Người mù từ khi mới sinh là một cấu tạo tự nhiên, không y khoa nào có thể chữa khỏi. Người mù bẩm sinh này đã được nghe nói về Chúa Giêsu và hôm nay, anh đã làm mọi cách để đến được với Chúa và xin Chúa Giêsu chữa cho anh được khỏi mắt. Ngay khi anh được sáng thì bắt đầu có một cuộc tra vấn anh rất nghiêm khắc. Những người trong giới lãnh đạo Do Thái đặt ra đủ mọi nghi vấn. Trước hết là nghi có sự hoán đổi giữa những người mù bẩm sinh và những người giống như anh ta. Thứ hai là có đúng anh ta bị mù bẩm sinh không?. Họ gặp anh mù và gặp cả cha mẹ của anh để chất vấn. Tất cả những hoài nghi đó đều không có căn cứ, bởi sự xác quyết chân thật của cha mẹ anh cũng như của chính anh.
Một điều mà chúng ta chú ý ở đây không phải là việc anh mù bẩm sinh được sáng mắt hay không sáng mắt, vì sự việc đã quá rõ ràng. Nhưng những người của giới lãnh đạo Do Thái thì cố gắng lái sự thật theo ý riêng của họ. Trước hết là họ khẳng định Chúa Giêsu, người chữa bệnh cho anh ta, là một người tội lỗi vì đã làm vào ngày Sabbat. Chúng ta thấy người mù bẩm sinh, từ khi anh được sáng mắt, anh cũng sáng lên trong đức tin và mức độ sáng ấy song song với việc làm chứng cho một Đấng mà đến lúc đó anh ta vẫn chưa được gặp Ngài. Rằng: “Nếu người đó không bởi Thiên Chúa thì làm sao có thể mở mắt người mù từ khi mới sinh” (x. Ga 9,32-33). Một lý luận đơn giản và một xác quyết về một sự thật rõ ràng khiến cho những người trong giới lãnh đạo Do Thái phải lúng túng. Họ quay lại để chỉ trích anh: “Mày sinh ra trong tội mà mày dám dạy chúng ta ư?” (Ga 9, 34). Một quan niệm Do Thái hồi đó: những người dị tật, những người son sẻ đều bị kết án là những người sinh ra trong tội. Thật là đau đớn và kỳ thị. Điều quan trọng là người mù bẩm sinh này đã dám lên tiếng. Anh ta lên tiếng để dám nói với những người trong hội đồng Do Thái rằng anh đã được khỏi mù và rằng “Những người đến từ Thiên Chúa mới có thể làm được điều đó” (x. Ga 9,31). Người ta hỏi anh ta: “Anh nghĩ gì về người đã mở mắt cho anh?”. Anh mạnh mẽ tuyên bố: “Người đó là một tiên tri” (x.Ga 9,17). Đối với người Do Thái việc đặt niềm tin vào tiên tri là lớn nhất, cho nên anh mù bẩm sinh đã đạt tới độ tin cậy lớn nhất của người Do Thái lúc ấy, về Đức Giêsu là một tiên tri. Trong khi giới lãnh đạo Do Thái đã đồng lòng trục xuất khỏi hội đường kẻ nào dám tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Kitô. Người mù bẩm sinh này không phải là không biết điều đó, nhưng anh đã mạnh dạn làm chứng về một sự thật và trước một sự thật rõ ràng như thế, họ chẳng có thể bắt bẻ được điều gì, người ta chỉ còn có một cách là đuổi anh ta ra ngoài. Ngay khi anh ra ngoài, anh được tiến lên một bước nữa trong đức tin của mình. Đó là anh không chỉ gặp một tiên tri, mà anh được gặp chính Đấng Messia - Đức Giêsu Kitô. Ngài hỏi anh: “Anh có muốn tôn thờ Thiên Chúa không?” Anh đã thưa với Ngài: “Nhưng Người là ai để tôi tin?”. Đức Giê su trả lời: “Là Đấng đang nói với anh đây”. Đúng là người mù này đã sáng lên trong mắt đức tin !
Với những người Do Thái cố chấp, khi chứng kiến phép lạ Chúa làm, họ bảo: “Ông này dùng quyền của tướng quỉ Benzebut mà trừ quỉ”(x.Lc 11,14-15). Chúa Giêsu xưng mình là Con Thiên Chúa, họ kết luận Chúa là phạm thượng. Họ giương bẫy, họ chất vấn trực tiếp Chúa Giêsu và đã hơn một lần họ bị câm lặng. Chừng ấy mà họ vẫn tìm mọi cách để bắt và thậm chí còn âm mưu giết Chúa Giêsu. Trong khi người mù bẩm sinh này chỉ nghe nói đến Giêsu và khi người đó đứng trước mặt anh, không chỉ xưng danh mà còn xưng là Con Thiên Chúa đang nói với anh thì anh ta đã lập tức thốt lên: “Lạy Thầy, con tin” và anh ta sấp mình thờ lạy. Một đức tin đơn sơ, trực giác và mạnh mẽ như vậy thật xứng đáng được Chúa chữa cho anh khỏi mù. Đó chính là điều mà chúng ta nhận được một sứ điệp từ việc chữa mù mắt cho anh ta, rằng: “Chính là để xét xử mà Ta đã đến trong thế gian để người mù được xem thấy và người xem thấy lại nển mù” (Ga 9,39). Đúng là Chúa đến để mở mắt những người mù và lại làm cho những người kiêu căng lại trở nên đui mù, những người biệt phái tự tự ái và vì tự ái, họ lại một lần nữa nhúng chàm. Rằng: “Ông nói như vậy thì chúng tôi mù cả sao?”. Chúa Giêsu xác quyết một điều kết luận còn mạnh mẽ hơn nữa: “Nếu các ông mù thì tội các ông được tha. Nhưng vì các ông bảo các ông không mù thì tội các ông còn đó” (Ga 9,41). Điều này cho chúng ta thấy, mù hay không mù nơi con mắt thể là lý không quan trọng cho bằng mù hay không mù con mắt của lương tâm, con mắt của tâm hồn. Người mù bẩm sinh này có một con mắt đức tin trong sáng trong tâm hồn, cho nên Chúa đến để mở mắt thể lý cho anh và anh đã trở nên chứng nhân của Đức Kitô. Trong khi đó, những người giới chức lãnh đạo Do Thái xưng mình là những người hiểu biết và thông tuệ thì hôm nay Chúa kết luận cho họ thấy rằng tội của các ngươi còn đó. Với cách nói của Chúa Giêsu, chúng ta hiểu rằng, họ mới chính là những người mù bẩm sinh vì cố tình đi theo một ý riêng của mình.
Chúng ta đang đánh giá về một thời đại cách đây 21 thế kỷ, nhưng những gì mà chúng ta bình luận hôm nay lại cũng đang diễn ra ở giữa thời đại của chúng ta. Tục ngữ Việt Nam nói: “Việc người thì sáng, việc mình thì quáng” không thiếu những người nghĩ rằng mình sáng suốt thì lại trở nên đui mù trước chân lý đời đời, và những người đơn sơ bé mọn, những người bị coi là mê tín lạc hậu thì lại nhìn rõ chân lý ngàn đời. Vì vậy, hơn bao giờ hết, tiếng nói của lương tâm, ánh sáng của tâm hồn, niềm vui thanh cao của những tâm hồn sạch tội đang được đề cao. Ước gì Giáo Hội hôm nay luôn luôn có những con cái với ánh nhìn thanh cao, với tâm hồn trong sáng và với một đức tin mạnh mẽ. Họ làm chứng cho thế giới thấy Đức Giêsu Kitô đang hiện diện ở giữa trần gian này và Người đang tiếp tục mở mắt những người mù để nhận ra lòng thương xót vô biên của Chúa, đồng thời ánh sáng chói chan ấy cũng sẽ làm chói mắt những kẻ nào vốn đã mang một cái mắt bị thương tật trong linh hồn là những người đau mắt ghét sự sáng.
Lạy Chúa Giêsu Kitô,
Chúa là ánh sáng đến trong thế gian.
Xin đừng để chúng con chói mắt vì sự sáng.
Nhưng xin cho chúng con hạnh phúc
vì được có ánh sáng của Chúa,
để chúng con không đi trong bóng tối tăm
và không đi trong lầm lạc.
Ánh sáng của Chúa dẫn đưa chúng con
về bến bờ hạnh phúc,
về sự sống đời đời
và về Nước Tình Yêu vĩnh cửu của Chúa. Amen.