Tại Sydney, Chúa nhật hôm nay, 24 tháng 7, là Ngày Hôn Nhân. Nhân dịp này, Trung Tâm Sự Sống, Hôn Nhân Và Gia Đình của Tổng Giáo Phận cho phổ biến tài liệu “Hôn Nhân Là Gì? Tại Sao Ta Cần Nó?” (What is Marriage? Why do we need it?” trong các nhà thờ của Tổng Giáo Phận.

Tại sao ta cần hôn nhân?

Dù nhiều người ngày nay vẫn trân qúy hôn nhân và đặt nhiều hy vọng nơi nó, nhưng đa số không biết chắc tầm quan trọng của nó đối với xã hội nói chung. Một phần có lẽ vì người ta đã đánh mất cảm thức cộng đồng, coi nó phụ thuộc bản thân. Họ cho rằng điều ta, trong tư cách cá nhân, chọn lựa, mong muốn, ước ao phải ưu tiên hơn nhu cầu và hoài mong của gia đình và cộng đồng. Thành ra, thật khó duy trì được một cái nhìn chung, có tính xã hội đối với hôn nhân. Hôn nhân như một định chế với những đặc điểm có thực và hết sức chủ yếu đang mỗi ngày một ít hiển nhiên hơn đối với ta và ý niệm hôn nhân như một điều dễ thay đổi, dễ có thể đẽo gọt cho hợp với ý thích cá nhân, đã trở thành phổ biến hơn.

Muốn đánh giá ý nghĩa chân thực của hôn nhân, ta phải nhìn nó dưới hai viễn tượng. Hôn nhân vừa là một định chế vừa là một thực tại nhân bản sống động. Nó còn có các chiều kích tự nhiên, khế ước và bí tích để làm ta phong phú cả trong tư cách cá nhân lẫn trong tư cách xã hội (1). Việc đặc biệt nhấn mạnh tới mỗi chiều kích này thay đổi tùy theo thời gian, nhưng tính liên hệ của chúng với ta thì chủ yếu vẫn còn đó.

Hôn nhân một trật tự tự nhiên

Hôn nhân không hẳn là một nhu cầu đặc trưng nhân bản mà người ta thường cho là chủ yếu như thực phẩm hay nhà ở. Nhưng quả hôn nhân có điều gì đó đáp ứng, xếp đặt và thoả mãn các khuynh hướng và ước muốn nhân bản nền tảng của ta. Thánh Kinh rõ ràng cho thấy lòng thèm khát sự thân mật chỉ được thể hiện cách đặc thù ra sao khi hai hữu thể có tính bổ túc cho nhau đến với nhau để trở nên “một thân xác” (Mt 19:5). Đối với phúc lợi xã hội, sự xếp đặt tự nhiên trong cam kết độc chiếm vợ chồng này và khả năng sản sinh ra sự sống mới của nó luôn được coi có tính sinh tử hơn chính nhà nước. Nhà triết học Hy Lạp Aristốt từng nói rằng “tự bản chất, con người thiên về việc sống thành cặp hơn là liên kết về chính trị, vì gia đình là điều có trước và cần thiết hơn nhà nước”.

Hôn nhân tự nhiên qui hướng vào việc tạo ra sự sống mới nhờ các hành vi yêu thương, sinh sản giữa vợ chồng. Đó là cách duy nhất nhờ đó con cái được tạo ra và hoàn toàn được tôn trọng như những con người. Hôn nhân cũng có lợi cho con cái vì giá trị tự nhiên và cố hữu của khả năng dưỡng dục nơi nó. Như Thánh Tôma Aquinô từng nhận định: nhờ hôn nhân, người cha tham dự vào liên hệ mẹ và con thơ để bảo đảm việc chăm sóc và dưỡng dục thỏa đáng cho đứa con trong suốt thời gian lâu dài nó lệ thuộc hai người cả về phương diện vật chất lẫn phương diện giáo dục (2). Mối liên hệ bổ túc và hỗ tương giữa người đàn ông và đàn bà trong hôn nhân cũng cung cấp cho con cái cơ hội để phát triển thích đáng dựa trên mẫu của cha mẹ là những người đã tạo ra chúng bằng tình yêu và tiếp tục dưỡng dục và chăm sóc chúng. Làm cha và làm mẹ là những kinh nghiệm giá trị nhưng chúng rõ ràng là những phương thế khác nhau góp phần vào phúc lợi và việc phát triển lành mạnh của con cái.

Hôn nhân như một khế ước

Trước đây, hôn nhân thường được gia đình hay dòng tộc sắp xếp. Ngay cả ngày nay, của hồi môn hay giá mua cô dâu cũng không hẳn là chuyện họa hiếm trong một số nền văn hóa. Tuy nhiên, trong giáo huấn Kitô Giáo, khía cạnh khế ước của hôn nhân đặt căn bản trên sự ưng thuận hỗ tương. Giáo Hội dạy rằng việc tự do và hỗ tương ưng thuận giữa hai người phối ngẫu là điều thiết yếu đối với hôn nhân, vì hôn nhân không phải là một khế ước trao đổi hàng hóa, mà là một giao ước giữa những con người. Hôn nhân chắc chắn đem lại một “chất keo” xã hội quan trọng để nối kết các gia đình và các xã hội lại với nhau. Nhưng từ thời Trung Cổ, ước muốn của người đàn ông và của người đàn bà được tự do cam kết với nhau trong một liên hệ độc chiếm và vĩnh viễn để tạo ra sự sống mới, xét cho cùng, mới là căn bản tạo ra hôn nhân.

Hôn nhân mời gọi hai người phối ngẫu hiến thân cho nhau suốt đời và ngăn cấm bất cứ việc tắc trách thiếu bổn phận nào về phương diện vợ chồng và cha mẹ. Người ta không thể đơn giản bỗng dưng “bước chân ra khỏi” hôn nhân vì cộng đồng vốn coi nó như một khế ước có ý nghĩa đối với cả quốc gia lẫn những người liên hệ. Nhất quán với viễn tượng khế ước này, Thế Giới Kitô Giáo Tây Phương đã khai triển ra cả một bộ giáo luật để bảo vệ và qui định hôn nhân (3). Bộ giáo luật này bảo vệ viên đá tảng xây nền cho hôn nhân, tức việc vợ chồng tự do ưng thuận nhau, và ngăn cấm một số hành vi như ngừa thai và bất trung, những điều ai cũng thừa nhận là phá hoại hôn nhân. Thời gian gần đây, việc quan tâm đến vấn đề giáo dục hôn nhân tại Úc (4) được dựa trên việc hiểu hôn nhân như một thiện ích xã hội quan trọng đáng được nhà nước hỗ trợ.

Hôn nhân như một bí tích

Trong Giáo Hội Công Giáo, khi được kết ứơc đúng cách và được hoàn hợp, thì cuộc hôn nhân của các Kitô Hữu được coi là một bí tích. Sự kết hợp yêu thương suốt đời giữa một người đàn ông và một người đàn bà trong hôn nhân hé cho ta thấy hình ảnh tình yêu khôn lường mà Chúa Kitô vốn dành cho Giáo Hội của Người. Những người chồng và những người vợ được mời gọi sống cuộc đời họ theo cách có thể đại biểu cho sự kết hợp đời đời mà Chúa Kitô vốn có đối với mỗi người chúng ta. Nhờ cách đó, vợ chồng trở thành nguồn ơn thánh hóa cho chính họ trong tư cách đôi lứa và cho cả cộng đồng Giáo Hội rộng lớn. Hai mục đích của hôn nhân nói lên lý do tại sao cần có hôn nhân: “Hôn nhân và gia đình được sắp đặt vì thiện ích của đôi bạn và để sinh sản và giáo dục con cái” (5).

Trong hôn nhân, vợ chồng được mời gọi “trở nên một thân xác” để sống cho nhau và để chào đón cũng như dưỡng dục con cái như hoa trái tình yêu của mình. Hôn nhân Kitô Giáo là một bí tích và là nguồn ơn thánh. Nó phản ảnh tình yêu độc chiếm, trung trinh, lâu bền và đầy hoa trái mà Chúa Kitô đã mạc khải qua giao ước của Người với nhân loại. Hôn nhân là dấu chỉ sự hiện diện của Chúa Kitô và cho thấy sự tham dự của vợ chồng vào mầu nhiệm vĩ đại và kỳ diệu. Thánh Tông Đồ Phaolô nói rõ điều này như sau: “Hỡi những người chồng, các anh hãy yêu thương vợ mình như Chúa Kitô yêu thương Giáo Hội và hiến mình cho Giáo Hội để Người có thể thánh hóa Giáo Hội… Vì lý do đó, người đàn ông sẽ rời cha mẹ mình và gắn bó với vợ, và cả hai sẽ trở nên một. Đây là một mầu nhiệm lớn, tôi muốn ám chỉ Chúa Kitô và Giáo Hội” (Eph 5:25-26, 31-32).

Những nền đạo đức và cách hiểu tương phản

Ngày nay, đối với nhiều người, dù khởi đầu dựa trên cảm xúc, nhưng hôn nhân dần dần được lên khuôn qua diễn trình trao đổi hoài mong và thương lượng. Đối với những người có cái nhìn này, hôn nhân phần lớn trở thành việc làm sao có được một cuộc mà cả nhẹ nhàng với người phối ngẫu (6). Còn việc phải phản ứng ra sao nếu mọi hy vọng và mơ ước của mình không được toại nguyện trên căn bản thường xuyên thì ít khi được bàn tới, hay ít nhất ít khi được bàn tới một cách thấu đáo. Dường như họ chấp nhận rằng nếu một trong hai người không được toại nguyện hay thỏa mãn thích đáng, người ấy có quyền kết liễu mối liên hệ để tiến theo ngả khác. Khế ước không còn ích lợi hỗ tương nữa thì nên tuyên bố vô hiệu cho xong. Ở đây, nên phân biệt với hoàn cảnh ly thân là những hoàn cảnh hết sức đau lòng nhất là khi một bên bị loại bỏ mà không hề do lỗi của mình.

Ngược với nền đạo đức trên, là nền đạo đức dựa vào “việc mong ước điều tốt cho người khác”, luôn coi người phối ngẫu của mình như một “cùng đích”, như một chủ thể đáng được kính trọng vì họ là một con người, một bản vị, chứ không bao giờ coi họ là phương tiện để đạt được một điều gì khác. Nền đạo đức này nói rằng: “Anh hứa sẽ giữ lòng chung thủy với em, khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe, để yêu thương và tôn trọng em mọi ngày suốt đời anh”. Mối liên hệ này dựa trên việc hiểu hôn nhân như giao ước thánh chứ không phải như một khế ước thương mại. Hôn nhân hiểu như giao ước mời gọi ta sống cuộc sống theo cách có thể phát huy được sự triển nở chân thực của chồng, của vợ và của con cái, như hoa trái của tình yêu hỗ tương vợ chồng. Hôn nhân như thế sẽ được hiểu như một phần của thực tại trường cửu và siêu việt: “Giao ước giữa hai người phối ngẫu được tích nhập vào giao ước của Thiên Chúa với con người: tình yêu vợ chồng được tiếp thu vào tình yêu Thiên Chúa” (7).

Những mưu toan tái định nghĩa hôn nhân

Hôn nhân có tính cách bản thân nhưng lại không phải là một định chế tư riêng. Hôn nhân có bộ mặt công và phục vụ sự thiện công. Nó đòi một người đàn ông và một người đàn bà công khai cam kết sống với nhau, chỉ có liên hệ vợ chồng với nhau, hỗ trợ nhau và cùng nhau nuôi dạy con cái do tình yêu của mình tạo ra. Bản chất các hành vi vợ chồng giữa hai người phối ngẫu cho thấy cả sự dị biệt bổ sung giới tính lẫn xu hướng muốn tạo ra sự sống mới trong tư cách lứa đôi. Ngay các cặp vợ chồng không thể có con, nhưng bằng hành vi vợ chồng của mình, họ cũng làm chứng cho xu hướng tạo sinh vốn nội tại trong hôn nhân đó.

Những người mưu toan tái định nghĩa hôn nhân để nó bao gồm luôn những liên hệ đồng tính đều là những người đang phá hoại hôn nhân một cách triệt để, dù cố ý hay không. Cho phép các cặp đồng tính ‘kết hôn’ là thay đổi triệt để nhận thức của ta về hôn nhân. Nó không còn được coi là định chế lấy đứa con làm trung tâm nữa, một định chế được thiết lập trên xu hướng tự nhiên muốn sinh sản. Thay vào đó, nó sẽ được coi như một điều gì đó chủ yếu dựa trên thèm muốn của người lớn cũng như các liên hệ xúc cảm. Điều đó sẽ làm giảm ý nghĩa của hôn nhân và loại bỏ bất cứ căn bản thích đáng nào khiến nhà nước can dự vào vì các chính phủ làm gì có tư cách điều hướng các mối liên hệ xúc cảm của công dân.

Hôn nhân giữa một người đàn ông và một người đàn bà phản ảnh một chân lý vượt thời gian; đó là đàn ông và đàn bà tuy khác nhau nhưng bổ túc cho nhau và do cấu trúc thân xác, họ được tạo dựng cho nhau. Sự kết hợp tính dục của họ là hình thức yêu thương duy nhất đem lại sự sống mới. Trong tư cách ấy, việc dành riêng hôn nhân cho những người khác phái hoàn toàn là việc công chính và thích đáng. “Tình bạn giữa những người đồng phái không thể là hôn nhân vì chúng thiếu cả tính bổ sung giới tính lẫn xu hướng tạo sinh vốn là các đặc điểm chủ yếu của hôn nhân… Khi Giáo Hội và nhà nước dành riêng hôn nhân cho các cặp dị tính và ban đặc ân cho hôn nhân nhiều cách để hỗ trợ hôn nhân và gia đình, thì đó không phải là kỳ thị bất công” (8).

Ghi chú

(1) Browning, D. ‘What is marriage? An exploration’ trong cuốn The Book of Marriage, do D. Mack và D. Blackenhorn chủ biên, 2001.
(2) Thánh Tôma Aquinô, Summa Contra Gentiles, cuốn III, ii, chương 122.
(3) J. White jnr, From Sacrament to Contract, Marriage, Religion and Law in the Western Tradition, 1997.
(4) To have and to hold, Uỷ Ban Luật Pháp và Hiến Pháp Sự Vụ của Hạ Nghị Viện, 1998.
(5) Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo, số 2201.
(6) Browning,D. Đã trích.
(7) Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo, số 1639.
(8) Xem Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, Về Các Đề Nghị Trong Việc Thừa Nhận Các Cuộc Kết Hợp Đồng Tính, 2003.