II. Linh Mục Người cho cộng Đoàn.
1. Người trong cộng đoàn.
Tu không phải là trốn thế gian, cũng không là để cầu mong, nhưng tu có nghĩa thực là sửa. Thầy Thích Thanh Từ nói đến chữ tu trong Phật Giáo:
“Trong giới Phật tử chúng ta ngày nay đa số không hiểu rõ ý nghĩa chữ TU, nên ứng dụng sai lầm một cách đáng thương. Khi đến chùa xin qui y, họ thầm nghĩ từ đây về sau được Phật hộ độ cho mình khỏe mạnh, gia đình mình an ổn, mọi mong cầu được như ý, khi chết được Phật rước về cõi Phật... Chớ họ không hiểu rằng, kể từ ngày qui y Tam Bảo là tự mình quyết tâm chừa bỏ những thói hư tật xấu, mình quyết thắng mọi tâm niệm, hành động đê hèn ác độc của mình, và mình cố gắng tạo dựng đầy đủ phước lành để chết được sanh về cõi Phật. Họ đinh ninh trong lòng TU là nương tựa Tam Bảo, là van xin với Phật, là thỏa mãn mọi mong cầu, là an lành suốt cuộc đời..., nên trở thành yếu hèn ỷ lại, mất hết ý nghĩa chữ TU. Bởi bản chất con người hầu hết là yếu hèn, sợ hãi, tham lam, nên bước chân vào đường tu, họ thích ỷ lại, van xin và mong cầu. Do đó làm biến thái tinh thần tu hành của người Phật tử.” 1
con đường ơn gọi của đời tu Kitô giáo cũng bắt đầu từ định luật tự nhiên đó. Được chọn giữa thế gian nhưng vẫn ở giữa thế gian.Linh mục là người trong cộng đoàn và giữa cộng đoàn được Thiên Chúa kêu gọi. “Mọi thượng tế được cất nhắc từ giữa loài người đều được đặt lên để can thiệp cho loài người trong những mối tương quan giữa loài người với Thiên Chúa” (Dt 5, 1).
Từ giữa nhân loại nên người linh mục mang theo những hành trang di sản của nền văn hoá nơi mình được kêu gọi. Di sản văn hoá ấy có những nét đẹp truyền thống mà căn tính của người linh mục không thể thiếu sót. Họ được ươm trồng trong một nền văn hoá từ ấy ra đi theo tiếng gọi của Thiên Chúa, được Thiên Chúa huấn luyện và trở về làm chứng ngay giữa cộng đoàn họ đã ra đi. Như vậy, đi tu không có nghĩa là xuất thế để rồi lại trở lại nhập thế, xuất thế và nhập thế chỉ là cách nói. Thực sự, người Linh Mục vẫn ở giữa cộng đoàn, vẫn mang nặng nỗi ưu tư về dân tộc của mình, họ được huấn luyện để rồi làm cho nền văn hoá của dân tộc ấy thấm nhuần Phúc Âm hơn theo cách thức gieo trồng của Thiên Chúa muốn. Nhiệm vụ của mỗi người linh mục là tìm hiểu sâu xa về văn hoá của truyền thống nơi họ đang sống. Thiếu hiểu biết về văn hoá dân tộc, người linh mục sẽ mất gốc, sống trên mây và trên gió. Không có nền tảng siêu nhiên nào được cắm rễ trong tự nhiên nếu không có nền tảng tự nhiên nâng đỡ.
Xét theo ước mong của hiện thời, người ta thấy chưa bao giờ thế giới khát mong hoà bình hơn thế, niềm khát mong này được gia tăng khi cuộc sống bên ngoài đầy những đe doạ bất an. Trong nền văn hoá Đông Phương, từ lâu đời nền văn hoá ấy đã tích tụ chiều dầy kinh nghiệm của sự an hoà, đó là chiều kích con người sống hài hoà với nhau nhờ sống hài hoà với thiên nhiên, sống hài hoà với trời.
Đông Phương đã từ lâu ý thức về luật phong thuỷ, là một nét đặc trưng cơ bản của triết lý hài hoà, thuận theo tự nhiên mà hành động, chỉ mới đây khoa học thực nghiệm Tây Phương nhận ra hệ sinh thái toàn cầu là mối liện hệ giữa con người và thiên nhiên. Với khám phá đó của Tây Phương, họ đề ra một tiêu chuẩn cho những “thiết kế tôn trọng tự nhiên” (design with nature) trong tương lai.
Không những chỉ áp dụng vào kiến trúc, Tây phương còn ứng dụng những hiểu biết Đông Phương vào những thành tựu của kỹ thuật. Kinh dịch được áp dụng vào khoa học sớm nhất có lẽ là Leibniz, là triết gia và là nhà toán học người Đức (1646 - 1716). Ông đã nghiên cứu về bát quái, để áp dụng trong phép toán nhị phân thay cho phép toán thập phân. Phép toán nhị phân bao gồm số 1 và số 0 biểu thị của dương và âm, áp dụng vào kỹ thuật điện tử, có dòng điện là dương, không có nguồn điện là âm, người ta thiết lâp một nhóm 6 số bao gồm số 0 và 1, thì người ta có 64 nhóm. Từ đây lịch sử của những chiếc máy vi tính ra đời. Thế hệ đầu tiên của những chiếc máy điện toán đầu tiên xây dựng trên nền tảng của những chiếc đèn điện tử gồm có hai cực Cathod và Anod, điện cực âm và điện cực dương, chiếc máy điện toán khổng lồ ở Mỹ bao gồm 1.800 bóng đèn điện tử, chỉ làm được phép toán cộng trừ nhân chia, mà tiêu tốn hết 150 Kw/h và toàn bộ chiếc máy nặng đến 30 tấn. Kích thước của hệ thống máy điện toán thế hệ thứ 2 thu nhỏ hơn nhờ kỹ thuật bán dẫn, thế hệ này chiếc máy tính đã hiểu được ngôn ngữ lập trình và bắt đầu cuộc đột phá mới. Thế hệ thứ ba của máy vi tính được thiết kế trên các mách Ic (mạch tổ hợp), trên 1 cm2 người ta cấy trên đó những tổ hợp tích cực. Thế hệ thứ tư xuất hiện vào năm 1972, hãng Intel cho ra đời một mạch vi xử lý (Micro processor) mang nhãn số 8008, và từ đó chiếc máy vi tính càng ngày càng trở nên hữu hiệu và được thu nhỏ hơn có thể nằm gọn trên chiếc bàn làm việc. Thế hệ thứ 5 đòi hỏi đi xa hơn, là dạng xử lý tri thức, nhận dạng được hình ảnh (scan), nhận ra được tiếng nói (voice), nối các nguồn dữ liệu thông tin (Net), suy nghĩ có tính chủ động như bộ não con người…
Không thể phủ nhận tính giao thoa của các nền văn hoá, hoặc phủ xoá của các nền văn hoá khác trên văn hoá bản địa. Linh mục là người ở trong cộng đoàn, nghĩa là cũng là người nhìn ra một thực tế đang chịu ảnh hưởng bởi lối sống văn hoá khác truyền bá cực mạnh trên các phương tiện kĩ thuật hiện đại.
Một khoa học không ngừng phát triển một cách vũ bão, nhất là việc phát minh NetWork làm cho các nền văn hoá ảnh hưởng lẫn nhau một cách nhanh chóng và mạnh mẽ. Nền văn hoá Mỹ ảnh hưởng trên nhiều khu vực nhất, chỉ riêng về truyền hình, lược qua những con số phát triển đã đủ thấy sức mạnh của sự truyền bá đến mức nào. “Đầu những năm 1980, các đài phát thanh AM tăng từ chưa đầy 1000 đài vào năm 1945, lên nhanh 5000 đài và còn thêm 5500 đài nữa. Có hơn 300 đài truyền hình độc lập so với 1978 chỉ có 85 đài. Có 8000 mạng lưới dây cáp và hơn 2.000.000 ăng ten thu từ vệ tinh do 70 công ty phục vụ bằng kỹ thuật visual, chưa kể đến những chân rết của mạng lưới điện toán (Internet)”. 2Hiện nay, riêng ở Việt Nam, đã có nhiều gia đình tiếp nhận các kênh sóng truyền hình thu từ vệ tinh qua ăng ten Parabol, hoặc qua truyền hình cáp do các công ty cung cấp, bao gồm rất nhiều kênh: MTV, HBO, TV5, BBC, CNN, Star Sports, Star Movies, Cartoon network, Discovery…). Không thể nào bỏ qua được những ảnh hưởng của văn hoá và lối sống thực dụng từ các nền văn hoá khác đang tràn ngập vào lối sống của những người trẻ hôm nay.
Về mặt tích cực, một lớp giới trẻ không ngừng năng động, tiến tới trong các lãnh vực kỹ thuật, không đủ thời gian để nghe những buổi giảng thuyết dài lê thê, tuột hậu với những suy nghĩ. Mặt tích cực, đòi hỏi người linh mục hôm nay, học biết nhiều hơn, nhất là những năm sau khi ra trường, hiểu những phong thái suy nghĩ của giới trẻ để giúp họ nhiều hơn. Mặt khác, về tiêu cực, có rất nhiều người trẻ rơi vào lối sống hưởng thụ, thực dụng hơn. Nền văn minh hưởng thụ không những ảnh hưởng trên giới trẻ mà có ảnh hưởng trên các linh mục trẻ. Thật là khó, để sống đời sống linh mục trẻ hiện nay mà không chịu một vài xây sát, thương tổn… Do đó, cần phải trở về luôn để uốn nắn lại đời mình trong Đức Kitô, xin Ngài thương xót và giữ gìn trong chân lý và yêu thương.
Trở về với nguồn văn hoá dân tộc, một phần căn tính của người linh mục, cần có một góc nhìn về văn hoá của mình hơn và tìm hiểu hơn những dòng văn hoá khác đang xâm nhập và giao thoa với nền văn hoá bản địa. Sở dĩ khi muốn trình bày về luỹ tre, khóm trúc là hình ảnh của người linh mục thì cũng không đi xa hơn ước muốn thuận với tự nhiên mà hành động, theo đạo trời mà sống đạo nhân.
2. Linh Mục người được chọn giữa cộng đoàn.
Truyền thống tôn giáo tại Việt Nam giống như Cha Cadière nhận định như vào rừng rậm Trường Sơn. Tính cách của người Việt là tư duy tổng hợp, tôn giáo vì thế cũng có nhiều tản mạn pha trộn. Đời sống tâm linh chịu sự san bằng giữa các tôn giáo: “Đạo nào cũng là đạo, đạo nào cũng dạy ăn ngay ở lành”. Đối thoại với sự san bằng ấy trong ý thức dân Việt là một đòi hỏi nỗ lực tìm hiểu của người Linh mục. Người dân Việt tư duy không thiên về siêu hình, lý thuyết, nhưng thiên về trực giác và cụ thể. Tông huấn “Giáo Hội tại Á Châu” nhận định: “những ai sống trong đời tu hãy cố gắng làm chứng cho mọi người thấy rằng ai cũng được mời gọi nên thánh, đồng thời hãy trở thành gương sáng cho người Kitô hữu lẫn người ngoài kitô giáo, về lòng yêu thương xả thân vì mọi người, nhất là những anh chị em yếu kém nhất”. 3 Đi tìm một mẫu linh mục như Đức Giêsu trong hoàn cảnh hiện tại thật là khó. Con đường của đời tu là tìm kiếm Thiên Chúa, sống tinh thần hiệp thông huynh đệ và phục vụ người khác.
Thế nên, con đường tu đức Việt là con đường chứng nhân hơn thày dậy. Để thành chứng nhân, trước tiên là sự đòi hỏi tu thân để thành nhân, tu nhân để thành thánh. Con đường tu ấy dựa theo hình ảnh của cây tre, cây trúc là tượng trưng hình ảnh người quân tử. Người ta hay đàm tiếu tính cách của quân tử Tàu, là cách chế diễu khinh thường nền Nho học, thực ra quân tử theo nghĩa của Khổng Giáo: Người có phẩm hạnh ngay thẳng, có nhân cách hoàn toàn, người có tài và đức. Gọi là người quân tử, nghĩa là người biết sửa, gồm có: Tu ngôn, nghĩa là biết sửa lời nói; tu hạnh, nghĩa là sửa đổi tính nết; tu tánh, nghĩa là sửa tánh tình, tu thân, nghĩa là sửa mình. Con đường tu xem ra là lời mời gọi đi lên chỗ cao, xem ra là lời gọi đi ra xa; trên thực tế lên cao khời từ thấp, đi xa khởi từ gần. Không thể là vị thánh nếu chưa là người cách thực sự.
Ai cũng được mời gọi tu, nhưng linh mục là người lãnh nhận lời mời gọi đặc biệt trở thành chứng nhân cho lời mời gọi ấy. Tu không chỉ là cho mình, dừng lại với bản thân, nhưng là cho mọi người, nhất là cho cộng đoàn mà lời mời gọi ấy sai đến và được giao phó. Chính vì thế người linh mục lãnh nhận một trách nhiệm lớn lao hơn khi được mời gọi dấn thân xa hơn.
Được chọn giữa cộng đoàn, nhưng vẫn ở trong thế gian, một thế gian theo đúng nghĩa của nó với những tính trần tục : “Tham, sân, si”. Người linh mục trẻ hôm nay chịu lôi kéo từ hai phía, thuộc về Thiên Chúa và thuộc về thế gian. Thuộc về thế gian là một tác động rất mạnh, ảnh hưởng lôi kéo người linh mục trẻ thật sự, không mơ hồ, sức mạnh đó biểu lộ qua tài chính, qua màn ảnh, qua lối sống, qua cách sử dụng thời gian, qua các quảng cáo, sách báo,… Có một thế gian đối nghịch thật sự và luôn như sư tử rình mồi cắn xé đời sống Linh mục.
“Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước. Giả như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian đã yêu thích cái gì là của nó. Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em. Hãy nhớ lời Thầy đã nói với anh em: tôi tớ không lớn hơn chủ nhà. Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em. Nếu họ đã tuân giữ lời Thầy, họ cũng sẽ tuân giữ lời anh em. Nhưng họ sẽ làm tất cả những điều ấy chống lại anh em, vì anh em mang danh Thầy, bởi họ không biết Đấng đã sai Thầy”.4
Trung thành với ơn gọi linh mục là một hình thức tử đạo. Tử đạo không chết một lần là xong như khi xưa người ta đem các tín hữu ra chém đầu và kết thúc. Một cuộc tử đạo liên lỷ, nhiều thử thách hơn, nhiều chối từ những cám dỗ hơn, vẫn làm chứng tá giữa những roi đòn của trần gian. Linh mục, con người bị thế gian gặm nhấm, càng ngày các phương tiện, các trào lưu của lối sống hưởng thụ càng tinh vi hơn len lỏi vào trong suy tư bào mòn lý tưởng. Cần làm mới lại luôn trong Tình Yêu Đức Kitô mà người Linh Mục đã lựa chọn.
Xin Chúa thương xót linh mục trẻ chúng con, xin anh chị em tha thứ và giúp chúng tôi sống tốt hơn trong sứ vụ của mình. Chúng con cần lòng thương xót của Chúa và cần đến tình thương bao dung của anh chị em.
---------------------------------------------------------------
1. Cành lá vô ưu, Thích Thanh Từ.
2. L’ Etat des Etats, unis Ed, la Decouverte, Paris, 1990, bài của Claude jean Bertrand.
3. Ecclesia in Asia, #44.
4. Ga 15, 18 - 21
1. Người trong cộng đoàn.
Tu không phải là trốn thế gian, cũng không là để cầu mong, nhưng tu có nghĩa thực là sửa. Thầy Thích Thanh Từ nói đến chữ tu trong Phật Giáo:
“Trong giới Phật tử chúng ta ngày nay đa số không hiểu rõ ý nghĩa chữ TU, nên ứng dụng sai lầm một cách đáng thương. Khi đến chùa xin qui y, họ thầm nghĩ từ đây về sau được Phật hộ độ cho mình khỏe mạnh, gia đình mình an ổn, mọi mong cầu được như ý, khi chết được Phật rước về cõi Phật... Chớ họ không hiểu rằng, kể từ ngày qui y Tam Bảo là tự mình quyết tâm chừa bỏ những thói hư tật xấu, mình quyết thắng mọi tâm niệm, hành động đê hèn ác độc của mình, và mình cố gắng tạo dựng đầy đủ phước lành để chết được sanh về cõi Phật. Họ đinh ninh trong lòng TU là nương tựa Tam Bảo, là van xin với Phật, là thỏa mãn mọi mong cầu, là an lành suốt cuộc đời..., nên trở thành yếu hèn ỷ lại, mất hết ý nghĩa chữ TU. Bởi bản chất con người hầu hết là yếu hèn, sợ hãi, tham lam, nên bước chân vào đường tu, họ thích ỷ lại, van xin và mong cầu. Do đó làm biến thái tinh thần tu hành của người Phật tử.” 1
con đường ơn gọi của đời tu Kitô giáo cũng bắt đầu từ định luật tự nhiên đó. Được chọn giữa thế gian nhưng vẫn ở giữa thế gian.Linh mục là người trong cộng đoàn và giữa cộng đoàn được Thiên Chúa kêu gọi. “Mọi thượng tế được cất nhắc từ giữa loài người đều được đặt lên để can thiệp cho loài người trong những mối tương quan giữa loài người với Thiên Chúa” (Dt 5, 1).
Từ giữa nhân loại nên người linh mục mang theo những hành trang di sản của nền văn hoá nơi mình được kêu gọi. Di sản văn hoá ấy có những nét đẹp truyền thống mà căn tính của người linh mục không thể thiếu sót. Họ được ươm trồng trong một nền văn hoá từ ấy ra đi theo tiếng gọi của Thiên Chúa, được Thiên Chúa huấn luyện và trở về làm chứng ngay giữa cộng đoàn họ đã ra đi. Như vậy, đi tu không có nghĩa là xuất thế để rồi lại trở lại nhập thế, xuất thế và nhập thế chỉ là cách nói. Thực sự, người Linh Mục vẫn ở giữa cộng đoàn, vẫn mang nặng nỗi ưu tư về dân tộc của mình, họ được huấn luyện để rồi làm cho nền văn hoá của dân tộc ấy thấm nhuần Phúc Âm hơn theo cách thức gieo trồng của Thiên Chúa muốn. Nhiệm vụ của mỗi người linh mục là tìm hiểu sâu xa về văn hoá của truyền thống nơi họ đang sống. Thiếu hiểu biết về văn hoá dân tộc, người linh mục sẽ mất gốc, sống trên mây và trên gió. Không có nền tảng siêu nhiên nào được cắm rễ trong tự nhiên nếu không có nền tảng tự nhiên nâng đỡ.
Xét theo ước mong của hiện thời, người ta thấy chưa bao giờ thế giới khát mong hoà bình hơn thế, niềm khát mong này được gia tăng khi cuộc sống bên ngoài đầy những đe doạ bất an. Trong nền văn hoá Đông Phương, từ lâu đời nền văn hoá ấy đã tích tụ chiều dầy kinh nghiệm của sự an hoà, đó là chiều kích con người sống hài hoà với nhau nhờ sống hài hoà với thiên nhiên, sống hài hoà với trời.
Đông Phương đã từ lâu ý thức về luật phong thuỷ, là một nét đặc trưng cơ bản của triết lý hài hoà, thuận theo tự nhiên mà hành động, chỉ mới đây khoa học thực nghiệm Tây Phương nhận ra hệ sinh thái toàn cầu là mối liện hệ giữa con người và thiên nhiên. Với khám phá đó của Tây Phương, họ đề ra một tiêu chuẩn cho những “thiết kế tôn trọng tự nhiên” (design with nature) trong tương lai.
Không những chỉ áp dụng vào kiến trúc, Tây phương còn ứng dụng những hiểu biết Đông Phương vào những thành tựu của kỹ thuật. Kinh dịch được áp dụng vào khoa học sớm nhất có lẽ là Leibniz, là triết gia và là nhà toán học người Đức (1646 - 1716). Ông đã nghiên cứu về bát quái, để áp dụng trong phép toán nhị phân thay cho phép toán thập phân. Phép toán nhị phân bao gồm số 1 và số 0 biểu thị của dương và âm, áp dụng vào kỹ thuật điện tử, có dòng điện là dương, không có nguồn điện là âm, người ta thiết lâp một nhóm 6 số bao gồm số 0 và 1, thì người ta có 64 nhóm. Từ đây lịch sử của những chiếc máy vi tính ra đời. Thế hệ đầu tiên của những chiếc máy điện toán đầu tiên xây dựng trên nền tảng của những chiếc đèn điện tử gồm có hai cực Cathod và Anod, điện cực âm và điện cực dương, chiếc máy điện toán khổng lồ ở Mỹ bao gồm 1.800 bóng đèn điện tử, chỉ làm được phép toán cộng trừ nhân chia, mà tiêu tốn hết 150 Kw/h và toàn bộ chiếc máy nặng đến 30 tấn. Kích thước của hệ thống máy điện toán thế hệ thứ 2 thu nhỏ hơn nhờ kỹ thuật bán dẫn, thế hệ này chiếc máy tính đã hiểu được ngôn ngữ lập trình và bắt đầu cuộc đột phá mới. Thế hệ thứ ba của máy vi tính được thiết kế trên các mách Ic (mạch tổ hợp), trên 1 cm2 người ta cấy trên đó những tổ hợp tích cực. Thế hệ thứ tư xuất hiện vào năm 1972, hãng Intel cho ra đời một mạch vi xử lý (Micro processor) mang nhãn số 8008, và từ đó chiếc máy vi tính càng ngày càng trở nên hữu hiệu và được thu nhỏ hơn có thể nằm gọn trên chiếc bàn làm việc. Thế hệ thứ 5 đòi hỏi đi xa hơn, là dạng xử lý tri thức, nhận dạng được hình ảnh (scan), nhận ra được tiếng nói (voice), nối các nguồn dữ liệu thông tin (Net), suy nghĩ có tính chủ động như bộ não con người…
Không thể phủ nhận tính giao thoa của các nền văn hoá, hoặc phủ xoá của các nền văn hoá khác trên văn hoá bản địa. Linh mục là người ở trong cộng đoàn, nghĩa là cũng là người nhìn ra một thực tế đang chịu ảnh hưởng bởi lối sống văn hoá khác truyền bá cực mạnh trên các phương tiện kĩ thuật hiện đại.
Một khoa học không ngừng phát triển một cách vũ bão, nhất là việc phát minh NetWork làm cho các nền văn hoá ảnh hưởng lẫn nhau một cách nhanh chóng và mạnh mẽ. Nền văn hoá Mỹ ảnh hưởng trên nhiều khu vực nhất, chỉ riêng về truyền hình, lược qua những con số phát triển đã đủ thấy sức mạnh của sự truyền bá đến mức nào. “Đầu những năm 1980, các đài phát thanh AM tăng từ chưa đầy 1000 đài vào năm 1945, lên nhanh 5000 đài và còn thêm 5500 đài nữa. Có hơn 300 đài truyền hình độc lập so với 1978 chỉ có 85 đài. Có 8000 mạng lưới dây cáp và hơn 2.000.000 ăng ten thu từ vệ tinh do 70 công ty phục vụ bằng kỹ thuật visual, chưa kể đến những chân rết của mạng lưới điện toán (Internet)”. 2Hiện nay, riêng ở Việt Nam, đã có nhiều gia đình tiếp nhận các kênh sóng truyền hình thu từ vệ tinh qua ăng ten Parabol, hoặc qua truyền hình cáp do các công ty cung cấp, bao gồm rất nhiều kênh: MTV, HBO, TV5, BBC, CNN, Star Sports, Star Movies, Cartoon network, Discovery…). Không thể nào bỏ qua được những ảnh hưởng của văn hoá và lối sống thực dụng từ các nền văn hoá khác đang tràn ngập vào lối sống của những người trẻ hôm nay.
Về mặt tích cực, một lớp giới trẻ không ngừng năng động, tiến tới trong các lãnh vực kỹ thuật, không đủ thời gian để nghe những buổi giảng thuyết dài lê thê, tuột hậu với những suy nghĩ. Mặt tích cực, đòi hỏi người linh mục hôm nay, học biết nhiều hơn, nhất là những năm sau khi ra trường, hiểu những phong thái suy nghĩ của giới trẻ để giúp họ nhiều hơn. Mặt khác, về tiêu cực, có rất nhiều người trẻ rơi vào lối sống hưởng thụ, thực dụng hơn. Nền văn minh hưởng thụ không những ảnh hưởng trên giới trẻ mà có ảnh hưởng trên các linh mục trẻ. Thật là khó, để sống đời sống linh mục trẻ hiện nay mà không chịu một vài xây sát, thương tổn… Do đó, cần phải trở về luôn để uốn nắn lại đời mình trong Đức Kitô, xin Ngài thương xót và giữ gìn trong chân lý và yêu thương.
Trở về với nguồn văn hoá dân tộc, một phần căn tính của người linh mục, cần có một góc nhìn về văn hoá của mình hơn và tìm hiểu hơn những dòng văn hoá khác đang xâm nhập và giao thoa với nền văn hoá bản địa. Sở dĩ khi muốn trình bày về luỹ tre, khóm trúc là hình ảnh của người linh mục thì cũng không đi xa hơn ước muốn thuận với tự nhiên mà hành động, theo đạo trời mà sống đạo nhân.
2. Linh Mục người được chọn giữa cộng đoàn.
Truyền thống tôn giáo tại Việt Nam giống như Cha Cadière nhận định như vào rừng rậm Trường Sơn. Tính cách của người Việt là tư duy tổng hợp, tôn giáo vì thế cũng có nhiều tản mạn pha trộn. Đời sống tâm linh chịu sự san bằng giữa các tôn giáo: “Đạo nào cũng là đạo, đạo nào cũng dạy ăn ngay ở lành”. Đối thoại với sự san bằng ấy trong ý thức dân Việt là một đòi hỏi nỗ lực tìm hiểu của người Linh mục. Người dân Việt tư duy không thiên về siêu hình, lý thuyết, nhưng thiên về trực giác và cụ thể. Tông huấn “Giáo Hội tại Á Châu” nhận định: “những ai sống trong đời tu hãy cố gắng làm chứng cho mọi người thấy rằng ai cũng được mời gọi nên thánh, đồng thời hãy trở thành gương sáng cho người Kitô hữu lẫn người ngoài kitô giáo, về lòng yêu thương xả thân vì mọi người, nhất là những anh chị em yếu kém nhất”. 3 Đi tìm một mẫu linh mục như Đức Giêsu trong hoàn cảnh hiện tại thật là khó. Con đường của đời tu là tìm kiếm Thiên Chúa, sống tinh thần hiệp thông huynh đệ và phục vụ người khác.
Thế nên, con đường tu đức Việt là con đường chứng nhân hơn thày dậy. Để thành chứng nhân, trước tiên là sự đòi hỏi tu thân để thành nhân, tu nhân để thành thánh. Con đường tu ấy dựa theo hình ảnh của cây tre, cây trúc là tượng trưng hình ảnh người quân tử. Người ta hay đàm tiếu tính cách của quân tử Tàu, là cách chế diễu khinh thường nền Nho học, thực ra quân tử theo nghĩa của Khổng Giáo: Người có phẩm hạnh ngay thẳng, có nhân cách hoàn toàn, người có tài và đức. Gọi là người quân tử, nghĩa là người biết sửa, gồm có: Tu ngôn, nghĩa là biết sửa lời nói; tu hạnh, nghĩa là sửa đổi tính nết; tu tánh, nghĩa là sửa tánh tình, tu thân, nghĩa là sửa mình. Con đường tu xem ra là lời mời gọi đi lên chỗ cao, xem ra là lời gọi đi ra xa; trên thực tế lên cao khời từ thấp, đi xa khởi từ gần. Không thể là vị thánh nếu chưa là người cách thực sự.
Ai cũng được mời gọi tu, nhưng linh mục là người lãnh nhận lời mời gọi đặc biệt trở thành chứng nhân cho lời mời gọi ấy. Tu không chỉ là cho mình, dừng lại với bản thân, nhưng là cho mọi người, nhất là cho cộng đoàn mà lời mời gọi ấy sai đến và được giao phó. Chính vì thế người linh mục lãnh nhận một trách nhiệm lớn lao hơn khi được mời gọi dấn thân xa hơn.
Được chọn giữa cộng đoàn, nhưng vẫn ở trong thế gian, một thế gian theo đúng nghĩa của nó với những tính trần tục : “Tham, sân, si”. Người linh mục trẻ hôm nay chịu lôi kéo từ hai phía, thuộc về Thiên Chúa và thuộc về thế gian. Thuộc về thế gian là một tác động rất mạnh, ảnh hưởng lôi kéo người linh mục trẻ thật sự, không mơ hồ, sức mạnh đó biểu lộ qua tài chính, qua màn ảnh, qua lối sống, qua cách sử dụng thời gian, qua các quảng cáo, sách báo,… Có một thế gian đối nghịch thật sự và luôn như sư tử rình mồi cắn xé đời sống Linh mục.
“Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước. Giả như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian đã yêu thích cái gì là của nó. Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em. Hãy nhớ lời Thầy đã nói với anh em: tôi tớ không lớn hơn chủ nhà. Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em. Nếu họ đã tuân giữ lời Thầy, họ cũng sẽ tuân giữ lời anh em. Nhưng họ sẽ làm tất cả những điều ấy chống lại anh em, vì anh em mang danh Thầy, bởi họ không biết Đấng đã sai Thầy”.4
Trung thành với ơn gọi linh mục là một hình thức tử đạo. Tử đạo không chết một lần là xong như khi xưa người ta đem các tín hữu ra chém đầu và kết thúc. Một cuộc tử đạo liên lỷ, nhiều thử thách hơn, nhiều chối từ những cám dỗ hơn, vẫn làm chứng tá giữa những roi đòn của trần gian. Linh mục, con người bị thế gian gặm nhấm, càng ngày các phương tiện, các trào lưu của lối sống hưởng thụ càng tinh vi hơn len lỏi vào trong suy tư bào mòn lý tưởng. Cần làm mới lại luôn trong Tình Yêu Đức Kitô mà người Linh Mục đã lựa chọn.
Xin Chúa thương xót linh mục trẻ chúng con, xin anh chị em tha thứ và giúp chúng tôi sống tốt hơn trong sứ vụ của mình. Chúng con cần lòng thương xót của Chúa và cần đến tình thương bao dung của anh chị em.
---------------------------------------------------------------
1. Cành lá vô ưu, Thích Thanh Từ.
2. L’ Etat des Etats, unis Ed, la Decouverte, Paris, 1990, bài của Claude jean Bertrand.
3. Ecclesia in Asia, #44.
4. Ga 15, 18 - 21