ĐỆ TAM THIÊN KỶ, THỜI ĐẠI CỦA ĐỨC CHÚA THÁNH THẦN?
Hơn mọi thế hệ nhân loại khác, con người hôm nay đã và đang được vinh dự đưa thế giới, và giáo hội, hành trình vào một thiên kỷ mới, thiên kỷ thứ ba của lịch sử Kitô giáo. Ðể chuẩn bị cho mốc thời gian vô cùng quan trọng này (năm 2000) và cũng là Ðại Năm Thánh, vị chủ chăn của giáo hội Công Giáo lúc bấy giờ, Chân Phúc (Á Thánh) Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, đã đề nghị ba năm chuẩn bị: 1997-1999. Mỗi năm, giáo hội đăc biệt suy niệm về một trong Ba Ngôi Thiên Chúa. Năm 1997: Ðức Chúa Con, Giêsu Kitô; 1998: Ðức Chúa Thánh Thần; và 1999: Ðức Chúa Cha.
Tuy nhiên sự hiểu biết của con người về Ðức Chúa Thánh Thần, Ngôi Ba Thiên Chúa, xem ra bị giới hạn nhiều do chính bản chất hữu hạn trong khả năng suy tư của nhân loại. Các giáo huấn của giáo hội về Ngài, cách minh bạch (explicitly) hay hàm ẩn (implicitly), cũng chỉ chính thức được đặt trong khuôn khổ của Kinh Thánh.
Từ thuở sơ khai của giáo hội, các Thánh Phụ, thần học gia, văn gia Kitô giáo; dưới sự hướng dẫn của quyền bính giáo huấn chính thức và cao nhất của giáo hội (Magisterium); đã từ từ làm minh bạch những linh ứng hàm ẩn nguyên thủy. Nhờ vậy, theo đà thời gian giáo hội tiến sâu hơn, am tường hơn về những điều giáo hội đang có để rồi chính thức hình thành đức tin. Người Công giáo đã luôn luôn tin rằng Ðức Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa, một Ngôi Vị riêng biệt trong Chúa Ba Ngôi, vĩnh cửu, đồng bản thể (Consubstantial), và cùng một uy quyền (Co-omnipotent) với Ngôi Cha và Ngôi Con. Ðiều này đã được tuyên xưng trong những bản kinh Tin Kính cổ thời nhất của giáo hội (Denz 1-75), trong đó có bản Creed of Epiphanius (D. 42-45), bản Athanasian Creed (D. 75-76), rồi đến hai kinh Tin Kính thời danh: Nicene (D. 125-126) và Constantinopolitan (D. 150). Tuy nhiên, giáo hội thuở ban đầu đã chưa trình bày cách rõ ràng về phương cách đưa đến sự hiện hữu của Đức Chúa Thánh Thần (tiếng La Tinh: procedere, Anh ngữ: procession, có người đã dịch qua tiếng Việt bằng một từ khá chính xác là ‘nhiệm xuất’); nguồn gốc của nhiệm xuất; và vai trò của Ðức Chúa Con trong nhiệm xuất này.
Xin mở dấu ngoặc để nói thêm rằng: Trong bản dịch kinh Tin Kính (Nicene) của tiếng Việt, mà các Kitô hữu luôn tuyên xưng trong thánh lễ ngày Chúa Nhật; ủy ban dịch thuật đã chỉ “đơn giản” trình bày việc “nhiệm xuất” của Đức Chúa thánh Thần là: “Người bởi Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con mà ra…” Tuy đúng về ý nghĩa, nhưng những chữ “bởi…mà ra” dường như đã chưa diễn tả hết được sự thánh thiêng trong việc “nhiệm xuất” của Đức Chúa Thánh Thần. Dùng chữ “nhiệm xuất”, sẽ giúp người ta hiểu rõ hơn rằng Đức Chúa Thánh Thần “bởi Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con mà ra” trong một cách nhiệm mầu.
THỜI CÁC GIÁO PHỤ
Các thánh Clement of Rome (c.95) và Ignatius of Antioch (d.107) hội nhập Ðức Chúa Thánh Thần và hai Ngôi Cha, Con thành Một Chúa. Justin Martyr (d.c.167) và Athenagoras (c.177) đã dựa vào công thức Rửa Tội (Mt.28:19) để dạy rằng Thánh Thần (Spirit) cũng là Chúa. Ông Tertullian (d.c.222) thêm rằng Ðức Chúa Thánh Thần (ÐCTT) nhiệm xuất từ Ðức Chúa Cha (ÐCC) qua Ðức Chúa Con (Ðcc). Gregory Thaumaturgus nhấn mạnh đến sự bất khả phân ly của Ba Ngôi. Thánh Athanasius (373) minh chứng rằng ÐCTT có cùng sự liên kết với Ðcc, cũng như Ðcc liên kết với ÐCC. Thánh Cyril of Jerusalem (386) nói đến việc đồng bản tính (nature) của Ba Ngôi và việc ÐCC hành động qua Ðcc trong ÐCTT.
Ở Ðông Phương các thánh Basil (c.397), Gregory of Nazianznus (c.390), và Gregory of Nyssa, em của thánh Basil (c.394) đã đi xa hơn một chút để nói rằng ÐCTT nhiệm xuất (proceeds), chứ không “được sinh ra mà không phải được tạo thành” (begotten, not made) như Ðcc.
Phía Tây Phương, thánh Augustine (430) phát triển tín lý về ÐCTT là Thiên Chúa, bởi ÐCC và Ðcc mà ra trong cùng một căn nguyên (principle) như sự hiệp nhất của các Ngôi Vị trong tình yêu. Vào cuối thế kỷ thứ VII, thánh John Damascene viết rằng ÐCTT không phải là con của ÐCC, nhưng là Thánh Thần (Spirit) của Ngài và của Ðcc. Những giảng dạy này của các thánh phụ đã phát triển theo đà thăng tiến và trưởng thành của giáo hội để sau này trở thành những giáo huấn chính thức trong các công đồng.
CÔNG THỨC CỦA CÁC CÔNG ÐỒNG
Công Ðồng Constantinople I năm 381 đã lên án bè rối Macedonians hay Pneumatomachoi (Denz 151). Năm 382 thánh Giáo Hoàng Damasus đã trình bày văn bản thời danh của ngài: “Tome of Damasus” theo đó, ngài hợp thức hóa hầu hết những điều đã trình bày ở trên và kết luận rằng tất cả mọi loài thụ tạo phải phụng thờ ÐCTT như họ phụng thờ ÐCC và Ðcc (Denz 153-174).
Năm 675, công đồng Toledo XI đã đề nghị: “Chúng tôi cũng tin rằng ÐCTT, Ngôi Ba, là Thiên Chúa và là Một, cũng như cùng năng quyền với ÐCC và Ðcc, một bản thể, một bản tính. Tuy nhiên, Ngài không được sinh ra mà cũng chẳng phải được tạo thành, nhưng nhiệm xuất từ ÐCC và Ðcc và là Thánh Thần của cả hai Ngôi Vị ấy. ÐCTT đã không được sinh ra (begotten) cũng chẳng phải được sinh ra lần nữa (unbegotten): E rằng, nếu chúng tôi nói Ngài được sinh ra lần nữa thì phải thêm rằng Ngài có đến hai người Cha! Và nếu nói được sinh ra thì dường như chúng tôi đang dạy rằng đã có hai người Con. Ngài được gọi là Thánh Thần, không chỉ bởi ÐCC, cũng không chỉ bởi Ðcc nhưng cùng bình đẳng bởi ÐCC và Ðcc. Ngài nhiệm xuất không phải từ ÐCC đến Ðcc, cũng không phải từ Ðcc để thánh hóa tạo vật; nhưng Ngài đã chứng tỏ nhiệm xất từ hai Ngôi Vị một cách bình đẳng, vì Ngài đã được nhận biết như là tình yêu và sự thánh thiêng (sanctity) của cả hai. Do đó ÐCTT được tin rằng đã được sai đi bởi cả hai, như Ðcc đã được ÐCC sai đi; nhưng ÐCTT không được kể là thấp kém hơn ÐCC và Ðcc, trong cách thức mà Ðcc, bởi vì Ngài đã mặc lấy nhân tính, tự nhận là đã thấp kém hơn ÐCC và ÐCTT.” (Denz 572).
CHỮ FILIOQUE
Các thánh phụ Ðông Phương từ lâu đã dạy rằng ÐCTT đã nhiệm xuất từ ÐCC qua (through) Ðcc, (thần học của ông Tertullian như đã trình bày ở trên). Ðiều này đã khác với giáo huấn của các thánh phụ Tây Phương và là một trong những khởi điểm cho cuộc phân chia sau này. Ở Tây Phương, trong bản tuyên xưng đức tin ở công đồng Braga IV (675), các thánh phụ đã chính thức dùng chữ La Tinh “Filioque, có nghĩa: và Đcc” để tuyên xưng rằng ÐCTT đã nhiệm xuất từ ÐCC và (and) Ðcc (Qui ex Patre Filióque procédit. Theo giáo huấn của thánh Augustine). Dần dần bản tuyên xưng đức tin trên đã được xử dụng trong các nhà thờ Tây Phương. Ðối với tòa thánh Roma, mặc dù đã công nhận chữ Filioque nhưng chỉ chính thức đưa chữ này vào phụng vụ từ năm 1013. Công Ðồng Lateran thứ IV (1215) đã kết án bè rối Albigenses và các bè rối khác, đồng thời minh định rằng: “... chỉ có một Chúa thật... ÐCC, Ðcc và ÐCTT: thực sự là ba ngôi vị, nhưng cùng một bản chất (essence), bản thể (substance), hay bản tính (nature) thật là đơn giản... ÐCTT đã cùng nhiệm xuất từ ÐCC và Ðcc một cách bình đẳng.” (Denz 850).
Công đồng Lyon thứ II (1274) minh định: “Chúng tôi tuyên xưng rằng ÐCTT từ thuở đời đời đã bởi ÐCC và Ðcc, không phải bởi hai căn nguyên (principles) nhưng chỉ bởi một căn nguyên; không bởi hai nhiệm xuất nhưng là một... Chúng tôi lên án và ra vạ những ai từ chối không tin rằng ÐCTT từ muôn thuở đã nhiệm xuất từ ÐCC và Ðcc; hay những ai dám tuyên bố cách vô trách nhiệm rằng ÐCTT đã nhiệm xuất từ ÐCC và Ðcc như từ hai căn nguyên chứ không phải từ một căn nguyên.” (Denz 850). Công đồng kết luận: “Chúng tôi tin rằng ÐCTT, hoàn toàn và đầy đủ là Chúa thật, nhiệm xuất từ ÐCC và Ðcc, cùng bình đẳng, cùng bản thể, cùng uy quyền, và cùng hằng hữu với ÐCC và Ðcc trong mọi sự.” (Denz 853). Công đồng Florence (1349-45) dạy rằng Ba Ngôi Thiên Chúa chỉ là một Chúa chứ không phải ba Chúa. Ba Ngôi hoàn toàn ở trong nhau, nhưng vẫn giữ sự khác biệt. Ba ngôi chỉ có một căn nguyên chứ không phải ba căn nguyên. (Denz 1332).
PHƯƠNG THỨC NHIỆM XUẤT
ÐCTT đã nhiệm xuất từ ÐCC và Ðcc như thế nào thì giáo hội chưa buộc phải là vấn đề của đức tin. Có nghĩa là phương thức nhiệm xuất của ĐCTT đã ở ngoài tầm tri thức của con người và là một mầu nhiệm (mystery); cũng như mầu nhiệm về Đcc “được sinh ra mà không phải được tạo thành – Genitum, non factum - begotten, not made” (nói như thế để có ý phân biệt với sự “được tạo thành” và sự “được sinh ra” cách tự nhiên của các loài thụ tạo trên trái đất). Tuy vậy, các thần học gia vẫn cố gắng giải thích và công nhận rằng Ðcc được sinh ra (begotten) bởi thần trí của ÐCC. ÐCTT nhiệm xuất (proceeds) từ tình yêu hỗ tương và ý muốn của ÐCC và Ðcc. Công đồng Toledo XI lập lại giáo huấn của thánh Augustine rằng ÐCTT nhiệm xuất từ ÐCC và Ðcc bởi vì Ngài là tình yêu và là thánh linh của cả hai Ngôi Vị. (Denz 527).
Giáo lý của Công đồng Trent (1545-63) dạy rằng ÐCTT nhiệm xuất từ thần ý bừng dậy bởi tình yêu. ÐGH Lêo XIII viết trong tông huấn Divinum Illud Munus rằng ÐCTT là tình yêu giữa ÐCC và Ðcc (Denz 3326). Cả hai ÐGH Lêo XIII và Piô XII cùng dạy rằng ÐCTT là linh hồn của giáo hội, là nhiệm thể của Chúa Kitô và ngự trị trong tâm hồn người tín hữu đang sống trong ân sủng của Chúa. (Denz 3807-08). Ðiều này không có nghĩa ÐCC và Ðcc không cùng ban sự sống cho Nhiệm Thể. Nhưng tác động này xứng đáng dành cho ÐCTT vì hành động thánh hóa Nhiệm Thể và tâm hồn người tín hữu mang cá tính đặc biệt của ÐCTT là yêu và thánh hóa. Tín lý về ÐCTT tiếp tục được phát triển qua những nghiên cứu của các thế hệ thần học gia kế tiếp như thánh Thomas Aquinas, Peter Lombard, những người được gây hứng khởi bởi giáo huấn chân chính của giáo hội.
NGƯỜI KITÔ HỮU CỦA THIÊN KỶ THỨ BA
Ðể chuẩn bị cho các Kitô hữu bước vào Thế Kỷ thứ XXI và cũng là Thiên Kỷ thứ Ba, đặc biệt là cho thế hệ sẽ cầm vận mệnh của nhân loại mai ngày, giáo hội Mẹ đã ân cần hướng dẫn họ qua những giáo huấn chân chính. Một trong những tài liệu hướng dẫn chính thức đặc biệt về Chúa Thánh Thần vào năm 1998, năm “dành riêng” cho Ngài, là tập bằng tiếng Ý: “Del tuo Spirito, è piena la terra” (tạm dịch là “Thánh Thần của bạn, và làm tràn ngập trái đất”) do ủy ban thần học và sử học của Ðại Năm Thánh 2000 soạn. Tập này đã được Agostino Bono dịch qua tiếng Anh mang tựa đề: “The Holy Spirit, Lord and Giver of Life” (Ðức Chúa Thánh Thần, là Chúa và là Ðấng ban Sự Sống) do nhà xuất bản Crossroad Publishing ở New York ấn hành năm 1998. Ðây là một tập tài liệu rất hoàn bị mà tất cả những ai muốn tìm hiểu thêm về Đức Chúa Thánh Thần đều cần phải đọc. Dù vậy, các thần học gia và sử gia nói trên vẫn phải khiêm nhường nhìn nhận rằng tập tài liệu này “không nhằm trình bày một tín lý đầy đủ về ÐCTT... nhưng chỉ là một dụng cụ để suy gẫm...cầu nguyện...và cùng lúc giúp thêm cho việc giảng dạy giáo lý.” (Trg.12). Các vị ấy ước mong rằng tập tài liệu nói trên sẽ cống hiến một nét đại cương để suy tư và am tường hơn về những giáo huấn của Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II.
ÐTC Gioan Phaolô II, vị “tân” Chân Phúc (Á Thánh) của Giáo Hội, đã dạy những gì? Trước hết: “Năm 1998, năm thứ hai của giai đoạn chuẩn bị, sẽ được dâng hiến trong cách đặc biệt cho ÐCTT và cho sự hiện diện thánh hóa của Ngài trong cộng đồng môn đệ của Chúa Kitô.” (Tông thư Tertio Millennio Adveniente, (TMA), đoạn 44). ÐTC còn dựa vào các giáo huấn của công đồng Vatican II, theo đó: “Giáo hội không thể chuẩn bị cho Ðại Năm Thánh trong bất cứ cách nào khác hơn là trong Chúa Thánh Thần.” (Hiến chế Dei Verbum, 51). Vì vậy: “Những tác động tiên khởi của việc chuẩn bị cho Ðại Năm Thánh phải kể cả việc đổi mới lòng biết ơn sự hiện diện và hành động của Chúa Thánh Thần, Ðấng tác động trong lòng giáo hội qua các bí tích, đặc biệt là bí tích Thêm Sức, và qua nhiều đặc sủng (charisms), công việc, và tác vụ mà Ngài linh ứng cho sự thiện hảo của giáo hội.” (TMA, 45). ÐTC tiếp rằng quyền giáo huấn chính thức của giáo hội (Magisterium) trong hiện tại ước mong làm chỗi dậy “sự nhậy cảm gia tăng trong tất cả rằng Chúa Thánh Thần đang truyền đạt cho giáo hội (hoàn vũ) và các giáo hội (địa phương)” (cf. Rev. 2:7), cũng như cho những tín hữu qua các ơn thiêng nhằm phục vụ toàn thể cộng đồng. Mục đích là nhấn mạnh điều Chúa Thánh Thần đang truyền đạt cho các cộng đồng khác nhau, từ những cộng đồng nhỏ nhất, như gia đình, đến những cộng đồng lớn nhất, như các quốc gia và những tổ chức quốc tế, bao gồm những nền văn hóa, những xã hội, và những truyền thống sâu sắc. Mặc dù có những khác biệt, nhân loại tiếp tục chờ đợi sự mạc khải của những con cái Chúa và sống bởi niềm hi vọng này, như người mẹ trong cơn lâm bồn, dùng hình ảnh mà thánh Phaolô đã xử dụng cách mạnh mẽ trong thư gửi các tín hữu Roma của ngài (xem Rom. 8:19-22) (TMA, 23).
Ủy ban soạn thảo tập tài liệu nói trên đã thêm rằng: “Nói về Chúa Thánh Thần không phải là dễ. Trong khi những chữ “Cha” và “Con” dùng cho hai Ngôi trước của Thiên Chúa Ba Ngôi gợi nên điều thuộc về “con người” và rất quen thuộc; trong khi chữ “Thánh Thần” ám chỉ trên hết theo ngôn ngữ Kinh Thánh là “thở hơi” và “gió.” ÐCTT không phải chỉ là “sức mạnh” của Chúa nhưng Ngài còn là một trong Ba Ngôi Thiên Chúa. Vì vậy: “Thay vì bận rộn tìm hiểu ÐCTT là ai, tập tài liệu này sẽ dẫn giải ‘ÐCTT làm gì cho chúng ta’.” (Trg. 12). Người đọc sẽ được hướng dẫn qua những tương quan của ÐCTT trong mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, với cuộc sáng thế, với nhân loại, với Chúa Kitô, với giáo hội, với Ðức Maria; ÐCTT trong phụng vụ, trong đời sống của các Kitô hữu, và cuối cùng là mầu nhiệm cánh chung (Eschatological) với ÐCTT như một bảo đảm cho sự phục sinh.
Chính vì sự khó hiểu về ÐCTT mà đôi khi dường như con người đã “lãng quên” Ngài trong tâm trí của họ. Phải chăng điều này đã xảy ra trong chính lời cầu nguyện hằng ngày mà giáo hội đã dạy: “Chúng con cầu nguyện nhờ Ðức Kitô Chúa chúng con.” (We ask this through Christ our Lord?) Chúa Thánh Thần đã chỉ được “hiểu ngầm” là có “liên quan” trong câu kết của lời cầu nguyện này. Đôi khi ÐCTT cũng được nhắc tới như trong lời chào đầu lễ của vị Linh mục: “...và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần, ở cùng anh chị em.” Nhưng xem ra vẫn còn qúa ít. Giáo hội có nên kết những lời cầu nguyện bằng câu: “Chúng con cầu nguyện, qua Chúa Kitô và trong Chúa Thánh Thần. Amen?”
Thực ra, con người không thể tiến đến với Thiên Chúa nếu không ở trong Đức Chúa Thánh Thần (in the Spirit). Sống trong ÐCTT, cách đơn giản, có nghĩa là sống đời Kitô hữu, tin và “biết” Thiên Chúa mà Ðức Kitô đã mạc khải. Tái tìm hiểu, hay tìm hiểu nhiều hơn, về ÐCTT và làm cho mọi người hiểu về Ngài, trong những năm tiếp theo Ðại Năm Thánh (2000) là một nỗ lực lớn để “Phúc âm hóa” thế gian vậy. Gần đây, nhiều nhà thần học đã tự hỏi rằng phải chăng giáo hội đã và đang đi vào một thời đại mới mà Ngôi Ba Thiên Chúa sẽ mạc khải nhiều hơn cho nhân loại, hoạt động tỏ tường hơn để chuẩn bị cho cuộc giáng lâm lần thứ hai của Chúa Kitô? Tuy những “việc Chúa làm” luôn là mầu nhiệm, luôn thánh thiêng đối với con người, nhưng những gì Thiên Chúa giúp nhân loại “hiểu và biết” hơn để con người có thể được tăng trưởng niềm tin hay xác tín hơn thì chung qui vẫn là Hồng Ân. Hạnh phúc thay!
Có người đã thắc mắc về thứ tự của Chúa Ba Ngôi trong ba năm chuẩn bị Đại Năm Thánh: Chúa Kitô, Chúa Thánh Thần, “rồi” mới đến Chúa Cha? ÐTC Gioan Phaolô II đã giải thích về thứ tự này rằng chúng ta sẽ “Từ Ðức Kitô và qua Ðức Kitô, trong Đức Chúa Thánh Thần, (để) đến với Ðức Chúa Cha.” (TMA 55).
LM. Phaolô Nguyễn Văn Tùng
Hơn mọi thế hệ nhân loại khác, con người hôm nay đã và đang được vinh dự đưa thế giới, và giáo hội, hành trình vào một thiên kỷ mới, thiên kỷ thứ ba của lịch sử Kitô giáo. Ðể chuẩn bị cho mốc thời gian vô cùng quan trọng này (năm 2000) và cũng là Ðại Năm Thánh, vị chủ chăn của giáo hội Công Giáo lúc bấy giờ, Chân Phúc (Á Thánh) Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, đã đề nghị ba năm chuẩn bị: 1997-1999. Mỗi năm, giáo hội đăc biệt suy niệm về một trong Ba Ngôi Thiên Chúa. Năm 1997: Ðức Chúa Con, Giêsu Kitô; 1998: Ðức Chúa Thánh Thần; và 1999: Ðức Chúa Cha.
Tuy nhiên sự hiểu biết của con người về Ðức Chúa Thánh Thần, Ngôi Ba Thiên Chúa, xem ra bị giới hạn nhiều do chính bản chất hữu hạn trong khả năng suy tư của nhân loại. Các giáo huấn của giáo hội về Ngài, cách minh bạch (explicitly) hay hàm ẩn (implicitly), cũng chỉ chính thức được đặt trong khuôn khổ của Kinh Thánh.
Từ thuở sơ khai của giáo hội, các Thánh Phụ, thần học gia, văn gia Kitô giáo; dưới sự hướng dẫn của quyền bính giáo huấn chính thức và cao nhất của giáo hội (Magisterium); đã từ từ làm minh bạch những linh ứng hàm ẩn nguyên thủy. Nhờ vậy, theo đà thời gian giáo hội tiến sâu hơn, am tường hơn về những điều giáo hội đang có để rồi chính thức hình thành đức tin. Người Công giáo đã luôn luôn tin rằng Ðức Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa, một Ngôi Vị riêng biệt trong Chúa Ba Ngôi, vĩnh cửu, đồng bản thể (Consubstantial), và cùng một uy quyền (Co-omnipotent) với Ngôi Cha và Ngôi Con. Ðiều này đã được tuyên xưng trong những bản kinh Tin Kính cổ thời nhất của giáo hội (Denz 1-75), trong đó có bản Creed of Epiphanius (D. 42-45), bản Athanasian Creed (D. 75-76), rồi đến hai kinh Tin Kính thời danh: Nicene (D. 125-126) và Constantinopolitan (D. 150). Tuy nhiên, giáo hội thuở ban đầu đã chưa trình bày cách rõ ràng về phương cách đưa đến sự hiện hữu của Đức Chúa Thánh Thần (tiếng La Tinh: procedere, Anh ngữ: procession, có người đã dịch qua tiếng Việt bằng một từ khá chính xác là ‘nhiệm xuất’); nguồn gốc của nhiệm xuất; và vai trò của Ðức Chúa Con trong nhiệm xuất này.
Xin mở dấu ngoặc để nói thêm rằng: Trong bản dịch kinh Tin Kính (Nicene) của tiếng Việt, mà các Kitô hữu luôn tuyên xưng trong thánh lễ ngày Chúa Nhật; ủy ban dịch thuật đã chỉ “đơn giản” trình bày việc “nhiệm xuất” của Đức Chúa thánh Thần là: “Người bởi Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con mà ra…” Tuy đúng về ý nghĩa, nhưng những chữ “bởi…mà ra” dường như đã chưa diễn tả hết được sự thánh thiêng trong việc “nhiệm xuất” của Đức Chúa Thánh Thần. Dùng chữ “nhiệm xuất”, sẽ giúp người ta hiểu rõ hơn rằng Đức Chúa Thánh Thần “bởi Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con mà ra” trong một cách nhiệm mầu.
THỜI CÁC GIÁO PHỤ
Các thánh Clement of Rome (c.95) và Ignatius of Antioch (d.107) hội nhập Ðức Chúa Thánh Thần và hai Ngôi Cha, Con thành Một Chúa. Justin Martyr (d.c.167) và Athenagoras (c.177) đã dựa vào công thức Rửa Tội (Mt.28:19) để dạy rằng Thánh Thần (Spirit) cũng là Chúa. Ông Tertullian (d.c.222) thêm rằng Ðức Chúa Thánh Thần (ÐCTT) nhiệm xuất từ Ðức Chúa Cha (ÐCC) qua Ðức Chúa Con (Ðcc). Gregory Thaumaturgus nhấn mạnh đến sự bất khả phân ly của Ba Ngôi. Thánh Athanasius (373) minh chứng rằng ÐCTT có cùng sự liên kết với Ðcc, cũng như Ðcc liên kết với ÐCC. Thánh Cyril of Jerusalem (386) nói đến việc đồng bản tính (nature) của Ba Ngôi và việc ÐCC hành động qua Ðcc trong ÐCTT.
Ở Ðông Phương các thánh Basil (c.397), Gregory of Nazianznus (c.390), và Gregory of Nyssa, em của thánh Basil (c.394) đã đi xa hơn một chút để nói rằng ÐCTT nhiệm xuất (proceeds), chứ không “được sinh ra mà không phải được tạo thành” (begotten, not made) như Ðcc.
Phía Tây Phương, thánh Augustine (430) phát triển tín lý về ÐCTT là Thiên Chúa, bởi ÐCC và Ðcc mà ra trong cùng một căn nguyên (principle) như sự hiệp nhất của các Ngôi Vị trong tình yêu. Vào cuối thế kỷ thứ VII, thánh John Damascene viết rằng ÐCTT không phải là con của ÐCC, nhưng là Thánh Thần (Spirit) của Ngài và của Ðcc. Những giảng dạy này của các thánh phụ đã phát triển theo đà thăng tiến và trưởng thành của giáo hội để sau này trở thành những giáo huấn chính thức trong các công đồng.
CÔNG THỨC CỦA CÁC CÔNG ÐỒNG
Công Ðồng Constantinople I năm 381 đã lên án bè rối Macedonians hay Pneumatomachoi (Denz 151). Năm 382 thánh Giáo Hoàng Damasus đã trình bày văn bản thời danh của ngài: “Tome of Damasus” theo đó, ngài hợp thức hóa hầu hết những điều đã trình bày ở trên và kết luận rằng tất cả mọi loài thụ tạo phải phụng thờ ÐCTT như họ phụng thờ ÐCC và Ðcc (Denz 153-174).
Năm 675, công đồng Toledo XI đã đề nghị: “Chúng tôi cũng tin rằng ÐCTT, Ngôi Ba, là Thiên Chúa và là Một, cũng như cùng năng quyền với ÐCC và Ðcc, một bản thể, một bản tính. Tuy nhiên, Ngài không được sinh ra mà cũng chẳng phải được tạo thành, nhưng nhiệm xuất từ ÐCC và Ðcc và là Thánh Thần của cả hai Ngôi Vị ấy. ÐCTT đã không được sinh ra (begotten) cũng chẳng phải được sinh ra lần nữa (unbegotten): E rằng, nếu chúng tôi nói Ngài được sinh ra lần nữa thì phải thêm rằng Ngài có đến hai người Cha! Và nếu nói được sinh ra thì dường như chúng tôi đang dạy rằng đã có hai người Con. Ngài được gọi là Thánh Thần, không chỉ bởi ÐCC, cũng không chỉ bởi Ðcc nhưng cùng bình đẳng bởi ÐCC và Ðcc. Ngài nhiệm xuất không phải từ ÐCC đến Ðcc, cũng không phải từ Ðcc để thánh hóa tạo vật; nhưng Ngài đã chứng tỏ nhiệm xất từ hai Ngôi Vị một cách bình đẳng, vì Ngài đã được nhận biết như là tình yêu và sự thánh thiêng (sanctity) của cả hai. Do đó ÐCTT được tin rằng đã được sai đi bởi cả hai, như Ðcc đã được ÐCC sai đi; nhưng ÐCTT không được kể là thấp kém hơn ÐCC và Ðcc, trong cách thức mà Ðcc, bởi vì Ngài đã mặc lấy nhân tính, tự nhận là đã thấp kém hơn ÐCC và ÐCTT.” (Denz 572).
CHỮ FILIOQUE
Các thánh phụ Ðông Phương từ lâu đã dạy rằng ÐCTT đã nhiệm xuất từ ÐCC qua (through) Ðcc, (thần học của ông Tertullian như đã trình bày ở trên). Ðiều này đã khác với giáo huấn của các thánh phụ Tây Phương và là một trong những khởi điểm cho cuộc phân chia sau này. Ở Tây Phương, trong bản tuyên xưng đức tin ở công đồng Braga IV (675), các thánh phụ đã chính thức dùng chữ La Tinh “Filioque, có nghĩa: và Đcc” để tuyên xưng rằng ÐCTT đã nhiệm xuất từ ÐCC và (and) Ðcc (Qui ex Patre Filióque procédit. Theo giáo huấn của thánh Augustine). Dần dần bản tuyên xưng đức tin trên đã được xử dụng trong các nhà thờ Tây Phương. Ðối với tòa thánh Roma, mặc dù đã công nhận chữ Filioque nhưng chỉ chính thức đưa chữ này vào phụng vụ từ năm 1013. Công Ðồng Lateran thứ IV (1215) đã kết án bè rối Albigenses và các bè rối khác, đồng thời minh định rằng: “... chỉ có một Chúa thật... ÐCC, Ðcc và ÐCTT: thực sự là ba ngôi vị, nhưng cùng một bản chất (essence), bản thể (substance), hay bản tính (nature) thật là đơn giản... ÐCTT đã cùng nhiệm xuất từ ÐCC và Ðcc một cách bình đẳng.” (Denz 850).
Công đồng Lyon thứ II (1274) minh định: “Chúng tôi tuyên xưng rằng ÐCTT từ thuở đời đời đã bởi ÐCC và Ðcc, không phải bởi hai căn nguyên (principles) nhưng chỉ bởi một căn nguyên; không bởi hai nhiệm xuất nhưng là một... Chúng tôi lên án và ra vạ những ai từ chối không tin rằng ÐCTT từ muôn thuở đã nhiệm xuất từ ÐCC và Ðcc; hay những ai dám tuyên bố cách vô trách nhiệm rằng ÐCTT đã nhiệm xuất từ ÐCC và Ðcc như từ hai căn nguyên chứ không phải từ một căn nguyên.” (Denz 850). Công đồng kết luận: “Chúng tôi tin rằng ÐCTT, hoàn toàn và đầy đủ là Chúa thật, nhiệm xuất từ ÐCC và Ðcc, cùng bình đẳng, cùng bản thể, cùng uy quyền, và cùng hằng hữu với ÐCC và Ðcc trong mọi sự.” (Denz 853). Công đồng Florence (1349-45) dạy rằng Ba Ngôi Thiên Chúa chỉ là một Chúa chứ không phải ba Chúa. Ba Ngôi hoàn toàn ở trong nhau, nhưng vẫn giữ sự khác biệt. Ba ngôi chỉ có một căn nguyên chứ không phải ba căn nguyên. (Denz 1332).
PHƯƠNG THỨC NHIỆM XUẤT
ÐCTT đã nhiệm xuất từ ÐCC và Ðcc như thế nào thì giáo hội chưa buộc phải là vấn đề của đức tin. Có nghĩa là phương thức nhiệm xuất của ĐCTT đã ở ngoài tầm tri thức của con người và là một mầu nhiệm (mystery); cũng như mầu nhiệm về Đcc “được sinh ra mà không phải được tạo thành – Genitum, non factum - begotten, not made” (nói như thế để có ý phân biệt với sự “được tạo thành” và sự “được sinh ra” cách tự nhiên của các loài thụ tạo trên trái đất). Tuy vậy, các thần học gia vẫn cố gắng giải thích và công nhận rằng Ðcc được sinh ra (begotten) bởi thần trí của ÐCC. ÐCTT nhiệm xuất (proceeds) từ tình yêu hỗ tương và ý muốn của ÐCC và Ðcc. Công đồng Toledo XI lập lại giáo huấn của thánh Augustine rằng ÐCTT nhiệm xuất từ ÐCC và Ðcc bởi vì Ngài là tình yêu và là thánh linh của cả hai Ngôi Vị. (Denz 527).
Giáo lý của Công đồng Trent (1545-63) dạy rằng ÐCTT nhiệm xuất từ thần ý bừng dậy bởi tình yêu. ÐGH Lêo XIII viết trong tông huấn Divinum Illud Munus rằng ÐCTT là tình yêu giữa ÐCC và Ðcc (Denz 3326). Cả hai ÐGH Lêo XIII và Piô XII cùng dạy rằng ÐCTT là linh hồn của giáo hội, là nhiệm thể của Chúa Kitô và ngự trị trong tâm hồn người tín hữu đang sống trong ân sủng của Chúa. (Denz 3807-08). Ðiều này không có nghĩa ÐCC và Ðcc không cùng ban sự sống cho Nhiệm Thể. Nhưng tác động này xứng đáng dành cho ÐCTT vì hành động thánh hóa Nhiệm Thể và tâm hồn người tín hữu mang cá tính đặc biệt của ÐCTT là yêu và thánh hóa. Tín lý về ÐCTT tiếp tục được phát triển qua những nghiên cứu của các thế hệ thần học gia kế tiếp như thánh Thomas Aquinas, Peter Lombard, những người được gây hứng khởi bởi giáo huấn chân chính của giáo hội.
NGƯỜI KITÔ HỮU CỦA THIÊN KỶ THỨ BA
Ðể chuẩn bị cho các Kitô hữu bước vào Thế Kỷ thứ XXI và cũng là Thiên Kỷ thứ Ba, đặc biệt là cho thế hệ sẽ cầm vận mệnh của nhân loại mai ngày, giáo hội Mẹ đã ân cần hướng dẫn họ qua những giáo huấn chân chính. Một trong những tài liệu hướng dẫn chính thức đặc biệt về Chúa Thánh Thần vào năm 1998, năm “dành riêng” cho Ngài, là tập bằng tiếng Ý: “Del tuo Spirito, è piena la terra” (tạm dịch là “Thánh Thần của bạn, và làm tràn ngập trái đất”) do ủy ban thần học và sử học của Ðại Năm Thánh 2000 soạn. Tập này đã được Agostino Bono dịch qua tiếng Anh mang tựa đề: “The Holy Spirit, Lord and Giver of Life” (Ðức Chúa Thánh Thần, là Chúa và là Ðấng ban Sự Sống) do nhà xuất bản Crossroad Publishing ở New York ấn hành năm 1998. Ðây là một tập tài liệu rất hoàn bị mà tất cả những ai muốn tìm hiểu thêm về Đức Chúa Thánh Thần đều cần phải đọc. Dù vậy, các thần học gia và sử gia nói trên vẫn phải khiêm nhường nhìn nhận rằng tập tài liệu này “không nhằm trình bày một tín lý đầy đủ về ÐCTT... nhưng chỉ là một dụng cụ để suy gẫm...cầu nguyện...và cùng lúc giúp thêm cho việc giảng dạy giáo lý.” (Trg.12). Các vị ấy ước mong rằng tập tài liệu nói trên sẽ cống hiến một nét đại cương để suy tư và am tường hơn về những giáo huấn của Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II.
ÐTC Gioan Phaolô II, vị “tân” Chân Phúc (Á Thánh) của Giáo Hội, đã dạy những gì? Trước hết: “Năm 1998, năm thứ hai của giai đoạn chuẩn bị, sẽ được dâng hiến trong cách đặc biệt cho ÐCTT và cho sự hiện diện thánh hóa của Ngài trong cộng đồng môn đệ của Chúa Kitô.” (Tông thư Tertio Millennio Adveniente, (TMA), đoạn 44). ÐTC còn dựa vào các giáo huấn của công đồng Vatican II, theo đó: “Giáo hội không thể chuẩn bị cho Ðại Năm Thánh trong bất cứ cách nào khác hơn là trong Chúa Thánh Thần.” (Hiến chế Dei Verbum, 51). Vì vậy: “Những tác động tiên khởi của việc chuẩn bị cho Ðại Năm Thánh phải kể cả việc đổi mới lòng biết ơn sự hiện diện và hành động của Chúa Thánh Thần, Ðấng tác động trong lòng giáo hội qua các bí tích, đặc biệt là bí tích Thêm Sức, và qua nhiều đặc sủng (charisms), công việc, và tác vụ mà Ngài linh ứng cho sự thiện hảo của giáo hội.” (TMA, 45). ÐTC tiếp rằng quyền giáo huấn chính thức của giáo hội (Magisterium) trong hiện tại ước mong làm chỗi dậy “sự nhậy cảm gia tăng trong tất cả rằng Chúa Thánh Thần đang truyền đạt cho giáo hội (hoàn vũ) và các giáo hội (địa phương)” (cf. Rev. 2:7), cũng như cho những tín hữu qua các ơn thiêng nhằm phục vụ toàn thể cộng đồng. Mục đích là nhấn mạnh điều Chúa Thánh Thần đang truyền đạt cho các cộng đồng khác nhau, từ những cộng đồng nhỏ nhất, như gia đình, đến những cộng đồng lớn nhất, như các quốc gia và những tổ chức quốc tế, bao gồm những nền văn hóa, những xã hội, và những truyền thống sâu sắc. Mặc dù có những khác biệt, nhân loại tiếp tục chờ đợi sự mạc khải của những con cái Chúa và sống bởi niềm hi vọng này, như người mẹ trong cơn lâm bồn, dùng hình ảnh mà thánh Phaolô đã xử dụng cách mạnh mẽ trong thư gửi các tín hữu Roma của ngài (xem Rom. 8:19-22) (TMA, 23).
Ủy ban soạn thảo tập tài liệu nói trên đã thêm rằng: “Nói về Chúa Thánh Thần không phải là dễ. Trong khi những chữ “Cha” và “Con” dùng cho hai Ngôi trước của Thiên Chúa Ba Ngôi gợi nên điều thuộc về “con người” và rất quen thuộc; trong khi chữ “Thánh Thần” ám chỉ trên hết theo ngôn ngữ Kinh Thánh là “thở hơi” và “gió.” ÐCTT không phải chỉ là “sức mạnh” của Chúa nhưng Ngài còn là một trong Ba Ngôi Thiên Chúa. Vì vậy: “Thay vì bận rộn tìm hiểu ÐCTT là ai, tập tài liệu này sẽ dẫn giải ‘ÐCTT làm gì cho chúng ta’.” (Trg. 12). Người đọc sẽ được hướng dẫn qua những tương quan của ÐCTT trong mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, với cuộc sáng thế, với nhân loại, với Chúa Kitô, với giáo hội, với Ðức Maria; ÐCTT trong phụng vụ, trong đời sống của các Kitô hữu, và cuối cùng là mầu nhiệm cánh chung (Eschatological) với ÐCTT như một bảo đảm cho sự phục sinh.
Chính vì sự khó hiểu về ÐCTT mà đôi khi dường như con người đã “lãng quên” Ngài trong tâm trí của họ. Phải chăng điều này đã xảy ra trong chính lời cầu nguyện hằng ngày mà giáo hội đã dạy: “Chúng con cầu nguyện nhờ Ðức Kitô Chúa chúng con.” (We ask this through Christ our Lord?) Chúa Thánh Thần đã chỉ được “hiểu ngầm” là có “liên quan” trong câu kết của lời cầu nguyện này. Đôi khi ÐCTT cũng được nhắc tới như trong lời chào đầu lễ của vị Linh mục: “...và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần, ở cùng anh chị em.” Nhưng xem ra vẫn còn qúa ít. Giáo hội có nên kết những lời cầu nguyện bằng câu: “Chúng con cầu nguyện, qua Chúa Kitô và trong Chúa Thánh Thần. Amen?”
Thực ra, con người không thể tiến đến với Thiên Chúa nếu không ở trong Đức Chúa Thánh Thần (in the Spirit). Sống trong ÐCTT, cách đơn giản, có nghĩa là sống đời Kitô hữu, tin và “biết” Thiên Chúa mà Ðức Kitô đã mạc khải. Tái tìm hiểu, hay tìm hiểu nhiều hơn, về ÐCTT và làm cho mọi người hiểu về Ngài, trong những năm tiếp theo Ðại Năm Thánh (2000) là một nỗ lực lớn để “Phúc âm hóa” thế gian vậy. Gần đây, nhiều nhà thần học đã tự hỏi rằng phải chăng giáo hội đã và đang đi vào một thời đại mới mà Ngôi Ba Thiên Chúa sẽ mạc khải nhiều hơn cho nhân loại, hoạt động tỏ tường hơn để chuẩn bị cho cuộc giáng lâm lần thứ hai của Chúa Kitô? Tuy những “việc Chúa làm” luôn là mầu nhiệm, luôn thánh thiêng đối với con người, nhưng những gì Thiên Chúa giúp nhân loại “hiểu và biết” hơn để con người có thể được tăng trưởng niềm tin hay xác tín hơn thì chung qui vẫn là Hồng Ân. Hạnh phúc thay!
Có người đã thắc mắc về thứ tự của Chúa Ba Ngôi trong ba năm chuẩn bị Đại Năm Thánh: Chúa Kitô, Chúa Thánh Thần, “rồi” mới đến Chúa Cha? ÐTC Gioan Phaolô II đã giải thích về thứ tự này rằng chúng ta sẽ “Từ Ðức Kitô và qua Ðức Kitô, trong Đức Chúa Thánh Thần, (để) đến với Ðức Chúa Cha.” (TMA 55).
LM. Phaolô Nguyễn Văn Tùng