Lễ Chúa Ba Ngôi – Năm A (Exodus 34: 4-6, 8-9; Daniel 3; 2 Corinthians 13: 11-13; John 3: 16-18)
Thiên Chúa trông như thế nào? Điều đó sẽ như thế nào để được sống trong sự hiện diện của Thiên Chúa? Sách Xuất Hành trả lời câu hỏi này bằng nhiều cách. Trong một số đoạn trích, tầm nhìn của Thiên Chúa đáng khiếp sợ và gây sợ hãi mà không ai có thể nhìn vào Thiên Chúa và tiếp tục tồn tại. Một đoạn khác liên hệ rằng Moses đã nói chuyện với Thiên Chúa mặt đối mặt như với một người bạn. Trong đoạn trích này Thiên Chúa xuất hiện trên một đám mây, đi qua, trước lúc Moses nói chuyện với Người. Tất cả những truyền thống khác nhau tiêu biểu này ở Israel cổ đại được thêu dệt trong lời tường thuật của Sách Xuất Hành.
Thiên Chúa rất thực tế đối với con người cổ đại, nhưng Thiên Chúa không mang hình dáng con người, thiên Chúa không bách bộ qua vườn hoa vào buổi chiều nhạt nắng. Chúng ta không thể đối diện để đối thoại với Thiên Chúa, ít nhất trong cuộc đời này. Nhưng chân lý thần học của những truyền thống thật trong sáng, rõ ràng. Trong truyền thống của truyện kể cổ xưa, những truyền thống này đa phản ảnh rằng Thiên Chúa đậm nét tính cá nhân và không phải là một khái niệm trừu tượng. Đoạn trích này cũng bộc lộ đặc tính quan trọng của Thiên Chúa: từ bi và độ lượng, hòa nhã và chu toàn trong tình yêu và lòng trung thành. Đây là hình ảnh của Thiên Chúa mà dân Israel đã gắn bó suốt lich lâu dài của họ và từ đó họ đã hấp thụ sức mạnh. Đó là món quà họ trao tặng Ki-tô giáo. Không chỉ thế, đó là một hình ảnh mà chúng ta chia sẻ với Hồi giáo – và thuở sơ khai của kinh Quran Thiên Chúa được mô tả là người nhân từ và giàu lòng thương xót. Đó là hình ảnh của Thiên Chúa trước những điều mà tất cả chúng ta phải liên tục quay lại và cố gắng để bắt chước vì khi chúng ta khởi sự từ nó những hậu quả là sự nghiệt ngã và đau đớn cho tất cả mọi người.
Khi Moses cầu nguyện cho sự hiện diện thường trực của Thiên Chúa, ông rất thực tế về tính cách con người. Con người có tiếng là nhu nhược, thế thái và ích kỷ - và tạo cho nó rất khó khăn đối với chúng ta để đến phút cuối cùng của mình về mối quan hệ với Thiên Chúa.
Những Tin Mừng nhấn mạnh rằng chúng ta phải xót thương và động lòng trắc ẩn hỏi xem chúng ta nhận được sự tương tự hay chưa. Cùng một tâm trạng, Thánh Phao-lô khuyên bảo cộng đồng của mình hãy sống hòa bình với nhau. Điều này không hẳn chỉ vì nó “tốt đẹp” mà còn là sự cần thiết tuyệt đối nếu họ mong muốn Thiên Chúa của tình yêu và an bình hiện diện. Việc tạo thành những xã hội, những gia đình, những nơi làm việc và những cộng đồng giáo hội, nơi mà hòa bình, yêu thương được thực thi là công cụ hữu hiệu nhất mà chúng ta giành được lợi thế chiến thắng “sự vắng mặt của Thiên Chúa” trên thế giới. Thiên Chúa không ngự trị ở nơi mà Thiên Chúa không được chào đón.
Lòng từ bi và tình yêu của Thiên Chúa được thể hiện tuyệt hảo trong niềm chí tín những dòng gợi cảm và trác tuyệt nhất của Tân Ước. Thiên Chúa không giữ lại thứ gì – thậm chí Con Duy Nhất của Thiên Chúa – trong khao khát của Người là để cứu vớt thế giới và trao ban sự sống cho nhân loại. Nhưng có một phần nào nhận xét thâm độc trong những câu sau đó. Mặc dù nhấn mạnh rằng mục đích về sự hiện thân của Thiên Chúa trong hình Đức Ki-tô là không phải để phán xét thế giới mà là để cứu chuộc, Thánh Gio-an tiếp tục nói rằng những ai không tin vào Con Một Thiên Chúa là đã tự mình lên án thông qua việc chối bỏ niềm tin của họ. Ví bất cứ ai đã từng nhận được đường lối tôn giáo chính thống. Tiếc thay, điều này dẫn đến ý nghĩa khá tầm thường của nhiều người. Theo quan điểm này, chĩ những Ki-tô hữu mang danh thiếp – thường là một thành phần đặc biệt – được đến chốn thiên đàng trong khi mọi người khác bị tuyên án xuống hỏa ngục.
Những điều quan trọng để chú ý đó là Thánh Gio-an tin rằng những người mà Chúa Giê-su đã nói chuyện nhận được sự liên kết trực tiếp đối diện từ Thiên Chúa. Nghe và thấy Chúa Giê-su là nghe và thấy Đức Chúa Cha. Từ chối sự biểu hiện tức khác và trực tiếp của Thiên Chúa thì hoàn toàn khác với sự phụ thuộc vào một đức tin khác hoặc không có một tôn giáo nào cả. Người không nói chuyện trong một bối cảnh hiện đại và không phải hôm nay mà con người có đặc quyền đặc lợi với một sự mặc khải của bản tính đó. Đoạn trích này không nên được sử dụng để loại trừ, đe dọa hay lên án. Thiên Chúa tiếp tục nói chuyện với tât cả mọi người bằng nhiều cách khác nhau – đó là bản tính của Thiên Chúa – từ bi và kiên định.
Nếu Chúa Giê-su là đường dẫn đến Thiên Chúa, có nhiều con đường đến với Chúa Giê-su. Lại một lần nữa, tiêu điểm của chúng ta luôn ở trên lòng thương xót và từ bi của Thiên Chúa. Khi chúng ta khước từ lòng thương xót và từ bi ấy, chúng ta thực sự mang bản án cho chính chúng ta. Nhưng khi chúng ta bước đi trong sự thương xót và tình yêu là chúng ta ở trong Thiên Chúa.
(Nguồn: Regis College – The School of Theology)
Thiên Chúa trông như thế nào? Điều đó sẽ như thế nào để được sống trong sự hiện diện của Thiên Chúa? Sách Xuất Hành trả lời câu hỏi này bằng nhiều cách. Trong một số đoạn trích, tầm nhìn của Thiên Chúa đáng khiếp sợ và gây sợ hãi mà không ai có thể nhìn vào Thiên Chúa và tiếp tục tồn tại. Một đoạn khác liên hệ rằng Moses đã nói chuyện với Thiên Chúa mặt đối mặt như với một người bạn. Trong đoạn trích này Thiên Chúa xuất hiện trên một đám mây, đi qua, trước lúc Moses nói chuyện với Người. Tất cả những truyền thống khác nhau tiêu biểu này ở Israel cổ đại được thêu dệt trong lời tường thuật của Sách Xuất Hành.
Thiên Chúa rất thực tế đối với con người cổ đại, nhưng Thiên Chúa không mang hình dáng con người, thiên Chúa không bách bộ qua vườn hoa vào buổi chiều nhạt nắng. Chúng ta không thể đối diện để đối thoại với Thiên Chúa, ít nhất trong cuộc đời này. Nhưng chân lý thần học của những truyền thống thật trong sáng, rõ ràng. Trong truyền thống của truyện kể cổ xưa, những truyền thống này đa phản ảnh rằng Thiên Chúa đậm nét tính cá nhân và không phải là một khái niệm trừu tượng. Đoạn trích này cũng bộc lộ đặc tính quan trọng của Thiên Chúa: từ bi và độ lượng, hòa nhã và chu toàn trong tình yêu và lòng trung thành. Đây là hình ảnh của Thiên Chúa mà dân Israel đã gắn bó suốt lich lâu dài của họ và từ đó họ đã hấp thụ sức mạnh. Đó là món quà họ trao tặng Ki-tô giáo. Không chỉ thế, đó là một hình ảnh mà chúng ta chia sẻ với Hồi giáo – và thuở sơ khai của kinh Quran Thiên Chúa được mô tả là người nhân từ và giàu lòng thương xót. Đó là hình ảnh của Thiên Chúa trước những điều mà tất cả chúng ta phải liên tục quay lại và cố gắng để bắt chước vì khi chúng ta khởi sự từ nó những hậu quả là sự nghiệt ngã và đau đớn cho tất cả mọi người.
Khi Moses cầu nguyện cho sự hiện diện thường trực của Thiên Chúa, ông rất thực tế về tính cách con người. Con người có tiếng là nhu nhược, thế thái và ích kỷ - và tạo cho nó rất khó khăn đối với chúng ta để đến phút cuối cùng của mình về mối quan hệ với Thiên Chúa.
Những Tin Mừng nhấn mạnh rằng chúng ta phải xót thương và động lòng trắc ẩn hỏi xem chúng ta nhận được sự tương tự hay chưa. Cùng một tâm trạng, Thánh Phao-lô khuyên bảo cộng đồng của mình hãy sống hòa bình với nhau. Điều này không hẳn chỉ vì nó “tốt đẹp” mà còn là sự cần thiết tuyệt đối nếu họ mong muốn Thiên Chúa của tình yêu và an bình hiện diện. Việc tạo thành những xã hội, những gia đình, những nơi làm việc và những cộng đồng giáo hội, nơi mà hòa bình, yêu thương được thực thi là công cụ hữu hiệu nhất mà chúng ta giành được lợi thế chiến thắng “sự vắng mặt của Thiên Chúa” trên thế giới. Thiên Chúa không ngự trị ở nơi mà Thiên Chúa không được chào đón.
Lòng từ bi và tình yêu của Thiên Chúa được thể hiện tuyệt hảo trong niềm chí tín những dòng gợi cảm và trác tuyệt nhất của Tân Ước. Thiên Chúa không giữ lại thứ gì – thậm chí Con Duy Nhất của Thiên Chúa – trong khao khát của Người là để cứu vớt thế giới và trao ban sự sống cho nhân loại. Nhưng có một phần nào nhận xét thâm độc trong những câu sau đó. Mặc dù nhấn mạnh rằng mục đích về sự hiện thân của Thiên Chúa trong hình Đức Ki-tô là không phải để phán xét thế giới mà là để cứu chuộc, Thánh Gio-an tiếp tục nói rằng những ai không tin vào Con Một Thiên Chúa là đã tự mình lên án thông qua việc chối bỏ niềm tin của họ. Ví bất cứ ai đã từng nhận được đường lối tôn giáo chính thống. Tiếc thay, điều này dẫn đến ý nghĩa khá tầm thường của nhiều người. Theo quan điểm này, chĩ những Ki-tô hữu mang danh thiếp – thường là một thành phần đặc biệt – được đến chốn thiên đàng trong khi mọi người khác bị tuyên án xuống hỏa ngục.
Những điều quan trọng để chú ý đó là Thánh Gio-an tin rằng những người mà Chúa Giê-su đã nói chuyện nhận được sự liên kết trực tiếp đối diện từ Thiên Chúa. Nghe và thấy Chúa Giê-su là nghe và thấy Đức Chúa Cha. Từ chối sự biểu hiện tức khác và trực tiếp của Thiên Chúa thì hoàn toàn khác với sự phụ thuộc vào một đức tin khác hoặc không có một tôn giáo nào cả. Người không nói chuyện trong một bối cảnh hiện đại và không phải hôm nay mà con người có đặc quyền đặc lợi với một sự mặc khải của bản tính đó. Đoạn trích này không nên được sử dụng để loại trừ, đe dọa hay lên án. Thiên Chúa tiếp tục nói chuyện với tât cả mọi người bằng nhiều cách khác nhau – đó là bản tính của Thiên Chúa – từ bi và kiên định.
Nếu Chúa Giê-su là đường dẫn đến Thiên Chúa, có nhiều con đường đến với Chúa Giê-su. Lại một lần nữa, tiêu điểm của chúng ta luôn ở trên lòng thương xót và từ bi của Thiên Chúa. Khi chúng ta khước từ lòng thương xót và từ bi ấy, chúng ta thực sự mang bản án cho chính chúng ta. Nhưng khi chúng ta bước đi trong sự thương xót và tình yêu là chúng ta ở trong Thiên Chúa.
(Nguồn: Regis College – The School of Theology)