đường suy biết của con người theo tự nhiên có thể đạt tới. Từ suối nguồn Tình Yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi Ngài đã làm nên vũ trụ và ban sự sống cho nhân loại, vạn vật;
“Ngày ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa làm ra đất và trời, chưa có bụi cây ngoài đồng nào trên mặt đất, chưa có đám cỏ ngoài đồng nào mọc lên, vì ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa chưa cho mưa xuống đất và không có người để canh tác đất đai. Nhưng có một dòng nước từ đất trào lên và tưới khắp mặt đất. ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật. Rồi ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa trồng một vườn cây ở Ê-đen, về phía đông, và đặt vào đó con người do chính mình nặn ra.” 2
và ngày quang lâm tất cả sẽ được thu họp nên Một trong Đức Kitô.
“Người cho ta được biết thiên ý nhiệm mầu:
thiên ý này là kế hoạch yêu thương
Người đã định từ trước trong Đức Ki-tô.
10 Đó là đưa thời gian tới hồi viên mãn
là quy tụ muôn loài trong trời đất
dưới quyền một thủ lãnh là Đức Ki-tô.
Cũng trong Đức Ki-tô.” 3
Chiếc thang chạm Trời, có một ý nghĩa trong mạc khải tự nhiên, con người có thể nhận biết Thiên Chúa qua các dấu ấn do bàn tay Thiên Chúa tạo dựng. Chiếc thang chạm trời này còn cho biết, con người tìm kiếm chân lý gặp nhau ở một đỉnh cao, nơi Thiên Chúa, Người muốn bày tỏ. Mạc Khải từ Thiên Chúa, từ ấy, có thể giải thích như một điểm tựa trên cao cho chiếc thang từ đất dựa vào. Không có sự mạc khải của Thiên Chúa tự bày tỏ qua các dấu ấn là bằng chứng sự hiện diện của Thiên Chúa, theo nghĩa “luận cứ đồng quy đầy thuyết phục” 4, thì chiếc thang từ đất sẽ ngã đổ vì thiếu điểm tựa trên cao.
Vì thế, những con đường tâm linh của Đông Phương, dù chưa gọi Danh chính xác về Thiên Chúa nhưng họ cũng tin rằng có Đấng vô hình và vĩnh hằng là điểm đầu của chiếc thang để con người có thể lên hay xuống trên chiếc thang ấy.
2. Chiếc thang nối giữa đất và trời.
Chân lý tuyệt đối là Một, nhưng có nhiều cách nhận thức, cách nhận thức này giống như chiếc thang, người ta dùng nhiều loại thang, cao dài thấp khác nhau, nhiều góc cạnh vẫn quy về Một, Khổng Tử viết: “Thiên hạ đồng qui nhi thù đồ, nhất trí nhi bách lự” (nhiều đường nhưng hướng về một chốn, trăm suy nghĩ đều về một mối”. Người Tây Phương thì nói: “Tout chemin conduit à Rome” (mọi con đường đều dẫn tới Roma). Tây Phương chọn lối suy tư phân tách - tổng hợp, Đông Phương chọn lối tổng Hợp - phân tách. Tây Phương có tính mạnh là triệt tiêu, Đông Phương có tính cách hài hoà. Âm - Dương hai khía cạnh đối lập nhưng không đối chọi lẫn nhau, Dương không triệt tiêu Âm, nhưng luân chuyển biến dịch mà sinh thành. Từ cách thế ấy Đông Phương có một lối đi: Tri và hành.
Tri và hành là chiếc thang của Đông phương, nguồn gốc của Đạo là Tâm. Tâm là nguyên lý bao dung, hoà hợp để sống, không có thánh chiến, không có huỷ diệt và loại bỏ. Biết được Đạo trời mà sống Đạo nhân là nguyên tắc của việc tri và hành, tri hành phân biệt và không tách biệt. Là chiếc thang có chiều đi lên và có hướng đi xuống. Từ Trời nối Đất và từ Đất hướng lên Trời. Đạo vì thế, rất gần và rất xa, ở trong tâm và vượt xa tâm.
Cây thang từ đất.
Không có siêu nhiên nếu không đặt trên nền tảng tự nhiên, tự nhiên nâng đỡ siêu nhiên trong hướng nhìn của chiếc thang đặt gốc từ đất. Không có tự nhiên cũng chẳng có siêu nhiên. Trở về với nguồn gốc tự nhiên của mình, người Đông Phương đề cập đến chữ tính trong nhân tính của mình bao gốm bộ tâm và bộ sinh. Tâm là hình ảnh biểu lộ trái tim, sinh là là sự sống. Trở về với căn tính của nhân sinh là trở về với nguồn gốc nhân tính của mình, nguồn gốc ấy là tình trời, tình trời làm cho sống và sống sự sống dồi dào, bởi thế đạo nhân là đạo lấy nghĩa mà đáp trả ân.
Thực tại siêu nhiên cắm rễ trong tự nhiên, phương cách đi tìm chân lý của Đông Phương cũng đề cao việc tĩnh lặng mà chiêm ngắm huyền nhiệm. Chiêm ngắm trong tự nhiên để nhận ra tình trời.
“Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa,
không trung loan báo việc tay Người làm.
3 Ngày qua mách bảo cho ngày tới,
đêm này kể lại với đêm kia.
4 Chẳng một lời một lẽ, chẳng nghe thấy âm thanh,
mà tiếng vang đã dội khắp hoàn cầu” 5
Con đường nhận thức của Đông Phương cũng thấy trong con đường của Thánh Kinh. Không nghe thấy âm thanh mà tiếng vang dội lại khắp hoàn cầu. Con đường nhận thức siêu việt khởi đi từ tự nhiên ấy cũng gặp nơi tư tưởng của Tagore, bài số 72, trong cuốn lời dâng.
“ Người là Đấng sâu thẳm thức tỉnh tôi bằng những tiếp xúc sâu kín,
Người là Đấng thoa bùa mê trên cặp mắt này và hoan hỷ gảy những dây đàn của lòng tôi theo những tiết tấu buồn vui phức tạp.
Người là Đấng đan tâm mạng ảo hoá lung linh sắc vàng sắc bạc, mầu biếc mầu xanh và qua riềm xếp để lộ đôi chân mà khẽ chạm là tôi đã quên mình.
Ngày tới, thời qua, và Người vẫn là Đấng hằng là Đấng xúc động tim tôi bằng bao danh hiệu, dưới bao dáng vẻ, trong bao mê đắm buồn vui.” 6
Trong lời cầu nguyện của Hàn mặc Tử chúng ta cũng gặp một tâm hồn câu nguyện trong tĩnh lặng của hồn đau:
“Ta chắp hai tay lại quỳ hoan hảo,
Ngửa trông cao, cầu nguyện trắng không gian.
Để vừa dâng vừa hiệp bốn mùa xuân,
Nở một lượt giầu sang lên Thượng Đế..”
1 Is 40, 11.
2 St 2, 4 - 8.
3 Ep 1, 9 -10.
4 Augustin.
5 Tv 18, 2- 4.
6 Khúc hát dâng đời, Tagore, bản dịch Phạm Hồng Dung và Phạm Bích Thuỷ, nhà sách Nguồn sáng xuất bản, 1971, trang 42.