Alleluia! Chúa Giêsu đã Phục Sinh từ cõi chết. Alleluia!

Sự Phục Sinh là niềm khát khao và hy vọng của con người. Sự khao khát và niềm hy vọng này phải được thanh luyện, từng trải và phấn đấu không ngừng. Làm nhân chứng niềm tin vào Chúa Kitô Phục Sinh đòi hỏi phải đối diện với sự đổi đời, hy sinh, đau khổ và kiên tâm chịu đựng. Muốn đạt tới vinh quang phục sinh, chúng ta không thể đi con đường nào khác ngoài con đường Chúa đã chỉ dạy. Thánh Gioan đã viết: Hãy nhớ lời Thầy đã nói với anh em: tôi tớ không lớn hơn chủ nhà. Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em. Nếu họ đã tuân giữ lời Thầy, họ cũng sẽ tuân giữ lời anh em (Ga. 15,20). Xem ra con đường Chúa đã đi có ít người muốn theo. Thật thế, ai trong chúng ta cũng muốn mang danh là Kitô Hữu, nhưng đời sống của chúng ta còn một khoảng cách rất xa với Lời Chúa dạy.

Nhìn qua lịch sử của Giáo Hội, chúng ta có thể học hỏi một số gương nhân chứng niềm tin đích thực. Các chứng nhân đã theo sát con đường thập giá của Chúa. Các Ngài là những tinh hoa anh dũng của niềm tin. Sách Khải Huyền của thánh Gioan đã trình bày: Hạnh phúc thay và thánh thiện dường nào kẻ được dự phần vào cuộc phục sinh thứ nhất này! Cái chết thứ hai không có quyền gì trên họ; nhưng họ sẽ là tư tế của Thiên Chúa và của Đức Kitô, họ sẽ hiển trị với Đức Kitô một ngàn năm ấy (Kh.20,6). Niềm tin vào sự sống lại nơi các nhân chứng là đã dám hy sinh đổ máu đào. Sau khi Chúa Giêsu hoàn tất cuộc khổ nạn, chịu chết, sống lại và lên trời. Các nhân chứng đầu tiên là thánh Phêrô và tiếp theo là các vị tông đồ đã minh chứng hùng hồn vào sự sống ngày sau. Hầu hết các Tông Đồ đã hy sinh mạng sống vì danh Chúa Kitô Phục Sinh. Khoảng năm 64, dưới thời Nero cấm đạo, Phêrô, vị chủ chăn tiên khởi của Giáo Hội đã bị bắt, tống giam và chịu cực hình khổ giá. Phêrô đã bị đóng đinh ngược đầu xuống đất.

Chúng ta nhớ câu truyện trên đường đi Giêrusalem, Chúa Giêsu loan báo về cuộc khổ nạn của Ngài. Mẹ của hai tông đồ Gioan và Giâcôbê đã xin Chúa cho con của mình được ngồi bên tả và bên hữu Chúa. Chúa hỏi các ông có uống được chén mà Thầy sắp uống không? Các ông thưa: Được. Đức Giêsu bảo: "Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống; phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu. (Mc.10,39). Vị Tông đồ đầu tiên hưởng nếm chén đắng mà Chúa Giêsu đã hứa, đó là thánh Giacôbê. Ngài đã chịu chết vì đạo vào khoảng năm 44 AD. và lãnh triều thiên vinh hiển.

Cũng vào khoảng năm 64-67, Thánh Phaolô, vị Tông đồ dân ngoại, đã chịu biết bao nhiêu khổ hình trên đường truyền giáo. Phaolô thấm nhuần lời Chúa: Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa (Mt.5,11). Ngài bị tù đầy, đánh đập và giam cầm nhiều lần. Sau cùng Phaolô bị bắt tại Rôma và vì là công dân Rôma, Ngài đã lãnh triều thiên vinh quang được chặt đầu thay vì bị đóng đinh vào thập giá.

Sau khi Chúa Thăng Thiên, thánh Anrê tông đồ đã đi rao giảng Tin Mừng tại nước Hy Lạp. Theo sử gia Eusebius, không xác tín Ngài chết cách nào nhưng theo truyền thống kể lại Ngài bị trói vào thập giá hình chữ X. Hình chữ X rất phổ biến qua nhiều thế kỷ của nghệ thuật thánh giá với hình thập giá X. Ngài trung tín với lời Chúa đã hứa ban sự sống: Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Quả vậy, các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế (Mt.5,12).

Hai phụ nữ Perpetua và Felicita can đảm tuyên xưng đức tin vào Chúa Giêsu và chối từ dâng của lễ cho thần Rôma. Các Ngài đã bị kết án tử hình. Lúc đầu Felicita được hoãn lại vì đang mang thai, sau khi sanh non bé gái ba ngày, thì bị hành xử cùng với Perpetua. Các Ngài bị vứt cho thú dữ đói mồi cắn xé. Các Ngài được phúc tử đạo ngày 7 tháng 3, 203. Thánh Phaolô đã loan báo rằng: Việc kẻ chết sống lại cũng vậy: gieo xuống thì hư nát, mà trỗi dậy thì bất diệt (1Cor. 15,42).

Lôrensô là thầy phó tế đã chịu chết 4 ngày sau Đức Giáo Hoàng Sixtus năm 258. Thầy rất can đảm và một lòng cậy trông vào Chúa. Giữa những khổ đau bị thiêu sống trên giường sắt, thầy Lôrensô vẫn giữ tâm hồn lạc quan và phấn khởi. Như lời Chúa Giêsu đã hứa: Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao (Mt.5,12). Niềm hy vọng sống lại ngày sau đã giải hóa mọi khổ đau mà Thầy phó tế phải chịu vì danh Chúa.

Tại Nhật Bản, ngay sau khi tin mừng được truyền rao trên mảnh đất Phù Tang, các tín hữu tiên khởi cũng đã chịu cảnh bắt bớ tù tội và chết chóc. Thánh Paul Mikki và 17 đồng bạn đã lãnh triều thiên tử đạo năm 1597. Các Ngài thuộc mọi thành phần từ trẻ 12, 13 tuổi đến những người trưởng thành. Họ là y sĩ, quân lính và giáo lý viên. Có tất cả 188 vị anh hùng tử đạo tại Nhật Bản đã được Giáo Hội phong thánh. Ngoài ra, còn vô số các tín hữu chịu bách hại và chịu chết vì danh Chúa. Họ sống và chết trong niềm tin vào Chúa Kitô. Sách Khải Huyền đã mở cửa giới thiệu: Đây, chẳng bao lâu nữa Ta sẽ đến, và Ta đem theo lương bổng để trả cho mỗi người tuỳ theo việc mình làm (Kh. 22,12).

Vào thế kỷ thứ 19, tại nước Việt Nam, dưới triều đại các Vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức và loạn Văn Thân, các Kitô Hữu đã trải qua một cuộc bách hại đức tin khủng khiếp. Đã có cả trên 100 ngàn tín hữu hy sinh mạng sống để bảo vệ đức tin vào Chúa Kitô phục sinh. Có nhiều người bị bách hại, tù đầy, phân sáp và trốn lánh sơ tán đi các nước láng giềng. Chúng ta không thể kể hết các cực hình mà tiền nhân của chúng ta phải chịu. Các Ngài bị giết chết bằng nhiều cách như: Xuy, trượng, đồ, lưu và tử. Xuy là đánh bằng roi: 10, 20, 30, 40 hay 50 roi chung cả đàn bà lẫn đàn ông. Trượng là đánh bằng gậy lớn. Đồ là đi khổ dịch. Lưu là phát vãng khỏi gia đình, xứ sở. Tử có nhiều loại như xử giảo là cắt cổ. Xử trảm là bị chém, bêu đầu gọi là khiêu. Xử lăng trì là bị chặt tay chân hoặc tùng xẻo. Xử bá đao là chém 100 nhát. Xử cấm cốc là để chịu đói. Xử thiêu sống và xử bị voi dầy…Các tín hữu đã chịu sự bách hại giống như thời Giáo Hội sơ khai như thánh Phaolô diễn tả: Vả lại, những ai muốn sống đạo đức trong Đức Kitô Giêsu, đều sẽ bị bắt bớ (1 Tm. 3,12). Giáo Hội Công Giáo Việt Nam đã hãnh diện với 117 vị đã được phong hiển thánh và chân phước Anrê Phú Yên.

Gần chúng ta hơn là vào thế kỷ thứ 20, khi quân Phátxít Đức tiêu diệt người Do Thái và bách hại đạo Công Giáo, tại nhà tù đã có những chứng nhân anh hùng hy sinh mạng sống bảo vệ sự sống của tha nhân. Năm 1941, có một tù nhân trốn trại. Theo luật, 10 người sẽ phải chịu chết thế. Maximilian, tuy không trong số bị chọn nhưng thương cảm cho một tù nhân. Ngài đã bước tới và nói với viên sĩ quan: Tôi là linh mục Công Giáo. Tôi muốn chết thay cho người này. Tôi đã già. Ông ta còn vợ và các con. Viên sĩ quan do dự nhưng chấp nhận đề nghị. Sau hai tuần bị bỏ đói, Maximilian vẫn tỉnh thức cầu nguyện. Sau cùng, Ngài đã bị chích thuốc độc cho chết ngày 14 tháng 8, năm 1941. Ngài tin rằng sự chết sẽ biến đổi chứ không mất đi. Niềm tin của ngài xác tín như Cô Mácta: Cô Mácta thưa: "Con biết em con sẽ sống lại, khi kẻ chết sống lại trong ngày sau hết." (Ga. 11.24).

Chúa Giêsu đã mở một kỷ nguyên mới trong niềm hy vọng. Sự sống này có cùng đích. Cuộc lữ hành trần thế chấm dứt khi chúng ta trút hơi thở cuối cùng, nhưng sự sống vẫn còn tồn tại chờ ngày được sống lại. Thánh Phaolô trong thơ gởi cho giáo đoàn Rôma đã viết: Thật vậy, vì chúng ta đã nên một với Đức Kitô nhờ được chết như Người đã chết, thì chúng ta cũng sẽ nên một với Người, nhờ được sống lại như Người đã sống lại (Rm.6,5). Nhờ đức tin hướng dẫn, chúng ta dõi bước theo các vị tiền nhân anh dũng. Sự hy sinh mạng sống và máu đào của các vị tử đạo đã trở nên nhân chứng hùng hồn vào sự sống mai hậu. Sự hy sinh cao cả và gương sáng của các Ngài là mối hy vọng liên kết chúng ta với Chúa Giêsu Phục sinh.

Giáo lý Công Giáo dạy rằng ngày tận thế mọi người sẽ được sống lại và ai nấy tùy theo công việc đã làm để lãnh nhận triều thiên hay bị luận phạt. Chúa Giêsu đã cảnh báo: "Vì Con Người sẽ ngự đến trong vinh quang của Cha Người, cùng với các thiên thần của Người, và bấy giờ, Người sẽ thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm” (Mt. 16,27). Thiên Chúa sẽ thưởng phạt công minh theo lòng nhân hậu của Chúa. Trước ánh sáng chói lòa, tất cả mọi sự được phơi bày. Khi đó, chúng ta mới nhìn thấu suốt tâm tư trong con người thật của mình. Cũng như khi chúng ta mặc quần áo dơ dáy hay bê bối bẩn thỉu trong ánh đèn mờ thì ai cũng như ai. Khi ra giữa ánh sáng chói chan, chúng ta tự nhận biết sự yếu đuối, tội lỗi, dơ bẩn của thân phận mình. Khi đó lời của sách Châm Ngôn sẽ hiện thực: Thực thi công lý là niềm vui cho người công chính, nhưng là nỗi kinh hoàng cho kẻ bất lương (Cn.21,15).

Chúng ta chỉ còn biết cậy dựa vào lòng yêu thương nhân hậu của Chúa xin tha giảm phần phạt. Chúa không kết tội nhưng mà chính chúng ta sẽ cảm thấy không xứng đáng hiện diện trước nhan thánh Chúa. Với thân phận con người mỏng dòn và tội lỗi, chúng ta không xứng đáng chia phần triều thiên vinh quang. Công trạng của chúng ta không thể sinh ơn cứu độ nhưng chỉ nhờ vào lòng chỉ từ bi nhân hậu của Chúa. Thánh Vịnh ca ngợi: Quả thật Chúa là Đấng công chính, ưa thích điều chính trực; những kẻ sống ngay lành được chiêm ngưỡng Thánh Nhan (Tv.11,7).

Mừng Lễ Chúa Giêsu Phục Sinh là niềm vui mừng và hy vọng của chúng ta. Chúa Kitô là đầu nhiệm thể, Chúa đã đi qua cõi chết và bước vào sự sống. Chúa Kitô chính là của lễ đầu mùa dâng lên Thiên Chúa Cha. Chúa Kitô sống lại và đã về trời. Chúa đi trước để dọn chỗ cho chúng ta: Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em (Ga.14,1-2). Tin tưởng vào Chúa, chúng ta không còn sợ hãi chi. Hãy vững bước theo Chúa tới cùng!