Nhận định.
Dùng cây tre trong thiên nhiên, để diễn đạt một hình ảnh, một con đường tu đức, một triết lý để sống là một cách hoà với thiên nhiên, một thiên nhiên của con người, cùng với con người tìm ra lẽ sống.
“Trúc biếc, hoa vàng, đâu cảnh khác. Trăng trong, mây bạc, hiện toàn chân”1
Không ai là người không biết đến cây tre, cây tre trồng trong mảnh đất vườn nhà, cây tre mọc ở góc xóm, xanh tươi ở con đường làng, che mát một khoảng cánh đồng xanh. Bàng bạc hình ảnh cây tre buổi trưa hè, luỹ tre cản cơn gió Đông, làm mát cơn gió nồng. Thân thiết và gần gũi như tâm hồn tôn giáo Việt; thanh thoát và vươn cao như linh đạo tu trên Đất Việt, mà những suy nghĩ sau đây muốn trình bày.
1. Tôn giáo trên đất Việt.
Mảnh đất tôn giáo trên đất Việt, bàng bạc như sương như khói, sương khói không ở đâu xa, ngay trong những gia đình nơi làng xóm, bên những vệ đường, nơi những gốc cổ thụ già. Khắp nơi, ở đâu, người ta cũng thấy một áng mây khói toả ra từ những nén hương nhang, như lòng thành kính linh thiêng bao trùm tâm hồn dân Việt. Khi khởi công đi tìm nguồn gốc, ngọn ngành tâm linh trên đất Việt, Linh Mục Cadière nhận thấy rằng:
“Tôn giáo người Việt, ở đây chúng tôi dùng số ít, cho thấy một cảm giác như khi lạc vào trong núi rừng Trường Sơn: Đây đó những thân cây khổng lồ, rễ ăn sâu và lan rộng không ai biết, bộ rễ ấy chịu đựng cả những tán cây thật lớn, phủ xanh một vùng bóng mát; những cành cây có khi lại sà xuống sát mặt đất lại đâm những rễ ngang dọc; các bộ dây leo nối kết những tàn cây, giữa những cây này sang cây khác, có khi chẳng biết gốc rễ từ đâu và cứ như thế kéo dài như vô tận. chen chúc nhau đủ loại loài ngấy, loài dum, chẳng biết đâu là đường đi lối vào; xuất hiện bên cạnh những gốc già nua lại là những chồi non hiếm thấy, những bông hoa kỳ diệu. có thứ hoa nở sát đất, có hoa nở chót vót trên cao, có loại hoa nở xen kẽ giữa những nhành cây; màu sắc chen lẫn giữa những gốc cây xám xịt,những màu vỏ cây rỗng mục, những cành khô, duới gốc là lớp phân thổ, thối mục, đó là phần tinh tuý, nuôi dưỡng sự sống các loài cây.
Cũng vậy, tâm thức tôn giáo của người Việt trong các tầng lớp xã hội như nhựa sống nuôi dưỡng bao nhiêu tâm hồn Việt. Tâm thức tôn giáo biểu hiện trong mỗi hành vi thường ngày, qua rất nhiều cách thức khác nhau trong đời sống thực hành. Có khi tâm thức tôn giáo được biểu lộ qua những hình thức trang trọng, tổ chức công khai; có khi âm thầm lặng lẽ bên từng gốc cây cổ thụ, hoặc kín đáo trong những hốc đá. Lúc thì với cung nhạc trầm nổi, lúc thì âm thầm lặng lẽ bằng những hành vi cúi đầu. khi thì nghiêm trang bái lạy, cung kính trong bộ áo lễ nghi; khi thì âm thầm tìm đến vị bói toán mù loà, cô đồng, cô bóng trong hương khói huyền bí, hoặc tìm đến thầy bùa, thầy pháp, bói quẻ chân gà, xin xâm. Họ dâng hoa thơm lên chư Phật, Tam Bảo, Đức Từ Bi, nhưng họ cũng bái lạy trước những hình tượng nhăn nhó, thờ hổ, thờ rắn, hoặc may miệng người chết, cho xác ngậm kim, đinh, bọc lưới để tránh hiểm hoạ. Ma thuật với những thực hành kỳ quái, man dã ấy hoà trộn thành một tôn giáo huyền bí. Khó lòng mà nghiên cứu cách tượng tận ngọn gốc của tâm linh Việt, giống như lạc vào khu rừng lớn, khó nhận biết được nguồn gốc tất cả mọi loài.
Tôn giáo Việt là thế đấy, vừa có những đỉnh cao của các tôn giáo thượng đẳng, vừa có tính chất của các tôn giáo sơ khai, nguyên thuỷ” 2
Nhận định của cha Cadìere thật chính xác, nói đến tâm linh Việt là nói đến tâm linh tôn giáo bàng bạc trong các hành vi của đời sống thường nhật, người Việt không sống xa cách thần linh, thần linh có trong đời như hơi thở cần thiết cho sự sống. Người Việt không sống xa cách sự vật, không sống xa cách với thiên nhiên, tất cả đều sống trong mức hài hoà với vạn vật, biểu hiện nếp sống quân bình giữa âm dương, thứ lớp như trong ngũ hành, đi đến sâu thẳm Hồng Phạm và đạt tới vô biên. Cõi vô biên vì thế, không xa, rất gần với cuộc sống. Giống như luỹ tre vươn lên giữa những cánh đồng xanh mà không xa với đồng xanh, vươn cao lên cõi thiên mà không xa rời với đạo nhân. Khổng Tử nói: “Đạo bất viễn nhân, nhân chi vi Đạo nhi viễn nhân, bất khả dĩ vi Đạo”.
Tôn giáo trên đất Việt nở rộ, không đâu nhiều nhà thờ cho bằng trên Đất Việt, mỗi gia đình là một nhà thờ thu nhỏ, ở đó người Việt thực hiện niềm tin của mình. Trong mỗi ngôi nhà đều có bàn thờ tiên tổ, mỗi sáng sớm hay khi khuya về vẫn đầy ắp nhang khói, lòng thành tâm mến được biểu lộ dồi dào như rừng tre khóm trúc. Mỗi một chiếc nhang là một phần của thân tre được chẻ ra vót đều để thắp nên niềm tin mến. Người Việt sống tôn giáo của mình một cách tự nhiên, không hình thức mà cả tấm lòng. Nếu có thể diễn tả bằng hình ảnh cây tre thì cũng cần nói, khi biết sống thẳng khi uốn mình cung kính. Cho nên, để sánh ví với lòng thành kính ấy người Phật Giáo mượn hình ảnh cành lá trúc rũ bóng trước Phật từ bi. Mềm mại và dễ thương biết mấy tâm hồn tôn giáo Việt.
Cuộc sống người dân quê đất Việt ý thức mình tuỳ thuộc vào Trời hơn ai hết, chính yếu vì đời sống nghèo khó của họ, hằng năm hai vụ mùa, thất bát vụ nào cũng dẫn họ tới tình trạng đói nghèo. Làm ruộng rẫy, chủ yếu là nhờ sự cần lao, sức lao động, đầu đội trời mặt đối nước, người ta thường nói câu thành ngữ “bán lưng cho trời” là theo ý đó. Những mảnh ruộng vừa được tưới bằng nườc từ dòng sông vừa được tưới bằng những giọt mồ hôi, một vụ mùa nhờ ơn gió thuận mưa hoà, mới đủ sống cho đến vụ mùa kế tiếp. Đời nghèo khó vì thế, biết cậy vào ai ngoài Trời là Đấng minh xét. Thuận đạo trời là giữ đạo nhân, người Việt biết sống uyển chuyển, khi trời thuận thì biết sống cứng cáp như khóm tre vươn cao, những khi khốn khó biết rạp mình như luỹ tre khom mình trước giông bão. Vì thế, giống tre không khi nào bị bật gốc, biết hoà mình với thiên nhiên là biết sống. Tính cách của người Việt từ đó trở nên hài hoà, trọng nhân nghĩa hơn cứng nhắc luật lệ, lấy việc mệnh trời là niềm an ủi: “không ai khó ba đời” và cũng chẳng ai “giàu ba đời”. Cuộc đời thăng trầm thay đổi nối tiếp nhau, hết vuông lại tròn, hết vơi lại đầy. Giữa thăng trầm ấy tìm ý nghĩa mà sống cho nên ý nghĩa.
Nếu một lần về xóm đạo Tha La vùng đất Tây Ninh, có lẽ sẽ không quên được hình ảnh những khóm trúc vây quanh con đường làng và dẫn vào những xóm đạo. Mến thương cả một đời ru nhẹ trong gió, mang hơi thở thầm thì của những lời nguyện kinh, xào xạc những chiếc lá khi gió đemvề theo tiếng chuông.
2. Linh đạo tu trên Đất Việt.
Người Việt do đó, không cần xuất giá vẫn có thể là đi tu, tu thân ngay tại nhà, tu thân giữa dòng đời, tu thân ngay giữa công việc của nhân sinh. Ai cũng cần tu để bớt dần cái xấu và đạt dần đến cao thượng.
Người dân dã quan niệm tu theo ba cấp bậc: Tu nhà, tu chợ, tu chùa. Theo thứ tự cấp bậc đó, người Việt quan niệm rằng tu nhà là thông thường phổ biến nhất, có thuận hoà trong gia đình mới thuận hoà với tha nhân. Tu nhà lấy việc hiếu kính làm chính. Tu chợ, “chợ” có nghĩa ở nơi buôn bán, cũng có nơi hiểu “chợ” là nơi kinh thành, đô thị. Tu “chợ”, như vậy là tu giữa đường đua tranh, giữa những nơi thật giả đan kẽ, giữa những bon chen tìm kiếm của cải, danh lợi, quyền thế. Tu chợ, vì thế rất khó, nhưng chính vì khó như vậy mới chính đáng là đường tu. Tu chợ lấy việc hiếu đễ làm chính. Sau hết mới là tu chùa, tu chùa theo sau những giai đoạn, tu nhà, tu chợ, là đường tu không phải tránh hết việc đời, hoặc hiểu sai lầm cách cơ bản: “Trốn việc quan đi ở chùa”; có những người trốn việc như thế thật, nhưng đó không phải là tất cả, người Phật giáo không giới hạn việc những người phát tâm vào nương náu nhà Phật. Ai cũng có thể tu, để chánh lại giác, chánh lại niệm… Con đường tu chùa cho nên có một ý nghĩa rất lớn, họ là những nười đã từng trải qua những cuộc dâu bể, họ là những người biết cảm thông với sự khổ đau của nhân sinh, biết cảm thương với sự khốn khó, biết nhạy cảm với những ai thất vọng… Tu chùa vì thế, không còn phải là trốn việc quan, nhưng là để cảm thông nhiều hơn với những ai khốn khó, thất vọng trong cuộc đời. Chính vì lẽ ấy, trong những muộn phiền của đời sống, người ta hay tìm đến nhà Phật để tham vấn, để được cõi lòng từ bi của những bậc tu đại lượng rủ bóng. Tu Chùa là một cách nói dành riêng cho những ai đang dấn thân trong đời tu thuộc các tôn giáo, lấy hiếu đễ làm gốc căn tu.
Với thuyết của Hồng Phạm 3, người ta không phải đi tìm Đạo ở nơi xa, cũng chẳng tìm Đạo ở bên ngoài mà tìm Đạo ngay rất gần, như con đường muốn lên cao thì khởi đi từ chỗ thấp, như muốn đi xa khởi đi từ gần. Con đường lên cao vì thế không là quá cao đối với mọi người, con đường đi xa cũng không xa quá đối với mọi người, ai cũng có thể đi, ai cũng có thể lên và cứ bước đi là là kéo xa lại gần, cứ lên từng nấc là cao hơn lên một chút.
Theo cách lên cao, cứ thử nhìn từng đốt tre, cuộc sống là sự trải dần vượt qua những giai đoạn, từ thấp lên cao, mỗi giai đoạn được ghi khắc một dấu, đường càng lên cao lại càng thanh thoát, bớt đi những vẩn đục, bớt đi những tỵ hiềm, bớt đi những ràng buộc. Người ta thường thấy, mỗi khắc dấu đi lên là mỗi khắc dấu nhỏ lại, tu là quên mình, là chấp nhận bé đi để kế thừa được lớn lên. Càng vươn lên càng thêm những cành lá, tranh thủ thêm diệp lục tố mà trao nhựa sống cho những tầng lớp kế thừa. Vừa lên cao lại vừa không xa cách, vừa toả bóng mà vừa không chiếm hữu cho mình. Đạo bất viễn nhân là thế, cho nên con đường tu là gạn đục khơi trong, là làm cho sức sống ngày càng thêm dồi dào.
Với con đường tu thênh thang, mỗi gia đình đều có những vị tư tế, không nơi nào mà nhiều tư tế đến thế. Cha mẹ cung kính dâng chén nước, nén hương, dĩa quả như những vị tư tế cung kính nhất. Lễ vật tuy mọn hèn nhưng đầm ấm tấm lòng của người dành cho gia tiên. P. Mus nhận xét: “người Việt không làm việc, họ tế tự”. Cuộc sống như một cuộc cử hành, đầy trang trọng uy nghi, một bên lòng thành một bên hiến tế. Những quang gánh nặng, những giọt mồ hôi, tất cả là như chắt chiu để dâng trên bàn thờ tiên tổ. Cuộc sống như vậy dù nghèo, đơn sơ, đạm bạc mà không khổ. Vẫn cứ êm ả sáng hương chiều lễ,như những dòng sông xuôi nước bên hàng tre rũ bóng.
Đi tìm hương lễ của dân Việt, người ta gặp được lòng trìu mến chân chất, như lòng thanh dịu mát của những hàng tre, khóm trúc, như lời kinh tự nhẹ nhàng gửi cho gió ngàn thương. Một lần đến và một đời lưu luyến, nhớ những con đường tâm linh đất Việt rợp bóng tre trúc.
(Còn tiếp)
Nhìn lại sau 5 năm Thụ phong Linh Mục.
1. Mật thể dịch, VNPGSL, trang 127.
2. Croyances et Pratiques Relegieuses des VietNamiens, Quyền 1, trang 1- 2.
3. Hồng Phạm là quy phạm của trời đất. Tên một thiên ở trong Kinh Thư.