Ánh Sáng: câu chuyện nhiều tập

1. Để chúng con được Ánh sáng:

Trong Lịch Sử cứu rỗi và trong đời sống của người Kitô hữu hôm nay, quả thật “Ánh Sáng và bóng tối’ là một câu chuyện dài, nói hoài không bao giờ cũ.

Kể từ khi “ánh sáng của vườn địa đàng tắt đi” vì tội lỗi của tổ tông loài người, thế giới phải lặn ngụp đi qua một con đường dài mênh mang phủ đầy bóng tối:

- Bóng tối của huynh đệ tương tàn (Cain giết Aben)
- Bóng tối của hận thù chia rẽ (Tháp Ba ben)
- Bóng tối của thiên tai địch họa (Đại hồng thủy)
- Bóng tối của nô lệ lưu đầy (Nô lệ Ai cập, lưu đầy Babylon)
- Bóng tối của tội lỗi và sự trừng phạt (Sô đô ma)
- Bóng tối bịnh hoạn tật nguyền (Gióp)
- Bóng tối của sự chết, mất mát đau thương (...)

Trong bối cảnh tăm tối lầm than đó, Thiên Chúa đã liên tiếp gióng lên hồi chuông hy vọng qua miệng các sứ ngôn. Đại để là loan báo một Tin Vui: Rồi sẽ có ngày bóng tối sẽ lùi xa để nhường chỗ cho một thế giới mới ngập tràn ánh sáng. Chúng ta đã được nghe sứ ngôn Isaia loan báo trong dịp đại lễ Giáng Sinh: “Đoàn dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, đám người người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi…” (BĐ 1).

Và các sứ ngôn cũng đã xác quyết rằng: ánh sáng đến từ Thiên Chúa trong ngôi vị Đấng Emmanuel, trong thân phận của “một Hài Nhi đã sinh ra cho chúng ta, một Người Con được ban tặng cho chúng ta”…không phải loại ánh sáng loè lẹt tầm thường của trần gian, mà đó chính là:

- Ánh sáng của hồng ân cứu độ: “Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân để ngươi mang ơn cứu độ đến toàn thế giới”.(BĐ 1)
- Ánh sáng của tự do và giải thoát: “Ta đã thấy nổi khổ của dân ta bên Ai Cập và ta muốn giải thoát chúng”
- Ánh sáng của hòa bình, công lý...: “gươm đao thành cuốc thành cày, giáo mác nên liềm hái”
- Ánh sáng của sự thật, chân lý ngự trị “sự nhận biết Thiên Chúa như nước tràn đầy đại dương”.
- Ánh sáng của sự phục hồi, chữa lành: “ThiênChúa sẽ lau sạch nước mắt trên mọi khuôn mặt và cất đi mọi vành khăn tang chế”.

Và Đức Giêsu-Kitô, Đấng là “Ánh sáng thật chiếu soi vào đêm tối trần gian”, là “Lời nhập thể làm người, là “Ánh sáng thật đến thế gian và chiếu soi mọi người...” (Ga 1, 5.9.14),Ngài đã đến và đã hiện thực hóa mọi lời các sứ ngôn tiên báo như chính Ngài đã lolng trọng xác quyết: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe” (Lc 4,21)

- Ngài là Ánh sáng sự sống phục sinh con người từ trong bóng tối cõi chết (La-gia-rô chết 4 ngày, con trai bà góa Naim...)
- Ngài là Ánh sáng của tình yêu tha thứ phục hồi nhân phẩm cho tội nhân để con người đứng lên giã từ bóng tối của tội lỗi lầm lạc mà bước vào đời sống mới trong ánh sáng tin yêu hy vọng (Gia-kê, Lê vi, Người đàn bà ngoại tình, tên trộm bên phải thánh giá, “Người cha nhân hậu đón đợi con về...”)
- Ngài là Ánh sáng chân thiện mỹ chữa lành sự cùi hũi, đui mù, què quặt, điếc lác của tâm hồn và thân xác: để nhân loại từ đây ngẫng cao đầu bước đi trong thân phận cao cả mang ảnh hình Thiên Chúa…

Thế nhưng để thực sự và vĩnh viễn mang lại “ánh sáng cứu độ cho loài người”, chính Ngài lại chọn con đường chấp nhận “chìm sâu trong bóng tối” của thân phận sự chết, hay theo sự giới thiệu của Thánh Gioan Tiền hô hôm nay, Ngài phải trở thành “Con Chiên gánh tội trần gian”:

- “Con Chiên” đó đã chấp nhận sinh ra làm người giữa hang súc vật trong đêm tăm tối mùa Đông và rồi phải vội vã di cư trốn tránh trước sự truy sát bạo tàn của quyền lực chính trị.
- “Con Chiên” đó đã chấp nhận chen vai sát cánh cùng những người tội lỗi bước xuống dòng sông Gio-đan để Gioan làm phép rửa.
- “Con Chiên” đó đã chấp nhận “đồng bàn gần gụi” với những người tội lỗi bị xã hội lên án khinh chê để chén thù chén tạc với họ mà không một chút phân biệt tỵ hiềm.
- “Con Chiên” đó đã chấp nhận nỗi sầu cô độc tái tê trong đêm tối nơi vườn Cây Dầu khi đối diện với thảm sầu thập giá.
- “Con Chiên” đó cuối cùng đã chấp nhận đêm tối thảm sầu kinh khủng của sự chết khi nhắm mắt xuôi tay phó dâng Thần Khí khi bị đóng đinh chết trên cây Thánh giá…

Chị Chiara Lubich, người sáng lập phong trào Tổ ấm (Folcolare) đã có những cảm nhận sâu sắc về chân lý nầy được diễn tả sống động qua kinh nguyện sau đây:

Để chúng con được ánh sáng, Chúa đã trở nên mù loà.
Để chúng con được hiệp nhất, Chúa đã chịu xa cách Chúa Cha.
Để chúng con được khôn ngoan, Chúa đã trở nên "dốt nát".
Để chúng con được trở nên vô tội, Chúa đã trở thành người "tội lỗi".
Để chúng con hy vọng, Chúa đã hầu như tuyệt vọng.
Để Thiên Chúa ở trong chúng con, Chúa đã cảm nghiệm tình trạng bị xa cách Thiên Chúa.
Để chúng con chiếm hữu thiên đàng, Chúa đã cảm nghiệm hoả ngục.
Để cho chúng con được vui sống trên mặt đất nầy giữa hàng trăm anh chị em, Chúa đã chịu cảnh bị gạt bỏ khỏi trời đất, khỏi loài người và thiên nhiên.

Chúa là Thiên Chúa, là Thiên Chúa của con, là Thiên Chúa của tình yêu thương vô bờ bến của chúng con (CNHV trg. 148-149).

Thế nhưng, cũng chính từ “đêm tối của Ngày Thứ Sáu định mệnh” ấy, đã bừng lên ánh sáng phục sinh, ánh sáng của niềm vui cứu độ:

Mừng vui lên hỡi khắp miền dương thế,
Bốn bề đang rực rỡ ánh hào quang.
Vua vĩnh cửu nay rạng ngời chiếu sáng,

Đẩy lùi xa bóng tối của trần gian (Bài ca Exultet, Mừng vui lên trong lễ Vọng Phục Sinh)

Vâng, Ngài chính là Ánh sáng cứu độ, ánh sáng của Tin Mừng Phục Sinh, ánh sáng sự giải thoát, ánh sáng của tái tạo sự sống mới: “Ai tin ta sẽ được ánh sáng ban sự sống”

Nhưng thế giới hôm nay vẫn còn đầy bóng tối giăng mắc khắp nơi. Chiến tranh, khủng bố, hận thù sắc tộc-tôn giáo, tranh dành quyền lực chính trị và kinh tế, những con bệnh trầm kha, những tội ác tày trời, những thiên tai kinh khiếp...Bóng tối của những thế lực chính trị độc tài áp bức, bóng tối của sự quyến rũ ham mê tiền bạc và sắc dục, bóng tối của sự phóng túng xem thường mọi quy luật luân lý để buông thả cho cái tôi ích kỷ, hẹp hòi, tham lam và hưởng thụ. Bóng tối đang đe doạ sự êm ấm và thuỷ chung của hôn nhân - gia đình bằng căn bệnh ly dị, ly thân và sự tháo thứ hưởng thụ tính dục. Bóng tối của bất công, tham nhũng, bóc lột và sự lôi cuốn bệnh hoạn của sì ke, ma tuý, rựou chè, cờ bạc…

Thế giới đó đang cần được cứu rỗi, đang cần thứ ánh sáng Giêsu để phục hồi tất cả: cần Tin Mừng cứu độ của Chúa Giêsu để từng bước hình thành một “Vương quốc Thiên Chúa đầy tràn công chính và tình yêu”.

Ngài chính là ánh sáng phục hồi lại những giá trị thánh thiêng của gia đình bằng những “lít rượu ngon Cana” chính là hồng ân của nhiệm tích Hôn Phối;

Ngài chính là ánh sáng hy vọng và lý tưởng để phục hồi niềm tin yêu cho muôn thế hệ người trẻ khi dạy cho họ can đảm thực thi “những con đường của Tám Mối phúc thật”, can đảm yêu thương bằng mối tình dám sẵn sàng cho đi và tận hiến, can đảm bước đi trên nẻo đường hẹp của Tin Mừng bằng sự quảng đại “rửa chân cho anh em” và luôn sẵn sàng tha thứ….

Ngài chính là ánh sáng tình thương trao ban cho một nhân loại đói khát chân lý và nghèo nàn tình thương bằng “những chiếc Bánh và những con cá của tình yêu phục vụ và hiệp thông” là chính “Thân Mình Ngài” được bẻ ra” để không ngừng trao ban trong Nhiệm Tích Thánh Thể.

Ngài chính là ánh sáng cứu độ dẫn đưa nhân loại tới hạnh phúc bất diệt bằng sức mạnh của Thần Khí...

Và đó chính là sự cần thiết cho mỗi người chúng ta bây giờ và hôm nay cũng như cho toàn thể thế giới. Chúng ta, những người Kitô hữu, những kẻ đã từng được chính thức trao ban ánh sáng Chúa Kitô trong ngày lãnh nhận nhiệm tích Rửa Tội: “Hãy nhận lấy ánh sáng Chúa Kitô”, chúng ta phải tìm lại “Ánh sáng rạng ngời” mà có lẽ chúng ta đã bao lần dập tắt vì bao nhiêu tội lỗi và bất trung. Phải để ánh sáng Chúa Kitô chiếu rọi vào mọi ngỏ ngách tối tăm của cõi lòng chúng ta để xua đi những thứ bóng tối của ích kỷ, nhỏ nhen, tham lam, chia rẽ. Phải tiến bước trên lộ trình của ánh sáng Phục sinh khi can đảm từng ngày chết đi cho tăm tối tội lỗi để bước đi trên con đường của ánh sáng Lời Chúa.

Và một khi đã nhận được ánh sáng, mỗi người chúng ta lại phải lên đường để chiếu dãi ánh sáng đó cho muôn người còn nằm trong bóng tối sự chết…Đó chính là sứ mệnh chứng nhân, tông đồ, ngôn sứ mà Đức Kitô đã ân cần ký thác: “các con là ánh sáng thế gian…các con là muối ướp đời…các con là men trong bột…các con là chứng nhân của Thầy”

2. Để chúng con thành ánh sáng.

Chúng ta biết rằng, lời chứng của Gioan phát sinh từ kinh nghiệm bản thân, sống động và sâu sắc được Tin Mừng diễn tả qua hai tác động “đã nghe” và “đã thấy”.

- Đã nghe: "Đấng sai tôi làm phép rửa trong nước phán bảo tôi: Ngươi thấy Thánh Thần ngự xuống trên ai, thì đó chính là Đấng làm phép Rửa trong Chúa Thánh Thần".
- Đã thấy: "Tôi đã thấy Thánh Thần như chim bồ câu từ trời đáp xuống và ngự trên Ngài”.

Muốn đạt hiệu quả, lời chứng của người Kitô hữu cũng phải là lời chứng phát sinh từ kinh nghiệm đức tin sống động về Đức Giêsu là Cứu Chúa.

Không ai có thể dẫn ta vào kinh nghiệm cao cả đó ngoài Thánh Thần Thiên Chúa như thánh Phaolô khẳng định: "Không ai có thể tuyên xưng Đức Kitô là Chúa mà không do Thánh Linh". Chứng từ của những vị thánh nổi tiếng như Phaolô và Âutinh, hay của nhiều người khác trong thời đại chúng ta (Đức Gioan-Phaolô II, Mẹ Têrêsa Calcutta, Hồng Y F.X. Nguyễn Văn Thuận…) đã quá đủ để nói lên tác động mãnh liệt của Thánh Thần trong việc dẫn lối vào kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa.

Tuy nhiên, cùng với tác động của Thánh Thần, mỗi người cũng cần có thái độ thích hợp. Đó là suy niệm, chiêm ngắm và học hỏi. Trong sách Giáo lý Chung của Hội Thánh đã khẳng định: “Bài học của lịch sử là: Những thời kỳ mạnh về giáo lý là những thời kỳ Giáo Hội được canh tân. Hãy nhìn lại thời đại của các Giáo phụ với những vị Giám mục hiến mình cho công việc này: Thánh Cyrilô thành Giêrusalem, Gioan Kim Khẩu, Ambrôsiô, Augustinô và nhiều giáo phụ khác và những tác phẩm giáo lý của các ngài vẫn còn là mẫu mực" (Catéchisme de L’eglise catholique, số 8). Giáo lý giúp canh tân Giáo Hội và Giáo Hội được canh tân cũng có nghĩa là Giáo Hội mạnh mẽ trên đường chứng tá, giới thiệu Đức Giêsu cho người khác cách sắc bén và xác tín hơn.

Như vậy chúng ta có thể tóm tắt nội dung cốt yếu của sứ điệp Lời Chúa hôm nay đó chính là: Tin nhận Đức Giêsu để được ánh sáng cứu độ và được giải thoát khỏi bóng tối tội lỗi, như cắt nghĩa thâm thúy của hiến chế mục vụ của công đồng Vatican II: "Thực vậy mầu nhiệm về con người chỉ thực sự được sáng tỏ trong mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể. Bởi vì Ađam, con người đầu tiên đã là hình bóng của Ađam sẽ đến là Chúa Kitô. Chúa Kitô, Ađam mới, trong khi mặc khải về Chúa Cha và tinh yêu của Ngài, đã cho con người biết rõ về chính con người và tỏ cho họ biết thiên chức cao cả của họ. Bởi vậy tất cả những chân lý về con người đều tìm thấy nguồn gốc và đạt tới tột điểm nơi Đức Giêsu Kítô" (MV. 22).

Chút nữa đây, trước khi cho rước lễ, linh mục nâng cao Mình Thánh Chúa và mời gọi cộng đoàn: “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian...". Khi chúng ta rước lễ, phải chăng đó chính là ăn Thịt Chiên Thiên Chúa, một tác động cụ thể diễn tả niềm tin đón nhận Đức Giêsu, nguồn sống và sự sáng, đồng thời đón lấy ơn cứu độ Ngài ban. Và như thế, chúng ta lại tiếp bước lên đường theo dấu chân của những người mang thân phận “Ngôn Sứ”, thân phận của những Gioan Tiền Hô, Phaolô, Phêrô, sẵn sàng khép mình “nhỏ lại để Chúa Giêsu được lớn lên”. Amen.