Hy sinh trở thành Bí Tích.
Một lần đi tham dự lễ mở tay của một tân linh mục, trong bài giảng của vị giảng lễ đúc kết một lời nguyện cho đời linh mục: “Xin cho hy lễ cuối cùng cũng đẹp như hy lễ đầu tiên của ngày hôm nay”. Thoạt đầu nghe thật chí lý, nhưng khi bắt đầu sống đời linh mục gắn liền với bí tích Thánh Thể, chắc tôi sẽ không nguyện cầu như vậy nữa.
Tôi không xin như thế, bởi càng ngày càng thấm sâu hơn trong bí tích Thánh Thể với sứ vụ linh mục lãnh nhận.
1. Bí tích Thánh Thể là “nguồn mạch và tột đỉnh của đời sống Kitô hữu”.
Là bí tích của sự Hiệp Thông, Bí tích Thánh Thể diễn tả đời sống hiệp thông với Thiên Chúa, hiệp thông trong cộng đoàn dân Chúa. Màu nhiệm của sự hiệp thông này được diễn tả việc Thiên Chúa Thánh hoá trần gian trong Chúa Kitô cũng như việc con người được thánh hoá trong Chúa Thánh Thần. Màu nhiệm là sự biến đổi mỗi ngày, mỗi lúc thực hiện trong Thánh Lễ, Thiên Chúa đang làm mới lại bộ mặt trái đất.
“Nhờ cử hành Bí Tích Thánh Thể, ngay từ bây giờ chúng ta được kết hợp với Phụng Vụ trên trời và tiền dự vào đời sống vĩnh cửu, “khi Thiên Chúa có toàn quyền trên mọi sự”.
Bí tích Thánh Thể được gọi là Lễ Tạ Ơn, vì chính đây là việc tạ ơn Thiên Chúa. Tân Ước dùng từ “Eucharistein và Eulogein, gợi nhớ những việc Thiên Chúa đã thực hiện cho Dân Israen, Người đã sáng tạo - giải thoát và thánh hoá”. Thiên Chúa là Đấng giải thoát là kinh nghiệm đầu tiên Dân Do Thái học biết qua việc Thiên Chúa giải thoát họ khỏi đất Ai Cập, Thiên Chúa giải thoát họ cũng chính là Đấng đã tạo dựng nên họ.
Như những người Do Thái, chúng ta biết con người yếu đuối và mỏng dòn. Dễ bị khuất phục trước những cơn cám dỗ để quên Chúa, quên sự thực thi lề luật của Ngài và quên đi những hồng ân Ngài luôn tuôn đổ xuống đời ta. Gục ngã liên tục trước những cơn cám dỗ đến nỗi gần như tuyệt vọng với chính mình. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng khi Thiên Chúa sai Con Ngài đến trong thế gian, Ngài cũng sai Thánh Thần Chúa đến để tăng sức cho chúng ta biết lắng nghe và tuân giữ lời Ngài.
Thờ phượng, tán tụng và ngợi khen là những phương thế để Đức Giêsu có thể đong đầy hồn ta bằng sự hiện diện của Ngài. Khi chúng ta dán mắt vào Đức Giêsu trong lời cầu nguyện, ta đón rước Ngài hàng ngày vào trong tâm hồn ta để giúp ta thực thi lề luật. Ta càng hướng về Ngài, Ngài càng có nhiều cơ hội để ghi khắc trong tim ta lề luật của Ngài. Và như thế, việc tuân giữ lề luật Ngài không còn khó khăn nữa vì có Chúa giúp ta thực thi những điều này. Đó là những kinh nghiệm thấy được qua thời gian sống gắn bó với Bí tích Thánh Thể. Kinh nghiệm này giúp đời sống linh mục đi từ vỏ ngoài để đạt hơn trong chiều sâu của lễ vật. Như vậy lý do của lễ đầu đời linh mục chưa hẳn đã là đủ ý nghĩa để xin cho được đến lần cuối cùng.
Con đường hy tế của mỗi ngày dâng lên là con đường vượt những trở ngại của đời sống để tìm lễ vật. Trong đời sống của những tháng năm đầu đời linh mục, tất cả dường như rất dễ dàng, bởi thấy cuộc đời lý tưởng đẹp siết bao. Tất cả những tưởng ấy một phần do tác động từ bên ngoài, những lời chúc tụng, những cành hoa, những ưu ái của bạn bè, thân hữu; một phần khác do thời gian chưa nhiều để chịu sự phủ bụi. Trong những bài hát cầu nguyện, thường người ta đề cao phẩm chất cao quý của đời linh mục, nhưng lại ít đặt tới những thực tế của hy lễ đời sống linh mục hiến tế. Bao nhiêu vinh quang ở bên ngoài làm cho việc hiến dâng trở nên dễ dàng. Thời gian phủ bụi những vinh quang từ bên ngoài làm cho đời sống lý tưởng ban đầu dứt bỏ hình thức và đi vào chiều sâu hơn của hy lễ. Những hy lễ của đời linh mục khởi đi từ những kinh nghiệm về yếu đuối, mỏng dòn, dễ vỡ, len vào đời sống, những kinh nghiệm này đến từ nhiều ngõ của tham, sân, si. Cuộc sống đâu phải một lần dứt bỏ là xong cho mọi lần hiến lễ, mỗi ngày là một hy lễ, mỗi ngày lại là con đường dứt bỏ khó hơn. Giống như một người leo núi, đường càng lên cao, càng nhiều trở ngại. Vinh quang thì hết thấy nữa, trước mắt là con đường lên chứ không thể đi xuống, sức lực hao mòn theo từng bước đi lên. Cứ thử nhìn vào đời sống của các linh mục nhà hưu thì thấy rõ hơn những hy lễ này. Những hy lễ thật sự của một con người bị bỏ rơi quên lãng, giáo dân than phiền về thánh lễ của một linh mục già cả thường chậm chạp và kéo dài. Bài giảng của những linh mục hưu thường là luân lý, bao nhiêu sự chê bai, người ta không nhớ tới những chiến công hiển hách của thời trai trẻ của vị linh mục, người ta cũng không quảng đại để đến với người linh mục không còn năng quyền. Chìm vào cô đơn khiến người linh mục chỉ còn ước muốn dâng lễ một mình, một mình với Chúa. Thánh lễ của ngày đầu đời linh mục cử hành trong vinh quang, thánh lễ của những ngày cuối đời trong âm thầm lặng lẽ, rồi còn bao hy lễ của những người chung quanh, những hy lễ của những cuộc đời đau khổ. Thánh lễ nào ý nghĩa hơn, gần giống hơn hy lễ Thập Giá năm xưa trên đồi Can vê?
Đặt câu hỏi giữa thánh lễ đầu tiên và thánh lễ cuối cùng của đời linh mục để nhận ra rõ ràng nhất ý nghĩa tuyệt đỉnh của bí tích Thánh thể. Ý nghĩa ấy càng ngày càng trở nên trọng tâm của đời sống hơn, bởi nếu không thấy điều trọng tâm ấy, người linh mục không có một sự nâng đỡ thật sự. Những Thánh lễ, bao nhiêu Thánh Lễ trong đời linh mục, mỗi một Thánh Lễ, người linh mục càng cảm nghiệm sâu xa hơn về những điều mình đọc: “Xin đừng chấp tội chúng con, nhưng xin nhìn đến đức tin của Hội Thánh”. Của lễ của những tấm lòng rách nát thương đau trong cuộc đời, những chàng trai trẻ đầy hứa hẹn tương lai lại rơi vào sự huỷ hoại của những dã thú:Heroin, mại dâm, ma tuý… Những hiến lễ đau khổ của những ông bố bà mẹ lam lũ cả một đời mà chẳng thấy đời người con nào được hạnh phúc. Những hy lễ của bao người công chính mà cứ bị đời vùi dập bằng nhiều cách. Những hy lễ của những con người chịu sự bỏ rơi và chịu sự khinh miệt… Nhiều quá, cứ mỗi lần dâng Thánh lễ lại là những lần sự dữ ấy hiện diện trong tâm trí, làm run tay khi cầm lấy bánh đọc lời truyền phép. Nếu Thánh Lễ không là trọng tâm cho đời sống thì biết lấy gì để biến đổi những chất liệu này trở thành hiến lễ. Nếu Thánh lễ không là trọng tâm làm sao có thể mạnh dạn tuyên xưng: “Đây là mầu nhiệm Đức Tin”.
2. Hy lễ trở nên bí tích.
Đời sống linh mục gắn liền với Thánh Lễ làm cho thêm ý nghĩa và là sức mạnh nâng đỡ người linh mục. Hơn nhiều người linh mục khi dâng Thánh lễ ý thức về ý nghĩa của Thánh Lễ.
Bí tích Thánh Thể còn gọi là Hy lễ Thánh, vì hiện tại hoá hy lễ duy nhất của Chúa Cứu Thế và bao gồm lễ vật của Hội Thánh.
Kinh nghiệm về tình yêu hiến thánh của Thiên Chúa như trường hợp của tiên tri Hô - sê. Đức Kitô “tự hiến thánh để chúng ta được thánh hiến trong Người”.
Tình Yêu hiến thánh là một tình yêu biến đổi, biến đổi ngay cả những gì chưa thành toàn nơi chúng ta. Hô Sê thường được nhắc đến như tiên tri về tình yêu chí thánh, người đã nói về Thiên Chúa như Đấng sẵn sàng chịu đau khổ để đưa dân yêu dấu của Ngài về với Ngài. Cả cuộc đời Hô Sê lẫn sứ điệp của ông là một ví dụ về một trong những đau khổ lớn lao: bị từ chối. Biết rằng Gomer, vợ ông, đã bất trung với mình, Hô Sê đã không chọn con đường ly dị nhưng tìm kiếm bà, tha thứ cho bà. Theo thời gian, ông đưa được bà về với đường ngay nẻo chánh. Kinh nghiệm của Hô Sê cho ông một ý thức mãnh liệt về đường lối Chúa đối với dân Ngài, Israel. Ông biết Thiên Chúa coi dân Israel như "hiền thê" của Ngài và Ngài muốn họ yêu Ngài với cùng một tình cảm thân mật như hiền thê với phu quân. Hô Sê cũng biết Thiên Chúa cũng buồn phiền thế nào khi dân Ngài ngoảnh mặt đi tới Ngài. Nhưng Thiên Chúa không trả thù. Những lời của tiên tri Hô Sê nhắc ta nhớ rằng Thiên Chúa trung tín ngay cả khi chúng ta không trung tín với Ngài. Thiên Chúa luôn hoạt động để mang chúng ta về với tình yêu của Ngài. Ngay cả khi sửa phạt Israel, Thiên Chúa cũng đã làm thế xuất phát từ tình yêu. Hơn bất cứ điều nào, Thiên Chúa muốn phục hồi dân Ngài thành dân mà Ngài yêu dấu. Thông điệp của ông đem lại vui mừng và hy vọng.
Kinh nghiệm này có thể gặp thấy qua sự diễn đạt của Tagore:
“Tôi đang đi ăn mày gõ cửa từng nhà trên đường làng, thì cỗ xe vàng của Người hiện ra xa xa như một giấc mộng rực rỡ và tôi tự hỏi Vua của các vị vua này là ai đây?
Hy vọng tôi trào dâng và nghĩ những ngày xấu số sắp chấm dứt, và đứng chờ của bố thí ban ra chẳng cần cầu xin, và giầu sang tung rải bốn bề trong cát bụi.
Cỗ xe dừng nơi tôi đứng. Mắt Người đoái nhìn tôi và Người bước xuông mỉm cười.
Tôi cảm thấy cuối cùng vận may của đời tôi đã tới. rồi thình lình Người đưa tay phải ra và nói, “Ngươi có gì cho Ta chăng ?”
Ôi, cái trào lộng mới vương giả làm sao, Người mở lòng bàn tay xin một kẻ ăn mày! Tôi bối rối, đứng phân vân, rồi chậm chậm móc ra từ bị hạt lúa ít nhỏ nhất trao cho Người.
Nhưng tôi ngạc nhiên xiết bao khi ngày hết tôi dốc bị trên nền nhà thấy một hạt vàng ít nhỏ nhất lẫn trong đống hèn mọn! Tôi khóc chua cay và ước gì tôi có lòng đem tất cả tôi dâng Người”
Chúng ta có muốn được biến đổi trong Chúa Kitô và kết hiệp thân mật với Ngài không? Hãy dâng cho Người tất cả, và tất cả trở nên những hạt vàng.
Câu chuyện của Tagore giống như câu chuyện tình của Hô sê, đã bao lần Người đến xin chúng ta, nhưng chúng ta chưa dâng hết cho Người, đã bao lần trong thân phận nghèo khó của chúng ta vẫn giữ lại cho mình những ích lỷ nhỏ nhen. Thiên Chúa vẫn không biến đổi sâu rộng trong tâm hồn chúng ta. Đôi khi, chúng ta cứ tự nghĩ, của lễ dâng Thiên Chúa phải là những của lễ tinh tuyền, gia tài của kẻ hành khất có gì nhiều nhặn ngoài những rách rưới, sự nghèo túng, những tội lỗi. Tất cả đều có thể là lễ vật, nếu chúng ta dâng trao hết cho Người, thì mầu nhiệm Đức Tin chúng ta tuyên xưng mỗi ngày đang thực hiện giữa đời thường của chúng ta.
Một số người vẫn than phiền: “Đã bao lần, bao ngày tham dự Thánh Lễ, nhưng cuộc sống vẫn chỉ là thế, vẫn khô khan, vẫn nghèo túng, vẫn tội lỗi, dường như không có gì thay đổi”. Không có lễ vật làm sao có hiến lễ, không có hiến lễ làm sao có mầu nhiện biến đổi trong đời sống. Điều chúng ta thiếu, không phải là lễ vật, nhưng là ý thức về những lễ vật mình đang có và mang theo. Lễ vật dù đơn sơ, nghèo nàn, rách nát như tội lỗi, ai cũng có, chúng ta thiếu tấm lòng, thiếu sự dâng trao, thiếu tin tưởng vào mầu nhiệm mà chúng ta tham dự…
Hy lễ là gì? Những tấm lòng tan nát, khiêm cung, nghèo hèn như của lễ người hành khất. Dâng trao cho Chúa để trở nên bí tích mang lại sự sống, thật quá diệu vợi trong nhiệm tích trao dâng.
Lạy Chúa, chúng con xin dâng Người tất cả, kể cả những thiếu sót trong đời sống của chúng con. Xin Ngừơi, biến đổi thành những hạt vàng trong cuộc sống của chúng con. Xin cho Thánh lễ cuối cùng con dâng được cảm nghiệm sâu xa nhất về hy lễ Thập Giá mà con có thể lãnh hội được.
Một lần đi tham dự lễ mở tay của một tân linh mục, trong bài giảng của vị giảng lễ đúc kết một lời nguyện cho đời linh mục: “Xin cho hy lễ cuối cùng cũng đẹp như hy lễ đầu tiên của ngày hôm nay”. Thoạt đầu nghe thật chí lý, nhưng khi bắt đầu sống đời linh mục gắn liền với bí tích Thánh Thể, chắc tôi sẽ không nguyện cầu như vậy nữa.
Tôi không xin như thế, bởi càng ngày càng thấm sâu hơn trong bí tích Thánh Thể với sứ vụ linh mục lãnh nhận.
1. Bí tích Thánh Thể là “nguồn mạch và tột đỉnh của đời sống Kitô hữu”.
Là bí tích của sự Hiệp Thông, Bí tích Thánh Thể diễn tả đời sống hiệp thông với Thiên Chúa, hiệp thông trong cộng đoàn dân Chúa. Màu nhiệm của sự hiệp thông này được diễn tả việc Thiên Chúa Thánh hoá trần gian trong Chúa Kitô cũng như việc con người được thánh hoá trong Chúa Thánh Thần. Màu nhiệm là sự biến đổi mỗi ngày, mỗi lúc thực hiện trong Thánh Lễ, Thiên Chúa đang làm mới lại bộ mặt trái đất.
“Nhờ cử hành Bí Tích Thánh Thể, ngay từ bây giờ chúng ta được kết hợp với Phụng Vụ trên trời và tiền dự vào đời sống vĩnh cửu, “khi Thiên Chúa có toàn quyền trên mọi sự”.
Bí tích Thánh Thể được gọi là Lễ Tạ Ơn, vì chính đây là việc tạ ơn Thiên Chúa. Tân Ước dùng từ “Eucharistein và Eulogein, gợi nhớ những việc Thiên Chúa đã thực hiện cho Dân Israen, Người đã sáng tạo - giải thoát và thánh hoá”. Thiên Chúa là Đấng giải thoát là kinh nghiệm đầu tiên Dân Do Thái học biết qua việc Thiên Chúa giải thoát họ khỏi đất Ai Cập, Thiên Chúa giải thoát họ cũng chính là Đấng đã tạo dựng nên họ.
Như những người Do Thái, chúng ta biết con người yếu đuối và mỏng dòn. Dễ bị khuất phục trước những cơn cám dỗ để quên Chúa, quên sự thực thi lề luật của Ngài và quên đi những hồng ân Ngài luôn tuôn đổ xuống đời ta. Gục ngã liên tục trước những cơn cám dỗ đến nỗi gần như tuyệt vọng với chính mình. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng khi Thiên Chúa sai Con Ngài đến trong thế gian, Ngài cũng sai Thánh Thần Chúa đến để tăng sức cho chúng ta biết lắng nghe và tuân giữ lời Ngài.
Thờ phượng, tán tụng và ngợi khen là những phương thế để Đức Giêsu có thể đong đầy hồn ta bằng sự hiện diện của Ngài. Khi chúng ta dán mắt vào Đức Giêsu trong lời cầu nguyện, ta đón rước Ngài hàng ngày vào trong tâm hồn ta để giúp ta thực thi lề luật. Ta càng hướng về Ngài, Ngài càng có nhiều cơ hội để ghi khắc trong tim ta lề luật của Ngài. Và như thế, việc tuân giữ lề luật Ngài không còn khó khăn nữa vì có Chúa giúp ta thực thi những điều này. Đó là những kinh nghiệm thấy được qua thời gian sống gắn bó với Bí tích Thánh Thể. Kinh nghiệm này giúp đời sống linh mục đi từ vỏ ngoài để đạt hơn trong chiều sâu của lễ vật. Như vậy lý do của lễ đầu đời linh mục chưa hẳn đã là đủ ý nghĩa để xin cho được đến lần cuối cùng.
Con đường hy tế của mỗi ngày dâng lên là con đường vượt những trở ngại của đời sống để tìm lễ vật. Trong đời sống của những tháng năm đầu đời linh mục, tất cả dường như rất dễ dàng, bởi thấy cuộc đời lý tưởng đẹp siết bao. Tất cả những tưởng ấy một phần do tác động từ bên ngoài, những lời chúc tụng, những cành hoa, những ưu ái của bạn bè, thân hữu; một phần khác do thời gian chưa nhiều để chịu sự phủ bụi. Trong những bài hát cầu nguyện, thường người ta đề cao phẩm chất cao quý của đời linh mục, nhưng lại ít đặt tới những thực tế của hy lễ đời sống linh mục hiến tế. Bao nhiêu vinh quang ở bên ngoài làm cho việc hiến dâng trở nên dễ dàng. Thời gian phủ bụi những vinh quang từ bên ngoài làm cho đời sống lý tưởng ban đầu dứt bỏ hình thức và đi vào chiều sâu hơn của hy lễ. Những hy lễ của đời linh mục khởi đi từ những kinh nghiệm về yếu đuối, mỏng dòn, dễ vỡ, len vào đời sống, những kinh nghiệm này đến từ nhiều ngõ của tham, sân, si. Cuộc sống đâu phải một lần dứt bỏ là xong cho mọi lần hiến lễ, mỗi ngày là một hy lễ, mỗi ngày lại là con đường dứt bỏ khó hơn. Giống như một người leo núi, đường càng lên cao, càng nhiều trở ngại. Vinh quang thì hết thấy nữa, trước mắt là con đường lên chứ không thể đi xuống, sức lực hao mòn theo từng bước đi lên. Cứ thử nhìn vào đời sống của các linh mục nhà hưu thì thấy rõ hơn những hy lễ này. Những hy lễ thật sự của một con người bị bỏ rơi quên lãng, giáo dân than phiền về thánh lễ của một linh mục già cả thường chậm chạp và kéo dài. Bài giảng của những linh mục hưu thường là luân lý, bao nhiêu sự chê bai, người ta không nhớ tới những chiến công hiển hách của thời trai trẻ của vị linh mục, người ta cũng không quảng đại để đến với người linh mục không còn năng quyền. Chìm vào cô đơn khiến người linh mục chỉ còn ước muốn dâng lễ một mình, một mình với Chúa. Thánh lễ của ngày đầu đời linh mục cử hành trong vinh quang, thánh lễ của những ngày cuối đời trong âm thầm lặng lẽ, rồi còn bao hy lễ của những người chung quanh, những hy lễ của những cuộc đời đau khổ. Thánh lễ nào ý nghĩa hơn, gần giống hơn hy lễ Thập Giá năm xưa trên đồi Can vê?
Đặt câu hỏi giữa thánh lễ đầu tiên và thánh lễ cuối cùng của đời linh mục để nhận ra rõ ràng nhất ý nghĩa tuyệt đỉnh của bí tích Thánh thể. Ý nghĩa ấy càng ngày càng trở nên trọng tâm của đời sống hơn, bởi nếu không thấy điều trọng tâm ấy, người linh mục không có một sự nâng đỡ thật sự. Những Thánh lễ, bao nhiêu Thánh Lễ trong đời linh mục, mỗi một Thánh Lễ, người linh mục càng cảm nghiệm sâu xa hơn về những điều mình đọc: “Xin đừng chấp tội chúng con, nhưng xin nhìn đến đức tin của Hội Thánh”. Của lễ của những tấm lòng rách nát thương đau trong cuộc đời, những chàng trai trẻ đầy hứa hẹn tương lai lại rơi vào sự huỷ hoại của những dã thú:Heroin, mại dâm, ma tuý… Những hiến lễ đau khổ của những ông bố bà mẹ lam lũ cả một đời mà chẳng thấy đời người con nào được hạnh phúc. Những hy lễ của bao người công chính mà cứ bị đời vùi dập bằng nhiều cách. Những hy lễ của những con người chịu sự bỏ rơi và chịu sự khinh miệt… Nhiều quá, cứ mỗi lần dâng Thánh lễ lại là những lần sự dữ ấy hiện diện trong tâm trí, làm run tay khi cầm lấy bánh đọc lời truyền phép. Nếu Thánh Lễ không là trọng tâm cho đời sống thì biết lấy gì để biến đổi những chất liệu này trở thành hiến lễ. Nếu Thánh lễ không là trọng tâm làm sao có thể mạnh dạn tuyên xưng: “Đây là mầu nhiệm Đức Tin”.
2. Hy lễ trở nên bí tích.
Đời sống linh mục gắn liền với Thánh Lễ làm cho thêm ý nghĩa và là sức mạnh nâng đỡ người linh mục. Hơn nhiều người linh mục khi dâng Thánh lễ ý thức về ý nghĩa của Thánh Lễ.
Bí tích Thánh Thể còn gọi là Hy lễ Thánh, vì hiện tại hoá hy lễ duy nhất của Chúa Cứu Thế và bao gồm lễ vật của Hội Thánh.
Kinh nghiệm về tình yêu hiến thánh của Thiên Chúa như trường hợp của tiên tri Hô - sê. Đức Kitô “tự hiến thánh để chúng ta được thánh hiến trong Người”.
Tình Yêu hiến thánh là một tình yêu biến đổi, biến đổi ngay cả những gì chưa thành toàn nơi chúng ta. Hô Sê thường được nhắc đến như tiên tri về tình yêu chí thánh, người đã nói về Thiên Chúa như Đấng sẵn sàng chịu đau khổ để đưa dân yêu dấu của Ngài về với Ngài. Cả cuộc đời Hô Sê lẫn sứ điệp của ông là một ví dụ về một trong những đau khổ lớn lao: bị từ chối. Biết rằng Gomer, vợ ông, đã bất trung với mình, Hô Sê đã không chọn con đường ly dị nhưng tìm kiếm bà, tha thứ cho bà. Theo thời gian, ông đưa được bà về với đường ngay nẻo chánh. Kinh nghiệm của Hô Sê cho ông một ý thức mãnh liệt về đường lối Chúa đối với dân Ngài, Israel. Ông biết Thiên Chúa coi dân Israel như "hiền thê" của Ngài và Ngài muốn họ yêu Ngài với cùng một tình cảm thân mật như hiền thê với phu quân. Hô Sê cũng biết Thiên Chúa cũng buồn phiền thế nào khi dân Ngài ngoảnh mặt đi tới Ngài. Nhưng Thiên Chúa không trả thù. Những lời của tiên tri Hô Sê nhắc ta nhớ rằng Thiên Chúa trung tín ngay cả khi chúng ta không trung tín với Ngài. Thiên Chúa luôn hoạt động để mang chúng ta về với tình yêu của Ngài. Ngay cả khi sửa phạt Israel, Thiên Chúa cũng đã làm thế xuất phát từ tình yêu. Hơn bất cứ điều nào, Thiên Chúa muốn phục hồi dân Ngài thành dân mà Ngài yêu dấu. Thông điệp của ông đem lại vui mừng và hy vọng.
Kinh nghiệm này có thể gặp thấy qua sự diễn đạt của Tagore:
“Tôi đang đi ăn mày gõ cửa từng nhà trên đường làng, thì cỗ xe vàng của Người hiện ra xa xa như một giấc mộng rực rỡ và tôi tự hỏi Vua của các vị vua này là ai đây?
Hy vọng tôi trào dâng và nghĩ những ngày xấu số sắp chấm dứt, và đứng chờ của bố thí ban ra chẳng cần cầu xin, và giầu sang tung rải bốn bề trong cát bụi.
Cỗ xe dừng nơi tôi đứng. Mắt Người đoái nhìn tôi và Người bước xuông mỉm cười.
Tôi cảm thấy cuối cùng vận may của đời tôi đã tới. rồi thình lình Người đưa tay phải ra và nói, “Ngươi có gì cho Ta chăng ?”
Ôi, cái trào lộng mới vương giả làm sao, Người mở lòng bàn tay xin một kẻ ăn mày! Tôi bối rối, đứng phân vân, rồi chậm chậm móc ra từ bị hạt lúa ít nhỏ nhất trao cho Người.
Nhưng tôi ngạc nhiên xiết bao khi ngày hết tôi dốc bị trên nền nhà thấy một hạt vàng ít nhỏ nhất lẫn trong đống hèn mọn! Tôi khóc chua cay và ước gì tôi có lòng đem tất cả tôi dâng Người”
Chúng ta có muốn được biến đổi trong Chúa Kitô và kết hiệp thân mật với Ngài không? Hãy dâng cho Người tất cả, và tất cả trở nên những hạt vàng.
Câu chuyện của Tagore giống như câu chuyện tình của Hô sê, đã bao lần Người đến xin chúng ta, nhưng chúng ta chưa dâng hết cho Người, đã bao lần trong thân phận nghèo khó của chúng ta vẫn giữ lại cho mình những ích lỷ nhỏ nhen. Thiên Chúa vẫn không biến đổi sâu rộng trong tâm hồn chúng ta. Đôi khi, chúng ta cứ tự nghĩ, của lễ dâng Thiên Chúa phải là những của lễ tinh tuyền, gia tài của kẻ hành khất có gì nhiều nhặn ngoài những rách rưới, sự nghèo túng, những tội lỗi. Tất cả đều có thể là lễ vật, nếu chúng ta dâng trao hết cho Người, thì mầu nhiệm Đức Tin chúng ta tuyên xưng mỗi ngày đang thực hiện giữa đời thường của chúng ta.
Một số người vẫn than phiền: “Đã bao lần, bao ngày tham dự Thánh Lễ, nhưng cuộc sống vẫn chỉ là thế, vẫn khô khan, vẫn nghèo túng, vẫn tội lỗi, dường như không có gì thay đổi”. Không có lễ vật làm sao có hiến lễ, không có hiến lễ làm sao có mầu nhiện biến đổi trong đời sống. Điều chúng ta thiếu, không phải là lễ vật, nhưng là ý thức về những lễ vật mình đang có và mang theo. Lễ vật dù đơn sơ, nghèo nàn, rách nát như tội lỗi, ai cũng có, chúng ta thiếu tấm lòng, thiếu sự dâng trao, thiếu tin tưởng vào mầu nhiệm mà chúng ta tham dự…
Hy lễ là gì? Những tấm lòng tan nát, khiêm cung, nghèo hèn như của lễ người hành khất. Dâng trao cho Chúa để trở nên bí tích mang lại sự sống, thật quá diệu vợi trong nhiệm tích trao dâng.
Lạy Chúa, chúng con xin dâng Người tất cả, kể cả những thiếu sót trong đời sống của chúng con. Xin Ngừơi, biến đổi thành những hạt vàng trong cuộc sống của chúng con. Xin cho Thánh lễ cuối cùng con dâng được cảm nghiệm sâu xa nhất về hy lễ Thập Giá mà con có thể lãnh hội được.