ROME (CNS) – Đây là lần đầu tiên các đại diện của các giám mục toàn cầu được nghe trong một buổi họp, lời khai của một nạn nhân sống sót sau khi bị giáo sĩ lạm dụng. Buổi họp là một nỗ lực giúp cho các giáo sĩ ý thức nhiều hơn về hậu quả của sự lạm dụng và để trình bầy cho giáo hội biết cách giúp đỡ các nạn nhân nhiều hơn.
Hội nghị bằng tiếng Anh về việc bảo vệ trẻ em, trẻ vị thành niên và các người lớn yếu đuối (The Anglophone Conference on the Safeguarding of Children, Young People and Vulnerable Adults) đã nhóm họp kể từ năm 1966, và năm nay mời ông Colm O' Gordon, một ngưòi đã bị một linh mục lạm dụng tại giáo phận Ferns, Ái Nhĩ Lan, trong thập niên 1980.
Bà Teresa Kettelkamp, giám đốc văn phòng Bảo Vệ Trẻ Em và Thanh Thiếu Niên của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ nói với hãng thông tấn Catholic News Service là điều thiết yếu cho các đại diện giáo hội tại các quốc gia nơi vấn đề lạm dụng tính dục chưa được đối phó hoàn toàn, là họ phải được nghe trực tiếp lời tự thuật của một nạn nhân để họ “thấu hiểu tính cách trầm trọng của vấn đề này.”
Bà nói: "Chúng ta luôn luôn học biết nhiều hơn về cách thức chúng ta có thể giúp đỡ các nạn nhân sống sót để cho được chữa lành và tìm được sự hòa giải, nhưng thực sự được trực tiếp nghe họ kể và biết được ảnh hưởng của sự lạm dụng đối với họ là một điều có tác dụng hết sức mạnh mẽ.”
Hội nghị được tổ chức tại Rome từ ngày 30 tháng 5 đến ngày 3 tháng 6, và được tổ chức tại các quốc gia khác nhau mỗi năm.
Bà Kettelkamp nói: hội nghị quốc tế này cung cấp một cơ hội để góp các ý kiến, các nghiên cứu và kinh nghiệm về những chính sách và thực hành tốt nhất cho việc bảo vệ các trẻ em khỏi bị lạm dụng.
Hội nghị khởi đầu với các giám mục các quốc gia nói tiếng Anh, dần dần được bành trướng và bao gồm các giới chức công quyền bảo vệ trẻ em, các bề trên các hội dòng và các nhà lãnh đạo giáo hội trên khắp thế giới. Năm nay có 60 đaị biểu từ 20 quốc gia, kể cả Mã Lai, Tân GIia Ba, Sri Lanka, Zambia, Zimbabwe, Sierra Leone và Nigeria.
Bà Kettelkamp nói với CNS ngày 2 tháng 6 là ban tổ chức hội nghị đã cố gắng hết sức để mời các đại biểu từ nhiều quốc gia khác hơn -- là những người có thể thụ hưởng kinh nghiệm của các quốc gia nói tiếng Anh như Hoa Kỳ, Anh, và Ái Nhĩ Lan, nơi cuộc khủng hoảng vì nạn lạm dụng tính dục bởi các giáo sĩ trầm trọng hơn.
Bà nói: Tại các quốc gia chỉ có một vài trường hợp giáo sĩ lạm dụng tính dục trẻ em không hoàn toàn được miễn dịch về căn bệnh lạm dụng này, có thể là các quốc gia này đang có một nền văn hóa mạnh mẽ về sự thinh lặng khiến cho các nạn nhân không dám lên tiếng tố cáo.
Giám đốc điều hành đã mãn nhiệm của Văn Phòng Bảo Vệ Trẻ Em của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ cho hay các quốc gia nói: Khi họ nói chúng tôi không có trường hợp lạm dụng nào cả, dường như họ luôn luôn dùng chữ “chưa có” thay vì “không có”. Điều này không giảm thiểu sự kiện là không có việc lạm dụng, đây chỉ là vì nền văn hóa chưa đạt đến thời điểm khiến cho người ta cảm thấy thoải mái khi lên tiếng tố cáo.
Bà Kettelkamp là một trong bốn đại biểu đến từ Hoa Kỳ, đại diện cho Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ. các vị kia là Đức Giám Mục Blase J. Cupich ở Spokane, Washington, chủ tịch Uỷ Ban Bảo Vệ Trẻ Em và Thanh Thiếu Niên của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ; Đức Giám Mục R. Daniel Conlon ở Steubenville, Ohio, chủ tịch mới đắc cử của uỷ ban; và bà Diane Knight, chủ tịch mãn nhiệm của Uỷ Ban Duyệt Xét Quốc Gia của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ.
Các đại biểu Hoa Kỳ nói: Có nhiều quốc gia khác chưa thực hiện cùng một loại nghiên cứu và tìm hiểu về sự bành trướng, và nguyên nhân của việc lạm dụng tính dục bởi giáo sĩ, hay cũng không áp dụng các biện pháp phòng ngừa, hay có các nhóm yểm trợ và các chính sách tương tự để đáp ứng với các lời tố cáo.
Đức Giám Mục Conlon nói với CNS là khi mời các quốc gia tại đó chỉ có vài trường hợp lạm dụng tham dự, “họ sẽ được giúp đỡ để sẵn sàng khi chính họ gặp phải các vụ tố cáo về lạm dụng tính dục trẻ em, và đây là một điều chắc chắn sẽ xẩy đến cho họ.”
Bà Knight nói: "Hy vọng là họ có thể tránh một vài lỗi lầm chúng ta đã mắc phải và phải trải qua khi bắt đầu thể thức đáp ứng và phòng ngừa.”
Bà tiếp: Nên ý thức rằng các linh mục bị kết tội lạm dụng trẻ em, thường chối cãi là không hề làm gì cả hay sẽ bầy tỏ “những loại phản ứng tự bào chữa” là đặc tính của nhiều tội nhân lạm dụng tính dục, và là một trong những bài học quan trọng nhất có thể thu nhận được từ cuộc khủng hoảng về lạm dụng.
Bà nói: Các giám mục và các thành viên giáo hội khác, cần hiểu rằng “họ không thể nào tin tưởng hoàn toàn vào tất cả những gì tội nhân đã nói."
Đức Giám Mục Conlon nói việc chối cãi cũng là một vấn đề ở cấp độ của cộng đồng giáo hội, chứ không chỉ riêng nơi những phạm nhân. Chẳng hạn, có sự chối cãi khi các giới chức giáo hội không cho điều tra các vụ tố cáo hay khi các giáo dân nói các nạn nhân chỉ muốn làm tiền qua các vụ kiện cáo, hay từ chối không tin rằng một giáo sĩ đã phạm tội.
Ngài nói: "Chúng ta có rất nhiều việc phải thi hành để bảo đảm cho những cam kết chúng ta đã làm” để cho việc bảo vệ trẻ em và thanh thiếu niên được toàn hảo.”
Các đại biểu Hoa Kỳ nói giáo hội có thể đóng một vai trò độc đáo trong việc bảo vệ trẻ em tại các quốc gia nơi mà việc bảo vệ trẻ em không được đầy đủ hay vì thói tục và sự xấu hổ quá mạnh mẽ trong một nền văn hóa khiến cho các nạn nhân không dám lên tiếng.
Đức Giám Mục Conlon nói "Các đại biểu đến từ các quốc gia kém mở mang đã từng nói rằng giáo hội đã dẫn đầu trong việc đối phó với một nền văn hóa thinh lặng, một nền văn hóa có phái nam thống trị và một nền văn hóa giảm thiểu quyền của trẻ em.
Hội nghị nói tiếng Anh giúp cho các quốc gia đã tăng tiến trong việc ban hành các chính sách và chương trình phòng ngừa hỗ trợ cho giáo hội các quốc gia kém mở mang bằng cách “giúp cho họ có can đảm và giúp cho họ những công cụ để đảm trách việc lãnh đạo và cải tổ nền văn hóa của quốc gia họ.”
Bà Knight nói: Mặc dầu các nghiên cứu đã đề nghị rằng đa số các vụ lạm dụng bởi giáo sĩ tại Hoa Kỳ xẩy ra từ cuối thập niên 1960 tới đầu thập niên 1980, giáo hội không thể để cho mình “rơi vào tình trạng tự mãn.”
Bà nói: “Sẽ luôn luôn có những người lớn lạm dụng trẻ em và luôn luôn cần phải có việc giáo dục và phòng ngừa.”
Hội nghị bằng tiếng Anh về việc bảo vệ trẻ em, trẻ vị thành niên và các người lớn yếu đuối (The Anglophone Conference on the Safeguarding of Children, Young People and Vulnerable Adults) đã nhóm họp kể từ năm 1966, và năm nay mời ông Colm O' Gordon, một ngưòi đã bị một linh mục lạm dụng tại giáo phận Ferns, Ái Nhĩ Lan, trong thập niên 1980.
Bà Teresa Kettelkamp, giám đốc văn phòng Bảo Vệ Trẻ Em và Thanh Thiếu Niên của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ nói với hãng thông tấn Catholic News Service là điều thiết yếu cho các đại diện giáo hội tại các quốc gia nơi vấn đề lạm dụng tính dục chưa được đối phó hoàn toàn, là họ phải được nghe trực tiếp lời tự thuật của một nạn nhân để họ “thấu hiểu tính cách trầm trọng của vấn đề này.”
Bà nói: "Chúng ta luôn luôn học biết nhiều hơn về cách thức chúng ta có thể giúp đỡ các nạn nhân sống sót để cho được chữa lành và tìm được sự hòa giải, nhưng thực sự được trực tiếp nghe họ kể và biết được ảnh hưởng của sự lạm dụng đối với họ là một điều có tác dụng hết sức mạnh mẽ.”
Hội nghị được tổ chức tại Rome từ ngày 30 tháng 5 đến ngày 3 tháng 6, và được tổ chức tại các quốc gia khác nhau mỗi năm.
Bà Kettelkamp nói: hội nghị quốc tế này cung cấp một cơ hội để góp các ý kiến, các nghiên cứu và kinh nghiệm về những chính sách và thực hành tốt nhất cho việc bảo vệ các trẻ em khỏi bị lạm dụng.
Hội nghị khởi đầu với các giám mục các quốc gia nói tiếng Anh, dần dần được bành trướng và bao gồm các giới chức công quyền bảo vệ trẻ em, các bề trên các hội dòng và các nhà lãnh đạo giáo hội trên khắp thế giới. Năm nay có 60 đaị biểu từ 20 quốc gia, kể cả Mã Lai, Tân GIia Ba, Sri Lanka, Zambia, Zimbabwe, Sierra Leone và Nigeria.
Bà Kettelkamp nói với CNS ngày 2 tháng 6 là ban tổ chức hội nghị đã cố gắng hết sức để mời các đại biểu từ nhiều quốc gia khác hơn -- là những người có thể thụ hưởng kinh nghiệm của các quốc gia nói tiếng Anh như Hoa Kỳ, Anh, và Ái Nhĩ Lan, nơi cuộc khủng hoảng vì nạn lạm dụng tính dục bởi các giáo sĩ trầm trọng hơn.
Bà nói: Tại các quốc gia chỉ có một vài trường hợp giáo sĩ lạm dụng tính dục trẻ em không hoàn toàn được miễn dịch về căn bệnh lạm dụng này, có thể là các quốc gia này đang có một nền văn hóa mạnh mẽ về sự thinh lặng khiến cho các nạn nhân không dám lên tiếng tố cáo.
Giám đốc điều hành đã mãn nhiệm của Văn Phòng Bảo Vệ Trẻ Em của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ cho hay các quốc gia nói: Khi họ nói chúng tôi không có trường hợp lạm dụng nào cả, dường như họ luôn luôn dùng chữ “chưa có” thay vì “không có”. Điều này không giảm thiểu sự kiện là không có việc lạm dụng, đây chỉ là vì nền văn hóa chưa đạt đến thời điểm khiến cho người ta cảm thấy thoải mái khi lên tiếng tố cáo.
Bà Kettelkamp là một trong bốn đại biểu đến từ Hoa Kỳ, đại diện cho Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ. các vị kia là Đức Giám Mục Blase J. Cupich ở Spokane, Washington, chủ tịch Uỷ Ban Bảo Vệ Trẻ Em và Thanh Thiếu Niên của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ; Đức Giám Mục R. Daniel Conlon ở Steubenville, Ohio, chủ tịch mới đắc cử của uỷ ban; và bà Diane Knight, chủ tịch mãn nhiệm của Uỷ Ban Duyệt Xét Quốc Gia của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ.
Các đại biểu Hoa Kỳ nói: Có nhiều quốc gia khác chưa thực hiện cùng một loại nghiên cứu và tìm hiểu về sự bành trướng, và nguyên nhân của việc lạm dụng tính dục bởi giáo sĩ, hay cũng không áp dụng các biện pháp phòng ngừa, hay có các nhóm yểm trợ và các chính sách tương tự để đáp ứng với các lời tố cáo.
Đức Giám Mục Conlon nói với CNS là khi mời các quốc gia tại đó chỉ có vài trường hợp lạm dụng tham dự, “họ sẽ được giúp đỡ để sẵn sàng khi chính họ gặp phải các vụ tố cáo về lạm dụng tính dục trẻ em, và đây là một điều chắc chắn sẽ xẩy đến cho họ.”
Bà Knight nói: "Hy vọng là họ có thể tránh một vài lỗi lầm chúng ta đã mắc phải và phải trải qua khi bắt đầu thể thức đáp ứng và phòng ngừa.”
Bà tiếp: Nên ý thức rằng các linh mục bị kết tội lạm dụng trẻ em, thường chối cãi là không hề làm gì cả hay sẽ bầy tỏ “những loại phản ứng tự bào chữa” là đặc tính của nhiều tội nhân lạm dụng tính dục, và là một trong những bài học quan trọng nhất có thể thu nhận được từ cuộc khủng hoảng về lạm dụng.
Bà nói: Các giám mục và các thành viên giáo hội khác, cần hiểu rằng “họ không thể nào tin tưởng hoàn toàn vào tất cả những gì tội nhân đã nói."
Đức Giám Mục Conlon nói việc chối cãi cũng là một vấn đề ở cấp độ của cộng đồng giáo hội, chứ không chỉ riêng nơi những phạm nhân. Chẳng hạn, có sự chối cãi khi các giới chức giáo hội không cho điều tra các vụ tố cáo hay khi các giáo dân nói các nạn nhân chỉ muốn làm tiền qua các vụ kiện cáo, hay từ chối không tin rằng một giáo sĩ đã phạm tội.
Ngài nói: "Chúng ta có rất nhiều việc phải thi hành để bảo đảm cho những cam kết chúng ta đã làm” để cho việc bảo vệ trẻ em và thanh thiếu niên được toàn hảo.”
Các đại biểu Hoa Kỳ nói giáo hội có thể đóng một vai trò độc đáo trong việc bảo vệ trẻ em tại các quốc gia nơi mà việc bảo vệ trẻ em không được đầy đủ hay vì thói tục và sự xấu hổ quá mạnh mẽ trong một nền văn hóa khiến cho các nạn nhân không dám lên tiếng.
Đức Giám Mục Conlon nói "Các đại biểu đến từ các quốc gia kém mở mang đã từng nói rằng giáo hội đã dẫn đầu trong việc đối phó với một nền văn hóa thinh lặng, một nền văn hóa có phái nam thống trị và một nền văn hóa giảm thiểu quyền của trẻ em.
Hội nghị nói tiếng Anh giúp cho các quốc gia đã tăng tiến trong việc ban hành các chính sách và chương trình phòng ngừa hỗ trợ cho giáo hội các quốc gia kém mở mang bằng cách “giúp cho họ có can đảm và giúp cho họ những công cụ để đảm trách việc lãnh đạo và cải tổ nền văn hóa của quốc gia họ.”
Bà Knight nói: Mặc dầu các nghiên cứu đã đề nghị rằng đa số các vụ lạm dụng bởi giáo sĩ tại Hoa Kỳ xẩy ra từ cuối thập niên 1960 tới đầu thập niên 1980, giáo hội không thể để cho mình “rơi vào tình trạng tự mãn.”
Bà nói: “Sẽ luôn luôn có những người lớn lạm dụng trẻ em và luôn luôn cần phải có việc giáo dục và phòng ngừa.”