Chuyện Phiếm Đạo Đời
“Sao không thấy em lại”
để cùng anh thẩn thơ”
trước sân trăng vời vợi
để rồi cùng ước mơ”
(Phạm Đình Chương – Thuở Ban Đầu)
(1Cor 1: 4-7)
Đúng vào “thuở ban đầu” ấy, người người thường ước mơ. Trẻ, thì mơ mẹ đi chợ về, mua cho bé rất nhiều quà. Già, lại ao ước mọi việc cứ thế thông suốt rất êm ả. Thẩn thơ. Nhà Đạo mình, cũng có những ước và những mơ. Mơ gì đây? Chắc hẳn, chẳng mơ và ước được Chúa sớm rước về? Ở đâu đó! Mà là, mơ như nghệ sĩ cũng từng ước và rất mơ, ở câu thơ:
“Sao không thấy em lại?
hàng dừa nghiêng thương nhớ
và khúc ân tình biết trao về đầu…”
(Phạm Đình Chương – bđd)
Khúc ân tình, còn biết trao về đâu nữa? Há chẳng phải là trao như “thuở ban đầu”, nơi chất chứa tình thương-yêu nhung-nhớ, vẫn cứ đẹp? Chất chứa, “sâu (nơi) đáy mắt”, rất “xanh tươi”. Niềm nhớ ấy, còn là câu ca được diễn tả ngọt ngào, nào ta hát:
“Ôi! đẹp sao là thuở ban đầu
chìm sâu đáy mắt một màu xanh khơi
niềm thương không nói nên lời
chỉ nghe xao xuyến một trời bâng khuâng.”
(Phạm Đình Chương – bđd)
Hát xong, hẳn bạn và tôi, ta rồi sẽ nghĩ: “thuở ban đầu” của tôi và của bạn, ở nhà Đạo, chắc cũng “Ôi đẹp sao!”, một thuở đầy “màu xanh khơi”, nơi đáy mắt. Ban đầu, là thuở mà Hội thánh Nước Trời nhà Đạo, được đầy ơn thánh sủng, của Ngôi Ba. Là, Thần Khí Chúa đầy ắp những ơn và huệ Ngài ban, cho ta.
Ơn và huệ, mà Thần Khí Chúa vẫn ban, nhiều hình thức. Có hình thức rất êm đềm. Mượt mà. Chẳng ai lạ. Cũng có hình thức sôi động. Nhiều suy tư. Khuất tất. Một trong những hình thức của quà tặng từ trên, nói theo kiểu méo mó nghề nghiệp, thật rất “phiếm”, là nói như truyện kể, ở dưới:
“Có mẹ già nọ sống ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long. Chồng của mẹ mất sớm, nhưng mẹ vẫn ở vậy tần tảo nuôi con những 25 năm. Đến lúc con của mẹ rày khôn lớn đã công thành danh toại ở nước ngoài, mẹ vẫn chắt chiu, quý trọng mọi thứ. Vẫn dành để ít nhiều cho con. Cả, những món quà con gom góp tháng tháng gửi về, cho mẹ. Tuy không nhiều. Chỉ vài hàng vắn vỏi gói trong thư và hai ba tờ trăm đô, để mẹ tiêu.
Xuân này đến xuân kia, con vẫn bận rộn hết việc này đến việc khác, không tìm ra được giờ nghỉ để bay về thăm mẹ mà cảm kích tấm lòng người mẹ ban cho con, như ân huệ trân quý. Kịp đến khi mẹ mất, con mới tức tốc bay về, dự định tổ chức tang lễ thật to, cho thiên hạ biết rõ gia đình mình cũng sung túc. Khá giả. Nhưng, tuyệt nhiên chẳng có tiếng khóc cũng chẳng một lời than lời vãn, với nước mắt.
Trước ngày an táng mẹ, con gái mới mở hộp quý mẹ để ở đầu giường xem mẹ đựng gì mà quý giá đến thế. Vừa mở nắp, cô bỗng òa lên khóc nức nở, ôm quan tài mẹ hét lên như điên như dại: "Mẹ đâu rồi! Mẹ ơi! Ôi, Mẹ!..."
Mọi người vội đến xem trong hộp có gì khiến cô khóc gào đến như thế. Thì ra, trong hộp đựng rất nhiều tờ đôla Mỹ còn rất mới, có buộc dây. Cạnh đó, là mẩu giấy nhỏ sắc mầu hoen úa, trên giấy nguệch ngoạc đôi ba giòng chữ nhỏ li ti có dán tấm hình của cô con, khi lọt lòng mẹ. Trong giấy có ghi: "Con à, con gửi cho mẹ nhiều tiền quá, mẹ xài không hết. Mẹ vẫn nhớ con lắm, mỗi khi nghe tiếng xe hông-đa nổ ngoài ngõ, là mẹ chạy ra xem có phải con về không. Lần nào mẹ cũng mừng hụt, vì người đó không phải là con. Con à! Số tiền này, mẹ để dành lại cho con, phòng khi đau ốm con cứ lấy mà xài. Ký tên: Mẹ của con. Má Năm"
Và bên dưới câu truyện kể ở trên, cũng lại có lời bàn rất “Mao Tôn Cương” của người kể, ghi rằng: “Cô con gái trong truyện đã có tất cả những gì mà người phụ nữ có thể có, đó là: tiền tài, danh vọng, địa vị, chồng con ngoan hiền, và sự thành đạt. Nhưng cô lại đã để mất đi một điều vô cùng thiêng liêng quý giá, đó là: lòng cảm kích biết ơn, người mẹ hiền. Kịp đến khi nhận ra được điều ấy, thì mẹ già không còn nữa, mà cảm tạ.”
Cảm ơn hay cảm tạ, về ân huệ có từ người đời, và do người đời ban tặng, là như thế. Rất gọn nhẹ. Như, tình mẹ vẫn cho con. Thế mới quý. Chứ, những đồng tiền giấy người con gửi cho mẹ, làm sao mẹ xài cho hết. Ân huệ nơi nhà Đạo, cũng là những ân và huệ, do Chúa ban. Được mấy ai trong nhà Đạo, nay cảm kích. Có vị, lại không coi đó là huệ lộc/ân tình, từ Đức Chúa. Có vị, cứ tuởng mọi việc do mình tạo ra. Nhiều vị thực tâm hơn, vẫn chẳng biết thế nào là ơn mưa móc trời ban, nên có thư về với đấng bậc ở Sydney, để rồi hỏi:
“Thưa Cha, có thể nào xin Cha giải thích cho biết có gì khác biệt giữa hoa quả và quà cáp Chúa Thánh Thần ban tặng được không. Điều này con nghe nhiều người nói, rất thao thức, nhưng chưa hiểu.” (Một giáo dân ở Sydney)
Nghe nói nhiều và thao thức không thiếu, nhưng chưa hiểu, thì làm sao biết đường mà cảm kích. Với biết ơn. Nay, hiểu tâm trạng của phần đông bà con đi Đạo, nên đấng bậc ở Sydney đã có đôi lời giải thích với trích dẫn, như sau:
“Quả như ngôn từ diễn tả nơi câu hỏi, hai chữ hoa quả và quà tặng từ Chúa Thánh Thần, mang ý nghĩa rất khác. Quà tặng, theo giải thích ghi trong Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo là “những bố trí sắp đặt cách thường xuyên khiến người người chịu nghe theo lực đẩy của Thánh Thần.” (x. GLHTCG #1830).
Bằng vào cụm từ “bố trí sắp đặt cách thường xuyên”, Hội thánh muốn nói đến thói quen đã ổn định nơi linh hồn. Quà tặng lần đầu ta nhận lĩnh là vào lúc thanh tẩy, được củng cố thêm bằng Bí tích Thêm sức và ta chỉ mất đi khi lầm lỡ rất nặng, mà thôi.
Hội thánh rút tỉa ý nghĩa của lời dạy về quà tặng, từ sách tiên tri Ysaya, trong đó nói đến Thần Khí Yavê đậu xuống nơi Đức Mêsia: “Trên Ngài, Thần Khí Yavê sẽ đậu xuống, Thần Khí khôn ngoan và trí tuệ, Thần Khí mưu lược và anh dũng, Thần Khí hiểu biết và kính sợ Yavê.” (Is 11: 2).
Theo truyền thống, Hội thánh vẫn dạy rằng: Thần Khí Chúa ban cho ta tất cả bẩy quà tặng, đó là: ơn khôn ngoan, hiểu biết, kiến thức, mưu lược, lòng dũng cảm và sự sốt sắng, kính sợ Chúa. Chỉ mỗi sự sốt sắng là không thấy nói trong sách tiên tri Ysaya, thôi.
Ngang qua quà tặng của Thần Khí Chúa, ta trở nên dễ theo lực đẩy của Chúa ở mỗi địa hạt của quà tặng Ngài ban. Khi thấm nhuần đặc trưng ấy rồi, chính chúng ta sẽ có động thái mang cung cách của đặc trưng ấy. Trường hợp quà tặng của Thần Khí Chúa, có sự trợ giúp của đặc trưng, thì chính Thần Khí sẽ xui khiến thúc giục ta hành động theo cách thường tình là vuợt khả năng của riêng mình.
Quà tặng này, được nhiều người ví von như cánh buồm lướt gió giúp thuyền vượt sóng bằng gió nguồn của Thần Khí, trong khi đó các đặc tính được sánh ví như mái chèo được các tay chèo sử dụng. Các quà tặng liên kết với 7 đặc trưng rất nhuần nhuyễn được kể đến, là: niềm tin, hy vọng, tình bác ái, khôn ngoan, công bằng, lòng dũng cảm và sự kềm chế. Xem thế thì, quà tặng khôn ngoan khiến ta hiểu biết và ưa thích sự việc Chúa ban, để rồi gia tăng lòng yêu mến ta vẫn có, với Ngài.
Quà tặng tạo kiến thức giúp ta thấm nhập sâu sắc vào với sự thật của niềm tin và thấy được sự hài hoà ở trong đó và cũng nhờ đó gia tăng thêm niềm tin của ta. Quà tặng về kiến thức giúp ta am hiểu mọi thụ tạo trong tương quan với Đấng Tạo Hoá, củng cố đặc trưng hy vọng, bằng vào việc cho thấy sự trống vắng các vật được tạo dựng, khiến ta khao khát Chúa, hơn mọi sự.
Quà tặng mưu lược là để suy tôn tính khôn ngoan, hầu giúp ta phân biệt những gì cần làm trong mỗi hoàn cảnh; cả trong cuộc sống của riêng ta, và cả vào việc mưu sự cho người khác nữa.
Quà tặng tạo sự dũng mãnh hoàn-thiện-hoá uy lực, giúp ta làm được những gì mang tính anh hùng đích thực mỗi khi cần đến, ngay cả khi ta chấp nhận chết cho Đạo.
Quà tặng tạo sự sốt mến hoàn-thiện-hoá, đặc trưng của tôn giáo, là thành phần của sự công bằng, khả dĩ giúp ta nhận biết Chúa là Cha khiến ta biết mà phụng thờ yêu mến Ngài.
Và cuối cùng, quà tặng để biết mà kính sợ Chúa giúp ta hoàn-thiện-hoá đặc tính biết tự kềm chế, khiến ta lo sợ mất đi lòng mến Chúa vì dám đeo đuổi những vui thú không xứng hợp. Đây không là niềm hãi sợ hạ cấp của giới nô lệ ở dưới, vẫn cứ sợ bị trừng phạt, cho bằng niềm cung kính biết sợ của con cái vẫn cứ lo và sợ xúc phạm người cha của mình; và, sợ mất đi tình yêu thương của người cha/bố. Kinh nghiệm về sức mạnh của quà tặng như thế, ta đều từng trải, vào lúc khác nhau. Chẳng hạn như, ngang qua quà tặng kiến thức, có thể là ta sẽ bất chợt có được nhận thức ấy qua nguyện cầu đi vào sự thật của niềm tin, mà ta chưa từng nghe biết, trước đó. Hoặc quà tặng mưu lược trong khuyên nhủ, có thể ta cũng nghĩ đến một biện chứng khả dĩ đã thuyết phục bạn bè/người thân quay về với bí tích hoà giải, chẳng hạn. Nói chung, tất cả đều là quà tặng của Thần Khí, rất quí báu.”
Về tâm tình cảm nhận quà tặng từ Trên, cũng nên lắng nghe thêm một chút ý nghĩa nơi ca từ của nhạc bản, khi người nghệ sĩ vẫn cảm kích lúc em cười, đã lại hát:
“Bâng khuâng lúc em cười
Kìa hàng cây ngẩn ngơ
sáng trăng xanh khung trời
dặt dìu nhạc với thơ.
(Phạm Đình Chương – bđd)
Hoặc, cả vào khi không thấy lòng bâng khuâng “lúc em cười”, người nghệ sĩ còn hát thêm:
“Nhưng không thấy em lại
hàng thùy dương chếch bóng
và lũ hoa thầm khép hương chờ mong.”
(Phạm Đình Chương – bđd)
“Lũ hoa thầm khép hương”, hay “hàng thuỳ dương chếch bóng”, là lúc người anh/người chị của ta cũng nhận ra “hoa quả đầu mùa” từ Trên ban tặng. Nhận thức này, là ý thức về một hiểu biết như đấng vị vọng thân quen của ta, đà quả quyết:
“Về hoa quả do Thần Khí tác tạo, Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo có nói: “Đó là sự toàn năng toàn hảo được Chúa Thánh Thần tạo thành trong ta, như hoa quả đầu mùa của vinh quang trường cửu.” (GLHTCG # 1832)
Thánh Phaolô cũng liệt kê như thế như một tương phản giữa hoa quả của cuộc sống theo tính xác thịt, với thành quả của sự sống có Thánh Thần Chúa dẫn dắt.
Truyền thống Hội thánh lâu nay nhấn mạnh rằng 12 loại hoa trái ấy, là: lòng bác ái, niềm vui tươi, sự an bình, tính nhẫn nhục, sự tử tế, tốt lành, đại độ, hoà nhã, lòng trung thực, tính khiêm tốn, sự tự chế và lòng khiết trinh.” (x. Gal 5: 22-23)
Nếu ta biết sống đàng hoàng luôn nghe theo sự thôi thúc của Thánh Thần Chúa, thì chắc chắn mọi hoa quả sẽ đến với ta, rất tự nhiên. Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo gọi hoa quả ấy là vị ngọt của thiên đường, tức ‘hoa quả đầu mùa của vinh quang trường cửu.” (x. Lm John Flader, The Catholic Weekly, 12/9/2011, tr. 12)
Về “hoa quả đầu mùa” mà Thần Khí Chúa vẫn ban cho mọi người, đấng bậc vị vọng cũng đã nhận được ơn khôn ngoan/thông thái, nên mới giải thích rõ như thế. Phần người đọc, chắc hẳn người người cũng cần ân huệ của Ngài mới đả thông được mọi ý nghĩa chí lý của sự việc.
Ân và huệ để thông hiểu mọi ý nghĩa nơi “hoa quả đầu mùa” do Thần Khí Chúa tặng ban, Ngài đã ban cho ta ngay từ “Thuở ban đầu”, rất đẹp. Đẹp như tiếng hát, nghệ sĩ vẫn ca đi hát lại một giai điệu:
“Sao không thấy em lại
Hàng dừa nghiêng thương nhớ
Này khúc ân tình biết đưa về đâu.”
(Phạm Đình Chương – bđd)
Cuối cùng ra, tất cả là “khúc ân tình” ta nhận từ nhiều phía, rất cảm kích. Biết ơn. Chính vì có ân tình, nên vẫn cần sự cảm kích, biết ơn. Biết, cả ơn từ những người đóng vai chuyển tải những ơn và huệ từ Đức Chúa. Như ý nghĩa của truyện kể được minh hoạ ở bên dưới:
“Truyện rằng:
“Có hai thiên sứ Nhà Trời được sai xuống trần gian, thực hiện một khảo sát rất ngắn gọn để xem loài người sống ở hành tinh có tên gọi là “mặt đất” lâu nay hành xử ra sao, trong quan hệ với Chúa. Để thực hiện công cuộc khảo sát theo cung cách của người trần, mỗi thiên sứ mang một bao bị đặc biệt hầu đựng dữ kiện của khảo sát. Cụ thể là, một thiên sứ mang bao bị đựng toàn những lời khấn nài xin xỏ, của người phàm. Thiên sứ kia, mang bao bị cũng ngang bằng một tầm kích. Nhưng, đựng toàn lời cảm kích/biết ơn, thôi.
Hoàn tất khảo sát rất tốt đẹp, hai thiên sứ quay về Thiên Đình báo cáo với Đức Chúa của Nhà Trời, về những gì mình đạt được. Đức Chúa nhìn thiên sứ mang bao bị đựng “những lời xin” thấy vị này cứ là khệ nệ những mang cùng xách, rất vất vả. Trong khi đó, bao bị của thiên sứ kia, chẳng có được là bao những dữ kiện cảm tạ, và biết ơn. Hỏi ra mới biết, người đời chỉ xin nhiều chứ ít biết mà cảm tạ, Chúa Thánh Thần.”
Truyện kể chỉ bấy nhiêu. Cũng không dài. Chẳng lòng thòng, miêu dạng. Tuy nhiên, ở đây, hôm nay cũng nên đính kèm lời bàn của người kể, bảo rằng: “Trong sống đời ở trái đất, rất hành tinh, người người đều nhận lãnh ân huệ, ngang bằng nhau. Nhưng, chừng như ai cũng muốn “xin thêm”, chứ nào có mấy người thấy đó làm đủ, và biết nói lời cảm kích/ biết ơn người tặng ban.”
Lời cuối chuyện phiếm hôm nay, phải là lời cảm nhận để nói rằng: bạn bè/người thân đọc đến đây chắc đã đủ? Chẳng ai muốn có thêm một lời bàn nào khác? Nếu thế, bần đạo xin kết thúc bài phiếm hôm nay bằng lời ngỏ rất “biết ơn” bạn và tôi, đã dõi theo giòng chảy có những “đoản khúc suy tư”, thực hư đều rất phiếm. Những mong rằng, cả tôi và bạn, ta sẽ cứ thế mà biến hoa quả đầu mùa mà Chúa Thánh Thần. Cứ thăng hoa, triển nở mãi, với mọi người. Để rồi tìm đến Lời Chúa mà nghĩ suy thêm, như sau:
“Tôi hằng cảm tạ Thiên Chúa của tôi vì anh em,
về ân huệ Người đã ban cho anh em nơi Đức Ki-tô Giê-su.5
Quả vậy, trong Đức Ki-tô Giê-su,
anh em đã trở nên phong phú về mọi phương diện,
phong phú vì được nghe lời Chúa
và hiểu biết mầu nhiệm của Người.
Thật thế, lời chứng về Đức Kitô đã ăn sâu vững chắc
vào lòng trí anh em,
khiến anh chị em không thiếu một ân huệ nào,
trong lúc mong đợi ngày Đức Giêsu Kitô,
Chúa chúng ta,
mặc khải vinh quang của Người.”
(1Cor 4-7)
Nói cho cùng, thì ơn Người và ơn đời, vẫn là việc của tôi và của bạn, vẫn cần làm thường ngày ở huyện đời. Nhà Đạo. Rất dễ thương
Trần Ngọc Mười Hai
vẫn muốn chuyển
đôi ba tư tưởng mọn
đến bạn bè/người thân
nhân lễ Ngũ Tuần.
Ở đời.
“Cánh cửa ngang qua thế giới buồn”
“tống biệt hồng, sang tống biệt đen.
Em mang điệp khúc về đâu đó,
Ta tưởng chừng như giã biệt em.”
(dẫn từ thơ Nguyên Sa)
Ga 20: 19-23
Thế giới buồn, có phải vì tống biệt hồng/tống biệt đen, người em nơi cánh cửa? Điệp khúc vui, phải chăng em mang về từ đâu đó như giã biệt, từ Đức Chúa? Ngài giã biệt, nhưng thay vào đó, Ngài đã gửi Thần Khí Thánh đến với ta.
Trình thuật thánh Gioan, nay ghi lại cùng một tình tự có giã biệt, thân thương Ngài gửi đến với dân gian, thế giới buồn. Sau ngày Chúa chịu nạn trên thập giá, Ngài trỗi dậy từ cõi chết và thăng tiến về Trời, khiến đồ đệ dân con cứ phân vân không biết sự việc gì rồi sẽ xảy đến, ngay sau đó? Một số vị, quay về với nghề cũ, những thả lưới với buông câu. Có vị, nhớ mình từng gửi Chúa những câu hỏi, rất tương tự. Hỏi thì hỏi, nhưng vẫn chờ câu giải đáp khả dĩ xứng hợp với ưu tư của chính mình.
Thay vào đó, Thày bảo: về với thế-giới-mới, Thầy sẽ gửi Thần Khí đến mọi người, vào thời sau. Và lời Ngài, nay đã thành hiện thực. Rất hiện tại. Tương tự một tình huống trong đó có người thổ lộ: mình lo không biết có đạt chốn thiên đường được không đây? Nghe vậy, Thầy bèn trấn an dân con mình: đừng lo toan/thắc mắc. Bởi, thiên đường tự khắc đến với mình, cũng chóng thôi. Lời Thầy còn nhắn nhủ: đạt chốn thiên-đường thì ai cũng đạt! Ngài lại thêm: Thiên đường mà người người lo không đạt, chưa hẳn là kết cục của thế giới. Bởi, thế giới nay còn những chuyện lớn lao, quan trọng hơn.
Thiên đường mà người đời những mong tưởng, nay xuất hiện ở đây. Nơi này. Rất sớm. Điều quan trọng, là: dân con mọi người phải sẵn sàng kiên trì sống. Tức, chấp nhận qui cách sống đúng sứ mệnh Ngài trao ban. Dù biết Thiên đường là nơi đây. Chốn này. Thế mà, đồ đệ Chúa vẫn không hiểu điều Thầy tỏ lộ. Và, cả ta nữa, chừng như vẫn không hiểu hết điều Chúa tỏ bày cho ta. Cho mọi người.
Nên, Ngài phải nói thêm: “Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thần Khí, khi Người ngự xuống trên anh em.” (Cv 1: 8) Chính Thần Khí Chúa sẽ giúp mọi người trở nên giống Thầy, khi đạt thế-giới-mới. Lễ Ngũ Tuần. Thần Khí đến, người người sẽ dùng ảnh hình để nói lên những gì mình cảm nhận, từ Ngài.
Cảm nhận Thần Khí là đón nhận Luồng Gió Mới cực mạnh, nay thổi đến. Như, Lửa Ngọn dũng mãnh tạo sự sống. Như gà mẹ khống chế trạng huống hỗn độn quanh ổ, rồi mới đẻ. Tức, tạo môi trường thích hợp để sinh hạ sự sống mới. Thần Khi đến, là như: sói dữ ở bên chiên lành. Như, nguồn sống tạo yên hàn không bạo lực. Thần Khí đến, bảo đảm cho an bình, thịnh vượng. Cho, niềm thuỷ chung qua nhẫn cưới, ngày hứa hôn. Ngài là Thần Khí, Đấng giúp ta đi vào thế-giới-mới, rất sẵn sàng.
Xuất Hành về với Đất Hứa, dân con Do thái đều đã nhận được lời hứa hẹn đạt thế-giới-mới. Chốn thiên đường. Chốn Đất Lành miền Canaan, như vẫn gọi. Nhưng trước đó, họ cảm nghiệm một hành trình xuyên suốt, có cột mây che nắng ban ngày. Có, cột lửa soi sáng ban đêm. Và, họ cảm nhận kinh nghiệm có Chúa ở cùng. Chung sức sống.
Trong hành trình đổi dời thế giới cũ về với Thế-giới-mới, Chúa hứa ban không chỉ mỗi đất lành miền Canaan, nhưng toàn thế giới, vũ trụ. Vũ trụ ta, là thiên đường. Có trời đất giao hoà, đầy Thần Khí. Có, Năng Lượng Chúa cao cả, nạp cho ta. Cao cả, nhưng Ngài không là con đường rất chung chung, không thể đến. Ngài cho ta nếm trước hương vị của thiên-đường-thế-giới-mới, không phải mây trời. Cột lửa. Mà, Thần Khí. Chính Thần Khí ấp ủ thế-giới-mới, để nuôi ta. Đó, là sáng-thế nguyên-thủy. Là, Thần Khí đến với mọi người. Rất hôm nay.
Thần khí đến với ta. Với từng người. Ngài đến, theo cung cách thế-giới-mới-rất-thiên-đường, hình thể nhỏ. Của vũ trụ. Xem thế, tất cả chúng ta là dân con đã được dựng. Dân con của Thần Khí. Xem thế, thì: Thiên-đường-tràn-đầy-Thần-Khí đã đến với ta. Ở với ta. Ngài đi vào cuộc sống của chính ta. Và mọi sự nơi ta nữa.
Có thể, có người bảo: đó kìa, những người “sống vô gia cư chết vô địa táng”, đâu như thế. Hoặc tôi đây, cũng chẳng giống vậy. Có thể, có nhiều chuyện vô lý và bi thảm, vẫn xảy đến trên con đường, mình đang sống. Cả nơi khu vực phía sau nhà, nhiều chuyện xảy đến cũng khiến ta khó mà tin. Thánh Phaolô là vị thánh từng trải nhiều về chuyện này, khi thánh nhân bảo: ta là “đền thờ của Thần Khí”, ngay khi thánh nhân còn đang rao giảng ở Côrinthô, kinh đô đồi truỵ của Hy Lạp. Là, vùng cấm địa của Achaia có đền Aphrodite, đền thờ nữ-thần nhục-dục, đầy thác loạn. Nhưng, thánh nhân vẫn nhận biết điều ấy, cũng rất thật.
Suy niệm sự kiện Chúa Về Trời, ta nghĩ ngay đến “thiên-đường”, không theo nghĩa bầu trời, nhưng theo nghĩa thế-giới-mới, Chúa tạo dựng. Và, Đức Chúa cũng từ thế giới này, đến với ta. Ngài tập họp mọi người vào với thế-giới ấy. Ngài gửi Thần Khí đến với ta như dấu ấn mới, rất an bình. Tuyệt mỹ.
Nhưng, làm sao biết được điều ấy sẽ xảy đến? Lấy gì làm bằng để thấy được là: Thần Khí sống với ta? Và, đâu là bằng chứng Ngài phú ban ngay từ trước thiên-đường-thế-giới-mới ấy? Xin thưa: bằng chứng, nằm ở cuộc sống rất đẹp, của mọi người. Ở, mối ưu tư/quan ngại về công lý và an bình, khi vẫn còn nhiều người đang bị chèn ép. Áp bức. Ngay chính ta, cũng đã trải nghiệm nhiều nét đẹp của sự sống. Nhưng nhiều lúc, ta và Hội thánh lại quên mất cung cách phải có, để giáp mặt với sự-sống-rất-đẹp. Để rồi, đôi lúc biến nó thành vật vô giá trị. Và, lẩn tránh tất cả những gì là Chân-Thiện-Mỹ, ở đời. Thay vào đó, ta chỉ thích mỗi cung cách hành đạo cứng ngắc. Vụ hình thức. Rất ngán ngẫm.
Thực tế ở đời, nhiều vị vẫn còn đang làm công việc tuyệt vời, trong đời. Ví dụ ư? Đấy kìa, những vị đang làm rất nhiều điều kỳ diệu, mà ít ai chịu làm. Đích thị là, Thần Khí đang làm những điều kỳ diệu rất “thiên-đường”, nơi người ấy. Chắc chắn rằng, Thần Khí Tuyệt Mỹ cùng hiện diện, ở nơi họ.
Ưu tư/quan ngại về công lý và bình an, còn thấy nơi nhiều người. Đó cũng là mối quan tâm lo lắng cho số phận của người nghèo. Để rồi, sẽ tìm cách thực hiện cho bằng được sự bình an, rất công lý. Ví dụ ư? Đừng nên tìm ví dụ nơi thể chế chính trị. Xã hội. Của loài người. Bởi lẽ, không chỉ mỗi các nhà từ thiện mới có khả năng thực hiện được công việc tuyệt mỹ/tuyệt diệu ấy. Phải nói rằng, chính Thần Khí đang thực hiện công lý và bình an nơi con người. Và, môi trường. Khi đó, Thần Khí Công Lý và An Bình, sẽ còn hiện diện mãi, nơi họ. Với họ.
Chắc chắn, Công Lý và Sự Tuyệt Mỹ/Tuyệt Diệu đang kết-thân-làm-một để bừng nở như bông hoa mới chớm ở thế-giới-mới. Với ta. Đó, là khởi đầu của sự kiện đất-trời-hoà-hợp do Thần Khí ban cho ta. Đang diễn ra.
Lâu nay, nhà Đạo mình nói nhiều đến Thần Khí Chúa ở cùng Hội thánh. Nay, có lẽ nên thêm: Thần Khí Chúa đang ở với và ở cùng ta. Và, thế giới. Cầu mong sao, Ngài ở với và ở trong Hội thánh ta nữa. Bởi, Hội thánh là chốn thánh thiếng từ đó ta thấy được mọi sự đang diễn tiến, đến với ta. Cùng lúc.
Với tinh thần lạc quan sẵn có, ta sẽ ngâm vang lời thơ buồn, nhưng hy vọng của nghệ sĩ:
“Chết một ngàn năm chắc phải sầu,
Nhưng này thương nhớ lúc xa nhau.
Mịt mù nhân thế trôi biền biệt,
Giữa vị sầu nghe có vị đau.”
(Nguyên Sa – A Tỳ)
Bằng vào lời thơ, thi nhân thấy “có vị đau”, giữa vị sầu. Về với thiên-đường, người người đều cảm nhận Thần Khí, rất mỹ quan. Mỹ quan thiên đường Ngài trao ban, sẽ cùng với mọi người sống cuộc đời đẹp. Rất đáng sống. Với mọi người.
Lm Nguyễn Đức Vinh Sanh
Mai Tá lược dịch
“Sao không thấy em lại”
để cùng anh thẩn thơ”
trước sân trăng vời vợi
để rồi cùng ước mơ”
(Phạm Đình Chương – Thuở Ban Đầu)
(1Cor 1: 4-7)
Đúng vào “thuở ban đầu” ấy, người người thường ước mơ. Trẻ, thì mơ mẹ đi chợ về, mua cho bé rất nhiều quà. Già, lại ao ước mọi việc cứ thế thông suốt rất êm ả. Thẩn thơ. Nhà Đạo mình, cũng có những ước và những mơ. Mơ gì đây? Chắc hẳn, chẳng mơ và ước được Chúa sớm rước về? Ở đâu đó! Mà là, mơ như nghệ sĩ cũng từng ước và rất mơ, ở câu thơ:
“Sao không thấy em lại?
hàng dừa nghiêng thương nhớ
và khúc ân tình biết trao về đầu…”
(Phạm Đình Chương – bđd)
Khúc ân tình, còn biết trao về đâu nữa? Há chẳng phải là trao như “thuở ban đầu”, nơi chất chứa tình thương-yêu nhung-nhớ, vẫn cứ đẹp? Chất chứa, “sâu (nơi) đáy mắt”, rất “xanh tươi”. Niềm nhớ ấy, còn là câu ca được diễn tả ngọt ngào, nào ta hát:
“Ôi! đẹp sao là thuở ban đầu
chìm sâu đáy mắt một màu xanh khơi
niềm thương không nói nên lời
chỉ nghe xao xuyến một trời bâng khuâng.”
(Phạm Đình Chương – bđd)
Hát xong, hẳn bạn và tôi, ta rồi sẽ nghĩ: “thuở ban đầu” của tôi và của bạn, ở nhà Đạo, chắc cũng “Ôi đẹp sao!”, một thuở đầy “màu xanh khơi”, nơi đáy mắt. Ban đầu, là thuở mà Hội thánh Nước Trời nhà Đạo, được đầy ơn thánh sủng, của Ngôi Ba. Là, Thần Khí Chúa đầy ắp những ơn và huệ Ngài ban, cho ta.
Ơn và huệ, mà Thần Khí Chúa vẫn ban, nhiều hình thức. Có hình thức rất êm đềm. Mượt mà. Chẳng ai lạ. Cũng có hình thức sôi động. Nhiều suy tư. Khuất tất. Một trong những hình thức của quà tặng từ trên, nói theo kiểu méo mó nghề nghiệp, thật rất “phiếm”, là nói như truyện kể, ở dưới:
“Có mẹ già nọ sống ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long. Chồng của mẹ mất sớm, nhưng mẹ vẫn ở vậy tần tảo nuôi con những 25 năm. Đến lúc con của mẹ rày khôn lớn đã công thành danh toại ở nước ngoài, mẹ vẫn chắt chiu, quý trọng mọi thứ. Vẫn dành để ít nhiều cho con. Cả, những món quà con gom góp tháng tháng gửi về, cho mẹ. Tuy không nhiều. Chỉ vài hàng vắn vỏi gói trong thư và hai ba tờ trăm đô, để mẹ tiêu.
Xuân này đến xuân kia, con vẫn bận rộn hết việc này đến việc khác, không tìm ra được giờ nghỉ để bay về thăm mẹ mà cảm kích tấm lòng người mẹ ban cho con, như ân huệ trân quý. Kịp đến khi mẹ mất, con mới tức tốc bay về, dự định tổ chức tang lễ thật to, cho thiên hạ biết rõ gia đình mình cũng sung túc. Khá giả. Nhưng, tuyệt nhiên chẳng có tiếng khóc cũng chẳng một lời than lời vãn, với nước mắt.
Trước ngày an táng mẹ, con gái mới mở hộp quý mẹ để ở đầu giường xem mẹ đựng gì mà quý giá đến thế. Vừa mở nắp, cô bỗng òa lên khóc nức nở, ôm quan tài mẹ hét lên như điên như dại: "Mẹ đâu rồi! Mẹ ơi! Ôi, Mẹ!..."
Mọi người vội đến xem trong hộp có gì khiến cô khóc gào đến như thế. Thì ra, trong hộp đựng rất nhiều tờ đôla Mỹ còn rất mới, có buộc dây. Cạnh đó, là mẩu giấy nhỏ sắc mầu hoen úa, trên giấy nguệch ngoạc đôi ba giòng chữ nhỏ li ti có dán tấm hình của cô con, khi lọt lòng mẹ. Trong giấy có ghi: "Con à, con gửi cho mẹ nhiều tiền quá, mẹ xài không hết. Mẹ vẫn nhớ con lắm, mỗi khi nghe tiếng xe hông-đa nổ ngoài ngõ, là mẹ chạy ra xem có phải con về không. Lần nào mẹ cũng mừng hụt, vì người đó không phải là con. Con à! Số tiền này, mẹ để dành lại cho con, phòng khi đau ốm con cứ lấy mà xài. Ký tên: Mẹ của con. Má Năm"
Và bên dưới câu truyện kể ở trên, cũng lại có lời bàn rất “Mao Tôn Cương” của người kể, ghi rằng: “Cô con gái trong truyện đã có tất cả những gì mà người phụ nữ có thể có, đó là: tiền tài, danh vọng, địa vị, chồng con ngoan hiền, và sự thành đạt. Nhưng cô lại đã để mất đi một điều vô cùng thiêng liêng quý giá, đó là: lòng cảm kích biết ơn, người mẹ hiền. Kịp đến khi nhận ra được điều ấy, thì mẹ già không còn nữa, mà cảm tạ.”
Cảm ơn hay cảm tạ, về ân huệ có từ người đời, và do người đời ban tặng, là như thế. Rất gọn nhẹ. Như, tình mẹ vẫn cho con. Thế mới quý. Chứ, những đồng tiền giấy người con gửi cho mẹ, làm sao mẹ xài cho hết. Ân huệ nơi nhà Đạo, cũng là những ân và huệ, do Chúa ban. Được mấy ai trong nhà Đạo, nay cảm kích. Có vị, lại không coi đó là huệ lộc/ân tình, từ Đức Chúa. Có vị, cứ tuởng mọi việc do mình tạo ra. Nhiều vị thực tâm hơn, vẫn chẳng biết thế nào là ơn mưa móc trời ban, nên có thư về với đấng bậc ở Sydney, để rồi hỏi:
“Thưa Cha, có thể nào xin Cha giải thích cho biết có gì khác biệt giữa hoa quả và quà cáp Chúa Thánh Thần ban tặng được không. Điều này con nghe nhiều người nói, rất thao thức, nhưng chưa hiểu.” (Một giáo dân ở Sydney)
Nghe nói nhiều và thao thức không thiếu, nhưng chưa hiểu, thì làm sao biết đường mà cảm kích. Với biết ơn. Nay, hiểu tâm trạng của phần đông bà con đi Đạo, nên đấng bậc ở Sydney đã có đôi lời giải thích với trích dẫn, như sau:
“Quả như ngôn từ diễn tả nơi câu hỏi, hai chữ hoa quả và quà tặng từ Chúa Thánh Thần, mang ý nghĩa rất khác. Quà tặng, theo giải thích ghi trong Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo là “những bố trí sắp đặt cách thường xuyên khiến người người chịu nghe theo lực đẩy của Thánh Thần.” (x. GLHTCG #1830).
Bằng vào cụm từ “bố trí sắp đặt cách thường xuyên”, Hội thánh muốn nói đến thói quen đã ổn định nơi linh hồn. Quà tặng lần đầu ta nhận lĩnh là vào lúc thanh tẩy, được củng cố thêm bằng Bí tích Thêm sức và ta chỉ mất đi khi lầm lỡ rất nặng, mà thôi.
Hội thánh rút tỉa ý nghĩa của lời dạy về quà tặng, từ sách tiên tri Ysaya, trong đó nói đến Thần Khí Yavê đậu xuống nơi Đức Mêsia: “Trên Ngài, Thần Khí Yavê sẽ đậu xuống, Thần Khí khôn ngoan và trí tuệ, Thần Khí mưu lược và anh dũng, Thần Khí hiểu biết và kính sợ Yavê.” (Is 11: 2).
Theo truyền thống, Hội thánh vẫn dạy rằng: Thần Khí Chúa ban cho ta tất cả bẩy quà tặng, đó là: ơn khôn ngoan, hiểu biết, kiến thức, mưu lược, lòng dũng cảm và sự sốt sắng, kính sợ Chúa. Chỉ mỗi sự sốt sắng là không thấy nói trong sách tiên tri Ysaya, thôi.
Ngang qua quà tặng của Thần Khí Chúa, ta trở nên dễ theo lực đẩy của Chúa ở mỗi địa hạt của quà tặng Ngài ban. Khi thấm nhuần đặc trưng ấy rồi, chính chúng ta sẽ có động thái mang cung cách của đặc trưng ấy. Trường hợp quà tặng của Thần Khí Chúa, có sự trợ giúp của đặc trưng, thì chính Thần Khí sẽ xui khiến thúc giục ta hành động theo cách thường tình là vuợt khả năng của riêng mình.
Quà tặng này, được nhiều người ví von như cánh buồm lướt gió giúp thuyền vượt sóng bằng gió nguồn của Thần Khí, trong khi đó các đặc tính được sánh ví như mái chèo được các tay chèo sử dụng. Các quà tặng liên kết với 7 đặc trưng rất nhuần nhuyễn được kể đến, là: niềm tin, hy vọng, tình bác ái, khôn ngoan, công bằng, lòng dũng cảm và sự kềm chế. Xem thế thì, quà tặng khôn ngoan khiến ta hiểu biết và ưa thích sự việc Chúa ban, để rồi gia tăng lòng yêu mến ta vẫn có, với Ngài.
Quà tặng tạo kiến thức giúp ta thấm nhập sâu sắc vào với sự thật của niềm tin và thấy được sự hài hoà ở trong đó và cũng nhờ đó gia tăng thêm niềm tin của ta. Quà tặng về kiến thức giúp ta am hiểu mọi thụ tạo trong tương quan với Đấng Tạo Hoá, củng cố đặc trưng hy vọng, bằng vào việc cho thấy sự trống vắng các vật được tạo dựng, khiến ta khao khát Chúa, hơn mọi sự.
Quà tặng mưu lược là để suy tôn tính khôn ngoan, hầu giúp ta phân biệt những gì cần làm trong mỗi hoàn cảnh; cả trong cuộc sống của riêng ta, và cả vào việc mưu sự cho người khác nữa.
Quà tặng tạo sự dũng mãnh hoàn-thiện-hoá uy lực, giúp ta làm được những gì mang tính anh hùng đích thực mỗi khi cần đến, ngay cả khi ta chấp nhận chết cho Đạo.
Quà tặng tạo sự sốt mến hoàn-thiện-hoá, đặc trưng của tôn giáo, là thành phần của sự công bằng, khả dĩ giúp ta nhận biết Chúa là Cha khiến ta biết mà phụng thờ yêu mến Ngài.
Và cuối cùng, quà tặng để biết mà kính sợ Chúa giúp ta hoàn-thiện-hoá đặc tính biết tự kềm chế, khiến ta lo sợ mất đi lòng mến Chúa vì dám đeo đuổi những vui thú không xứng hợp. Đây không là niềm hãi sợ hạ cấp của giới nô lệ ở dưới, vẫn cứ sợ bị trừng phạt, cho bằng niềm cung kính biết sợ của con cái vẫn cứ lo và sợ xúc phạm người cha của mình; và, sợ mất đi tình yêu thương của người cha/bố. Kinh nghiệm về sức mạnh của quà tặng như thế, ta đều từng trải, vào lúc khác nhau. Chẳng hạn như, ngang qua quà tặng kiến thức, có thể là ta sẽ bất chợt có được nhận thức ấy qua nguyện cầu đi vào sự thật của niềm tin, mà ta chưa từng nghe biết, trước đó. Hoặc quà tặng mưu lược trong khuyên nhủ, có thể ta cũng nghĩ đến một biện chứng khả dĩ đã thuyết phục bạn bè/người thân quay về với bí tích hoà giải, chẳng hạn. Nói chung, tất cả đều là quà tặng của Thần Khí, rất quí báu.”
Về tâm tình cảm nhận quà tặng từ Trên, cũng nên lắng nghe thêm một chút ý nghĩa nơi ca từ của nhạc bản, khi người nghệ sĩ vẫn cảm kích lúc em cười, đã lại hát:
“Bâng khuâng lúc em cười
Kìa hàng cây ngẩn ngơ
sáng trăng xanh khung trời
dặt dìu nhạc với thơ.
(Phạm Đình Chương – bđd)
Hoặc, cả vào khi không thấy lòng bâng khuâng “lúc em cười”, người nghệ sĩ còn hát thêm:
“Nhưng không thấy em lại
hàng thùy dương chếch bóng
và lũ hoa thầm khép hương chờ mong.”
(Phạm Đình Chương – bđd)
“Lũ hoa thầm khép hương”, hay “hàng thuỳ dương chếch bóng”, là lúc người anh/người chị của ta cũng nhận ra “hoa quả đầu mùa” từ Trên ban tặng. Nhận thức này, là ý thức về một hiểu biết như đấng vị vọng thân quen của ta, đà quả quyết:
“Về hoa quả do Thần Khí tác tạo, Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo có nói: “Đó là sự toàn năng toàn hảo được Chúa Thánh Thần tạo thành trong ta, như hoa quả đầu mùa của vinh quang trường cửu.” (GLHTCG # 1832)
Thánh Phaolô cũng liệt kê như thế như một tương phản giữa hoa quả của cuộc sống theo tính xác thịt, với thành quả của sự sống có Thánh Thần Chúa dẫn dắt.
Truyền thống Hội thánh lâu nay nhấn mạnh rằng 12 loại hoa trái ấy, là: lòng bác ái, niềm vui tươi, sự an bình, tính nhẫn nhục, sự tử tế, tốt lành, đại độ, hoà nhã, lòng trung thực, tính khiêm tốn, sự tự chế và lòng khiết trinh.” (x. Gal 5: 22-23)
Nếu ta biết sống đàng hoàng luôn nghe theo sự thôi thúc của Thánh Thần Chúa, thì chắc chắn mọi hoa quả sẽ đến với ta, rất tự nhiên. Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo gọi hoa quả ấy là vị ngọt của thiên đường, tức ‘hoa quả đầu mùa của vinh quang trường cửu.” (x. Lm John Flader, The Catholic Weekly, 12/9/2011, tr. 12)
Về “hoa quả đầu mùa” mà Thần Khí Chúa vẫn ban cho mọi người, đấng bậc vị vọng cũng đã nhận được ơn khôn ngoan/thông thái, nên mới giải thích rõ như thế. Phần người đọc, chắc hẳn người người cũng cần ân huệ của Ngài mới đả thông được mọi ý nghĩa chí lý của sự việc.
Ân và huệ để thông hiểu mọi ý nghĩa nơi “hoa quả đầu mùa” do Thần Khí Chúa tặng ban, Ngài đã ban cho ta ngay từ “Thuở ban đầu”, rất đẹp. Đẹp như tiếng hát, nghệ sĩ vẫn ca đi hát lại một giai điệu:
“Sao không thấy em lại
Hàng dừa nghiêng thương nhớ
Này khúc ân tình biết đưa về đâu.”
(Phạm Đình Chương – bđd)
Cuối cùng ra, tất cả là “khúc ân tình” ta nhận từ nhiều phía, rất cảm kích. Biết ơn. Chính vì có ân tình, nên vẫn cần sự cảm kích, biết ơn. Biết, cả ơn từ những người đóng vai chuyển tải những ơn và huệ từ Đức Chúa. Như ý nghĩa của truyện kể được minh hoạ ở bên dưới:
“Truyện rằng:
“Có hai thiên sứ Nhà Trời được sai xuống trần gian, thực hiện một khảo sát rất ngắn gọn để xem loài người sống ở hành tinh có tên gọi là “mặt đất” lâu nay hành xử ra sao, trong quan hệ với Chúa. Để thực hiện công cuộc khảo sát theo cung cách của người trần, mỗi thiên sứ mang một bao bị đặc biệt hầu đựng dữ kiện của khảo sát. Cụ thể là, một thiên sứ mang bao bị đựng toàn những lời khấn nài xin xỏ, của người phàm. Thiên sứ kia, mang bao bị cũng ngang bằng một tầm kích. Nhưng, đựng toàn lời cảm kích/biết ơn, thôi.
Hoàn tất khảo sát rất tốt đẹp, hai thiên sứ quay về Thiên Đình báo cáo với Đức Chúa của Nhà Trời, về những gì mình đạt được. Đức Chúa nhìn thiên sứ mang bao bị đựng “những lời xin” thấy vị này cứ là khệ nệ những mang cùng xách, rất vất vả. Trong khi đó, bao bị của thiên sứ kia, chẳng có được là bao những dữ kiện cảm tạ, và biết ơn. Hỏi ra mới biết, người đời chỉ xin nhiều chứ ít biết mà cảm tạ, Chúa Thánh Thần.”
Truyện kể chỉ bấy nhiêu. Cũng không dài. Chẳng lòng thòng, miêu dạng. Tuy nhiên, ở đây, hôm nay cũng nên đính kèm lời bàn của người kể, bảo rằng: “Trong sống đời ở trái đất, rất hành tinh, người người đều nhận lãnh ân huệ, ngang bằng nhau. Nhưng, chừng như ai cũng muốn “xin thêm”, chứ nào có mấy người thấy đó làm đủ, và biết nói lời cảm kích/ biết ơn người tặng ban.”
Lời cuối chuyện phiếm hôm nay, phải là lời cảm nhận để nói rằng: bạn bè/người thân đọc đến đây chắc đã đủ? Chẳng ai muốn có thêm một lời bàn nào khác? Nếu thế, bần đạo xin kết thúc bài phiếm hôm nay bằng lời ngỏ rất “biết ơn” bạn và tôi, đã dõi theo giòng chảy có những “đoản khúc suy tư”, thực hư đều rất phiếm. Những mong rằng, cả tôi và bạn, ta sẽ cứ thế mà biến hoa quả đầu mùa mà Chúa Thánh Thần. Cứ thăng hoa, triển nở mãi, với mọi người. Để rồi tìm đến Lời Chúa mà nghĩ suy thêm, như sau:
“Tôi hằng cảm tạ Thiên Chúa của tôi vì anh em,
về ân huệ Người đã ban cho anh em nơi Đức Ki-tô Giê-su.5
Quả vậy, trong Đức Ki-tô Giê-su,
anh em đã trở nên phong phú về mọi phương diện,
phong phú vì được nghe lời Chúa
và hiểu biết mầu nhiệm của Người.
Thật thế, lời chứng về Đức Kitô đã ăn sâu vững chắc
vào lòng trí anh em,
khiến anh chị em không thiếu một ân huệ nào,
trong lúc mong đợi ngày Đức Giêsu Kitô,
Chúa chúng ta,
mặc khải vinh quang của Người.”
(1Cor 4-7)
Nói cho cùng, thì ơn Người và ơn đời, vẫn là việc của tôi và của bạn, vẫn cần làm thường ngày ở huyện đời. Nhà Đạo. Rất dễ thương
Trần Ngọc Mười Hai
vẫn muốn chuyển
đôi ba tư tưởng mọn
đến bạn bè/người thân
nhân lễ Ngũ Tuần.
Ở đời.
“Cánh cửa ngang qua thế giới buồn”
“tống biệt hồng, sang tống biệt đen.
Em mang điệp khúc về đâu đó,
Ta tưởng chừng như giã biệt em.”
(dẫn từ thơ Nguyên Sa)
Ga 20: 19-23
Thế giới buồn, có phải vì tống biệt hồng/tống biệt đen, người em nơi cánh cửa? Điệp khúc vui, phải chăng em mang về từ đâu đó như giã biệt, từ Đức Chúa? Ngài giã biệt, nhưng thay vào đó, Ngài đã gửi Thần Khí Thánh đến với ta.
Trình thuật thánh Gioan, nay ghi lại cùng một tình tự có giã biệt, thân thương Ngài gửi đến với dân gian, thế giới buồn. Sau ngày Chúa chịu nạn trên thập giá, Ngài trỗi dậy từ cõi chết và thăng tiến về Trời, khiến đồ đệ dân con cứ phân vân không biết sự việc gì rồi sẽ xảy đến, ngay sau đó? Một số vị, quay về với nghề cũ, những thả lưới với buông câu. Có vị, nhớ mình từng gửi Chúa những câu hỏi, rất tương tự. Hỏi thì hỏi, nhưng vẫn chờ câu giải đáp khả dĩ xứng hợp với ưu tư của chính mình.
Thay vào đó, Thày bảo: về với thế-giới-mới, Thầy sẽ gửi Thần Khí đến mọi người, vào thời sau. Và lời Ngài, nay đã thành hiện thực. Rất hiện tại. Tương tự một tình huống trong đó có người thổ lộ: mình lo không biết có đạt chốn thiên đường được không đây? Nghe vậy, Thầy bèn trấn an dân con mình: đừng lo toan/thắc mắc. Bởi, thiên đường tự khắc đến với mình, cũng chóng thôi. Lời Thầy còn nhắn nhủ: đạt chốn thiên-đường thì ai cũng đạt! Ngài lại thêm: Thiên đường mà người người lo không đạt, chưa hẳn là kết cục của thế giới. Bởi, thế giới nay còn những chuyện lớn lao, quan trọng hơn.
Thiên đường mà người đời những mong tưởng, nay xuất hiện ở đây. Nơi này. Rất sớm. Điều quan trọng, là: dân con mọi người phải sẵn sàng kiên trì sống. Tức, chấp nhận qui cách sống đúng sứ mệnh Ngài trao ban. Dù biết Thiên đường là nơi đây. Chốn này. Thế mà, đồ đệ Chúa vẫn không hiểu điều Thầy tỏ lộ. Và, cả ta nữa, chừng như vẫn không hiểu hết điều Chúa tỏ bày cho ta. Cho mọi người.
Nên, Ngài phải nói thêm: “Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thần Khí, khi Người ngự xuống trên anh em.” (Cv 1: 8) Chính Thần Khí Chúa sẽ giúp mọi người trở nên giống Thầy, khi đạt thế-giới-mới. Lễ Ngũ Tuần. Thần Khí đến, người người sẽ dùng ảnh hình để nói lên những gì mình cảm nhận, từ Ngài.
Cảm nhận Thần Khí là đón nhận Luồng Gió Mới cực mạnh, nay thổi đến. Như, Lửa Ngọn dũng mãnh tạo sự sống. Như gà mẹ khống chế trạng huống hỗn độn quanh ổ, rồi mới đẻ. Tức, tạo môi trường thích hợp để sinh hạ sự sống mới. Thần Khi đến, là như: sói dữ ở bên chiên lành. Như, nguồn sống tạo yên hàn không bạo lực. Thần Khí đến, bảo đảm cho an bình, thịnh vượng. Cho, niềm thuỷ chung qua nhẫn cưới, ngày hứa hôn. Ngài là Thần Khí, Đấng giúp ta đi vào thế-giới-mới, rất sẵn sàng.
Xuất Hành về với Đất Hứa, dân con Do thái đều đã nhận được lời hứa hẹn đạt thế-giới-mới. Chốn thiên đường. Chốn Đất Lành miền Canaan, như vẫn gọi. Nhưng trước đó, họ cảm nghiệm một hành trình xuyên suốt, có cột mây che nắng ban ngày. Có, cột lửa soi sáng ban đêm. Và, họ cảm nhận kinh nghiệm có Chúa ở cùng. Chung sức sống.
Trong hành trình đổi dời thế giới cũ về với Thế-giới-mới, Chúa hứa ban không chỉ mỗi đất lành miền Canaan, nhưng toàn thế giới, vũ trụ. Vũ trụ ta, là thiên đường. Có trời đất giao hoà, đầy Thần Khí. Có, Năng Lượng Chúa cao cả, nạp cho ta. Cao cả, nhưng Ngài không là con đường rất chung chung, không thể đến. Ngài cho ta nếm trước hương vị của thiên-đường-thế-giới-mới, không phải mây trời. Cột lửa. Mà, Thần Khí. Chính Thần Khí ấp ủ thế-giới-mới, để nuôi ta. Đó, là sáng-thế nguyên-thủy. Là, Thần Khí đến với mọi người. Rất hôm nay.
Thần khí đến với ta. Với từng người. Ngài đến, theo cung cách thế-giới-mới-rất-thiên-đường, hình thể nhỏ. Của vũ trụ. Xem thế, tất cả chúng ta là dân con đã được dựng. Dân con của Thần Khí. Xem thế, thì: Thiên-đường-tràn-đầy-Thần-Khí đã đến với ta. Ở với ta. Ngài đi vào cuộc sống của chính ta. Và mọi sự nơi ta nữa.
Có thể, có người bảo: đó kìa, những người “sống vô gia cư chết vô địa táng”, đâu như thế. Hoặc tôi đây, cũng chẳng giống vậy. Có thể, có nhiều chuyện vô lý và bi thảm, vẫn xảy đến trên con đường, mình đang sống. Cả nơi khu vực phía sau nhà, nhiều chuyện xảy đến cũng khiến ta khó mà tin. Thánh Phaolô là vị thánh từng trải nhiều về chuyện này, khi thánh nhân bảo: ta là “đền thờ của Thần Khí”, ngay khi thánh nhân còn đang rao giảng ở Côrinthô, kinh đô đồi truỵ của Hy Lạp. Là, vùng cấm địa của Achaia có đền Aphrodite, đền thờ nữ-thần nhục-dục, đầy thác loạn. Nhưng, thánh nhân vẫn nhận biết điều ấy, cũng rất thật.
Suy niệm sự kiện Chúa Về Trời, ta nghĩ ngay đến “thiên-đường”, không theo nghĩa bầu trời, nhưng theo nghĩa thế-giới-mới, Chúa tạo dựng. Và, Đức Chúa cũng từ thế giới này, đến với ta. Ngài tập họp mọi người vào với thế-giới ấy. Ngài gửi Thần Khí đến với ta như dấu ấn mới, rất an bình. Tuyệt mỹ.
Nhưng, làm sao biết được điều ấy sẽ xảy đến? Lấy gì làm bằng để thấy được là: Thần Khí sống với ta? Và, đâu là bằng chứng Ngài phú ban ngay từ trước thiên-đường-thế-giới-mới ấy? Xin thưa: bằng chứng, nằm ở cuộc sống rất đẹp, của mọi người. Ở, mối ưu tư/quan ngại về công lý và an bình, khi vẫn còn nhiều người đang bị chèn ép. Áp bức. Ngay chính ta, cũng đã trải nghiệm nhiều nét đẹp của sự sống. Nhưng nhiều lúc, ta và Hội thánh lại quên mất cung cách phải có, để giáp mặt với sự-sống-rất-đẹp. Để rồi, đôi lúc biến nó thành vật vô giá trị. Và, lẩn tránh tất cả những gì là Chân-Thiện-Mỹ, ở đời. Thay vào đó, ta chỉ thích mỗi cung cách hành đạo cứng ngắc. Vụ hình thức. Rất ngán ngẫm.
Thực tế ở đời, nhiều vị vẫn còn đang làm công việc tuyệt vời, trong đời. Ví dụ ư? Đấy kìa, những vị đang làm rất nhiều điều kỳ diệu, mà ít ai chịu làm. Đích thị là, Thần Khí đang làm những điều kỳ diệu rất “thiên-đường”, nơi người ấy. Chắc chắn rằng, Thần Khí Tuyệt Mỹ cùng hiện diện, ở nơi họ.
Ưu tư/quan ngại về công lý và bình an, còn thấy nơi nhiều người. Đó cũng là mối quan tâm lo lắng cho số phận của người nghèo. Để rồi, sẽ tìm cách thực hiện cho bằng được sự bình an, rất công lý. Ví dụ ư? Đừng nên tìm ví dụ nơi thể chế chính trị. Xã hội. Của loài người. Bởi lẽ, không chỉ mỗi các nhà từ thiện mới có khả năng thực hiện được công việc tuyệt mỹ/tuyệt diệu ấy. Phải nói rằng, chính Thần Khí đang thực hiện công lý và bình an nơi con người. Và, môi trường. Khi đó, Thần Khí Công Lý và An Bình, sẽ còn hiện diện mãi, nơi họ. Với họ.
Chắc chắn, Công Lý và Sự Tuyệt Mỹ/Tuyệt Diệu đang kết-thân-làm-một để bừng nở như bông hoa mới chớm ở thế-giới-mới. Với ta. Đó, là khởi đầu của sự kiện đất-trời-hoà-hợp do Thần Khí ban cho ta. Đang diễn ra.
Lâu nay, nhà Đạo mình nói nhiều đến Thần Khí Chúa ở cùng Hội thánh. Nay, có lẽ nên thêm: Thần Khí Chúa đang ở với và ở cùng ta. Và, thế giới. Cầu mong sao, Ngài ở với và ở trong Hội thánh ta nữa. Bởi, Hội thánh là chốn thánh thiếng từ đó ta thấy được mọi sự đang diễn tiến, đến với ta. Cùng lúc.
Với tinh thần lạc quan sẵn có, ta sẽ ngâm vang lời thơ buồn, nhưng hy vọng của nghệ sĩ:
“Chết một ngàn năm chắc phải sầu,
Nhưng này thương nhớ lúc xa nhau.
Mịt mù nhân thế trôi biền biệt,
Giữa vị sầu nghe có vị đau.”
(Nguyên Sa – A Tỳ)
Bằng vào lời thơ, thi nhân thấy “có vị đau”, giữa vị sầu. Về với thiên-đường, người người đều cảm nhận Thần Khí, rất mỹ quan. Mỹ quan thiên đường Ngài trao ban, sẽ cùng với mọi người sống cuộc đời đẹp. Rất đáng sống. Với mọi người.
Lm Nguyễn Đức Vinh Sanh
Mai Tá lược dịch