Chuyện Phiếm Đạo Đời
“Tình có ghi lên đôi môi,
sầu có phai nhoà cuộc đời
Người vẫn thương yêu loài người
và yên vui cuộc sống vui.
Đời êm như tiếng hát của lứa đôi. ..”.
(Cung Tiến – Hương Xưa)
(1Ph 4: 8-10)
Phải thế không, lời em hát vẫn là quyết tâm, khi anh bảo: “Người vẫn yêu thương loài người”, và “đời êm như tiếng hát của lứa đôi”? Tiếng hát của lứa đôi, hay của những trai tài gái sắc nào đó, có chăng chỉ là: hát đó rồi quên đó? Đã nào có nhớ chi đâu loài người, mà ân ái với thương yêu?
“Người vẫn thương yêu loài người”, “và yên vui cuộc sống vui”, hỏi rằng: đó có là thực tế ở đời, thực đấy chứ? Thực ra thì, ở đời thường, vẫn có chuyện thực tế cũng rất vui như truyện tiếu lâm bần đạo vừa bắt gặp, ở đây đó. Rất “huề vốn”. Cũng mặn, cũng nhạt, như truyền tụng:
“Tục truyền rằng, thời trước các cụ thường bảo: “chém cha không bằng pha tiếng”.
Thời nay, có bạn lại nói: pha tiếng, đâu nào để chém mấy ông cha, và cụ cố! Dù có chém cha hay chém cố, thì người chém cũng chỉ để muốn cuộc đời mình vui thôi. Chứ, có chết thằng Tây con nào đâu chứ. Quyết như thế, nay ta hãy dõi theo câu chuyện pha tiếng rất “nẫu” mình, như sau:
Hôm ấy, có chàng trai trẻ thấy đời đáng chán, bèn đi lòng vòng “thăm dân cho biết sự tình”. Thăm đâu không thăm, lại chốn quán xá chiều hôm, thử ghé kinh làng có “cà phê dê ngỗng” để “lai rai ba sợi”, cho yêu đời. Chợt nghe cô chủ nói giọng “nẫu” mình, chàng bèn lân la bằng ba câu hỏi rất vắn, chỉ để nói:
-Chắc em mới đến đây nhận việc?
-Dạ!
-Em tên gì thế?
-Dạ, Tém (Tám).
-Công việc có nhàn hạ lắm không?
-Dạ nhèng!
-Em có điện thoại không? Anh hỏi, là vì có nhỏ em muốn rút kinh nghiệm làm
việc ấy mà! Số em là mấy vậy?
-Dạ, Hơ ba bữa tém tém một bữa (=237 8817)
-Không. Anh chỉ muốn điện thoại của em thôi, không xen vào chuyện đời tư đâu.
-Dạ, biết!
Ít hôm sau, có dịp trở về quán, khách lại thêm:
-Số em cho, sao gọi hoài không được?
-Dạ, em có số mới “rầu” (=rồi).
-Số mấy dzậy?
-Tém hơi, tém hơi tém hơi không? (=8282 820)
-Không! Anh chẳng thích mấy chuyện tắm rửa, lăng nhăng thế đâu!
-Dạ không …siao!
Ít bữa sau, có dịp gặp cô chủ, chàng trai lại trách móc:
-Số em gọi mãi cũng không xong. Thế nghĩa là làm sao?
-Em qua số khác nữa “rầu”! Số mới là: nem xéo bữa hông tắm hông tắm (=567 0808)
-Trời đất! Cái gì mà cứ tắm với rửa hoài vậy? Thôi đành chịu!!!
Kể cũng ngộ. Đời người, dù có tắm lâu hay lâu lâu không tắm, cũng đâu thành chuyện. Những chuyện tợ “êm vui, như tiếng hát của lứa đôi” vẫn là, nỗi nhớ mà người nghệ sĩ xưa thường vẫn hát:
“Người ơi, còn nhớ mãi trưa nào thời nào vàng bướm lên ao.
Người ơi, còn nghe mãi tiếng ru êm êm buồn trong ca dao.
Còn đó, tiếng khung quay tơ,
Còn đó, con diều vật vờ,
Còn đó, nói bao nhiêu lời thương yêu cho đến kiếp nào cho vừa.”
(Cung Tiến – bđd)
Vâng. Quả có thế. Nghệ sĩ đời thường, cứ “nhớ mãi”. “Yêu hoài”. Yêu và nhớ, vẫn một niềm nghe mãi “tiếng ru êm êm”. Của, khung tơ. Diều vật vờ. Lời thơ yêu muôn kiếp. Ở nhà Đạo, dù khờ khại, cũng vẫn thế. Vẫn yêu hoài/yêu mãi, niềm thương yêu nhung nhớ. Rất hạnh phúc. Nỗi niềm hạnh phúc Chúa vẫn ban, dù người người có gặp thử thách sao đó, như thánh Phêrô từng dặn:
“Anh em hãy hết tình yêu thương nhau,
vì lòng yêu thương che phủ muôn vàn tội lỗi.
Hãy tiếp đón nhau mà không lẩm bẩm kêu ca.
Ơn riêng Thiên Chúa đã ban,
mỗi người trong anh em phải dùng mà phục vụ kẻ khác.
Như vậy, anh em mới là những người
khéo quản lý ân huệ thiên hình vạn trạng của Thiên Chúa..”
(1Phêrô 4: 8-10)
Quản lý thiên hình vạn trạng của ân huệ, nghệ sĩ ở ngoài đời, lại vẫn hát:
“Người ơi, môt chiều nắng tơ vàng hiền hòa hồn có mơ xa?
Người ơi, đường xa lắm con đường về làng dìu mấy thuyền đò
Còn đó, tiếng tre êm ru?
Còn đó, bóng đa hẹn hò?
Còn đó, những đêm sao mờ
hồn ta mênh mông nghe sáo vi vu?
(Cung Tiến – bđd)
“Bóng đa hẹn hò”. “Nghe sáo vi vu”. Là, kinh nghiệm đời thường, bạn và tôi, ta vẫn gặp. Kinh nghiệm, là kinh qua những cảm nghiệm về chuyện đời xảy đến với ta qua cung cách cảm nhận những điều khó hiểu trong thi ca/âm nhạc, như ca từ còn viết tiếp:
“Ôi, những đêm dài hồn vẫn mơ hoài một kiếp xa xôi.
Buồn sớm đưa chân cuộc đời,
lời Đuờng Thi nghe vẫn rền trong sương mưa
dù có bao giờ lắng men đợi chờ…”
(Cung Tiến – bđd)
Đời người cũng thế. Bao giờ mà chả có “những đêm dài, hồn vẫn mơ hoài”! Để rồi, người người sẽ mơ về “Lời Đường Thi trong mưa”, với đời. Mơ, là “mơ hoài một kiếp xa xôi” ở nơi đó, có “lời Đường Thi nghe vẫn rền trong sương mưa”. Vẫn “lắng men đợi chờ” tưởng chừng không dứt. Lắng men đợi chờ lời thơ thành hiện thực. Với người. Với mình.
Đời nhà Đạo, cũng thế! Cũng có cảnh trí trong đó Lời Thầy dạy vẫn cứ “rền vang trong mưa”. Đợi chờ. Mà, dân con nhà Đạo nào biết đưa vào hiện thực, ngay lập tức! Nếu cố làm như thế, vẫn thấy gượng gạo. Miễn cưỡng. Khó khăn! Chứ đâu nào ngọt ngào như lời mình đoan quyết ở buổi Tiệc Thánh, có Chúa. Đoan quyết, là lời cam kết rất quyết tâm với người người. Để rồi, mọi người sẽ hình dung ra một nhận định: lối sống nhà Đạo, nào có khác động thái của chính khách, ở nghị trường!
Bởi sống và làm theo kiểu chính khách ở nghị trường, như nhà hùng biện vẫn thường nói một đằng, nhưng lại làm một nẻo. Bàn dân thiên hạ nghe không hết, hoặc không kịp. Ở nhà Đạo, dân con người người nghe Thầy dạy, vẫn quyết tâm sống vui/sống đẹp, để thực hiện Lời Thầy bảo ban. Dù, rất khó. Như có cái gì đó nghịch chống đời thường. Như lời thánh Mát-thêu, còn mạnh hơn:
“Thầy bảo với anh em:
hãy yêu kẻ thù
và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em.
Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em,
Đấng ngự trên trời…”
(Mt 5: 44)
“Yêu thương kẻ thù” là một trong những đòi hỏi gắt gao. Cao quý. Người người đâu muốn và có muốn cũng đâu dễ thực hiện. Thông thường, khi nói “yêu kẻ thù” là ta hiểu ngay đây là một lệnh truyền ít khi thấy. Nếu không muốn nói là nghịch ngạo. Nghịch thường. Rất thông thường ở phố chợ.
“Yêu thương kẻ thù”, có là yêu những người làm ta đau buồn? Tổn hại? Những người chẳng ưa gì ta. Hoặc, những người mà ta cũng chẳng ưa gì họ. Có thể, là người đối xử với ta không lịch lãm. Tốt đẹp. Đó là thách thức rất gay go, trong hiện thực.
Thế nhưng, “yêu thương kẻ thù” là yêu như thế nào, mới đúng?
Lời Chúa ở trên, tuyệt nhiên, không bắt ta phải “ưa thích” những người khiến ta thương đau. Tổn hại. “Yêu thương kẻ thù”, chỉ nên hiểu theo nghĩa: hãy đối xử tử tế với người thù ghét mình. Trên thực tế, chẳng mấy ai làm được như thế. Nói khác đi, thực tế ở đời, thật khó đối xử tử tế với những người làm mình đớn đau. Sầu khổ. Cả thể xác lẫn tinh thần.
Thật ra, điều Chúa dạy, chỉ có nghĩa: ta nên cầu nguyện cho những người đối xử với ta như thế. Hãy cầu và chúc cho những người như thế, được mọi sự tốt đẹp. Không gặp chuyện xấu xa. Tai hại. Như các thánh khi xưa minh định: “Thương yêu theo đúng nghĩa, là cầu chúc mọi sự tốt đẹp đến với người khác. Tốt hơn mình” (x. Thánh Tôma Akinô I-II, 26,Corp Art; GLHTCG #1766)
Xem thế, cũng nên hỏi: điều đó có buộc ta xử sự với kẻ thù, theo cung cách lịch sự và kính trọng như ta thường đối xử với những người có cảm tình hoặc thương yêu ta, không?
Để trả lời, có lẽ cũng nên trở lại với Lời Chúa qua Tin Mừng, như sau:
“Nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình,
thì anh em nào có công chi?
Cả những người thu thuế cũng chẳng làm như thế sao?
Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em mình thôi,
thì anh em có làm gì khác thường đâu?
Cả người ngoại cũng chẳng làm như thế sao?
Vậy anh em hãy nên hoàn thiện,
như Cha anh em trên trời
là Đấng hoàn thiện.”
(Mt 5: 45-48)
Về với thi ca/âm nhạc, lại có vấn nạn, hỏi rằng: sống và thực hiện điều Chúa dạy như trên, khác nào bảo rằng mình hãy hát lên lời người nghệ sĩ, vẫn từng ca và hát, đoản khúc sau đây:
“Tình Nhị Hồ vẫn yêu âm xưa.
Cung Nguyệt Cầm vẫn thương Cô-tô.
Nên hồn tôi vẫn nghe trong mơ tiếng đàn đợi chờ mơ hồ
Vẫn thương muôn đời nàng Quỳnh Như thuở đó.”
(Cung Tiến – bđd)
Đời người, sao tránh khỏi các tình tự mà nhà Phật gọi là “tham-sân-si”. Ngũ giới. Với, đủ mọi tình tiết của những đam mê. Dục vọng. Bởi, đã làm người ai lại chả buồn bã, tức giận. Hoặc, hãi sợ khi giáp mặt ác thần/sự dữ, như kẻ thù. Ngược lại, ta hẳn sẽ thấy niềm vui tươi/mến mộ khi giáp mặt điều tốt, với nét đẹp?
Sống đời đi đạo, mọi đam mê/cảm xúc vẫn giúp ích rất nhiều người. Khi có được niềm đam mê sâu lắng trong yêu thương, thì việc ấy sẽ giúp mọi người nguyện cầu/hành thiện, cũng không khó. Bởi, nếu ai có được cảm xúc mê say yêu Chúa rất đích thực, thì khi gặp cảnh khô khan nguội lạnh, lại có thể dễ rời xa Chúa hiện diện nơi người anh em mình được nhỉ?
Thành thử, muốn hiện thực cuộc sống hài hoà, trong Đạo/ngoài đời, có lẽ người người cần quyết chí/quyết tâm đi theo Ngài. Cần đến tình yêu Thiên Chúa rất mãnh liệt. Có như thế, mọi người mới có thể yêu thương người khác, theo tinh thần Phúc Âm, Chúa vẫn dạy.
Cũng thế, ai ai cũng đều thấy mình dễ nổi nóng, dễ ghét cay ghét đắng kẻ làm hại đời mình. Ai ai cũng chỉ muốn xử tốt với người mến mộ/thương yêu mình, thôi. Nói như thế, e có người sẽ phản đối, mà bảo rằng: đối xử tốt với kẻ thù, có thể chỉ là thái độ của kẻ phô trương, giả hình? Chú, nào đã yêu, đã thương thật lòng?
Để trả lời, có lẽ cũng nên bảo: không phải lúc nào cũng thế. Đôi khi, cũng nên coi thái độ ấy là động thái của người cố gắng trở thành người Công giáo, rất đích thự. Cố gắng sống hiền lành, như thánh nhân. Tức, những vị dễ ngâm nga hát câu “Đời êm như tiếng hát của lứa đôi”.
Quả thật, đời bạn/đời tôi dù có hát hay không câu “đời êm như tiếng hát của lứa đôi”, thì xin bạn/xin tôi, ta hãy để đó mọi sự, hạ hồi sẽ tính. Nay, chỉ nên tính mỗi điều, là: ta cứ nhẹ nhàng bước vào khung trời của truyện kể, có đoạn kể rất “nhẹ”, để cho qua đi, mọi hờn căm. Giận dữ.
Vậy thì, hỡi bạn và hỡi tôi, ta hãy cứ để lòng mình trùng xuống, mà thư giãn và thưởng thức truyện kể nhè nhẹ, về tình và cảnh của đôi tân hôn còn rất mới, như sau:
“Khách khứa đã ra về. Còn lại ở buồng cưới, có mỗi vợ chồng trẻ đang nâng ly hợp cẩn cùng nhau uống. Uống rồi, nhìn nhau say đắm hồi lâu, chú rể hăng hái giục:
-Thôi, ta vào việc đi em!
Cô dâu bẽn lẽn, cứ nhỏ nhẹ:
-Sao mà vội thế? Còn sớm mà anh!
Chú rể càng nôn nón:
-Sớm gì nữa, cũng đã mười giờ rồi chứ ít gì!
Cô dâu xấu hổ, cứ ôn tồn bảo:
-Nhỡ ai gọi cửa thì phiền lắm!
Nghe thế, chú rể càng nóng lòng:
-Giờ này chẳng còn ai quấy rầy mình nữa đâu. Thôi nhanh lên đi em! Anh chịu không nổi nữa rồi!
Thấy thế, cô dâu càng rụt rè, vội bảo:
-Thế thì… anh tắt đèn đi vậy. Để đèn sáng, xấu hổ lắm!
-Ơ kìa. Sao lại phải tắt đèn? Tắt đèn thì làm sao… ừ, làm sao đếm tiền được cơ chú?!?
“Tắt đèn”, dù để đếm tiền, vẫn xin anh/xin chị cũng hãy nhớ: chớ nên tắt thứ lửa ngọn yêu thương, Chúa căn dặn. Bởi, khi tắt lửa ấy, ví dù ta có ca hay hát rất nhiều lần câu yêu đương mà nghệ sĩ Cung Tiến từng viết, người người cũng chẳng thể nói: “Đời êm như tiếng hát của lứa đôi”, được nữa rồi.
Lứa đôi nào, chứ đôi lứa trên, chỉ muốn tắt thứ lửa điện với đèn đóm, chứ nào đã tắt thứ lửa “tiền”, tạo êm cuộc đời vật chất, những là tất bật?
Tắt một lời, lửa yêu thương mà người người từng nghe dặn, là nền tảng cuộc sống sáng soi mọi người. Để sống đời. Nhất là đời mình và đời người, đi Đạo. Tức, những đấng bậc chỉ muốn sống hiền hoà với mọi người. Trong yêu thương.
Trần Ngọc Mười Hai
Xin được nhớ mãi
Lời Thầy dặn,
vẫn như thế.
Suy Niệm Chúa Nhật thứ 3 mùa Vọng năm A 12.12.2010
“Gió chiều cầu nguyện đâu đây.”
“Nắng chiều cắt đoạn một ngày cuối thu”.
Mt 11: 2-11
Nguyện cầu có nắng gió ngày cuối thu, hãy cứ làm. Đợi chờ ngày Chúa đến, có vui chơi hát hò ngày Chúa đến, cứ hân hoan.
Phụng vụ tuần thứ 3 mùa Vọng, mang sắc mầu hân hoan rất vui chơi và nguyện cầu. Nguyện và cầu với sắc mầu hồng tía, vào mùa tím. Một mùa, có lời dặn “hãy vui lên, hỡi sa mạc nóng cháy. Hãy vui mừng, hỡi cỏ khô hoang địa”. Vui và mừng, có nụ cười râm ran. Chứa chan hy vọng, một buổi chiều. Dù mùa Đông lạnh lẽo. Hoặc, mùa hạ ở Nam bán cầu, rất nóng cháy.
Trình thuật, nay nhấn mạnh một điều quan trọng và mừng vui hơn những gì dân con Đạo Chúa đáng được hưởng. Đó, cũng là ý tưởng của thánh Gioan, khi thánh nhân khuyên răn mọi người hãy để lòng mình trùng xuống, mà sám hối. Với thánh Gioan, sám hối là sám hối trong nguyện cầu, chưa có nụ cười nở trên môi. Đợi tới lúc Đức Giêsu đến, Ngài mới đem theo nụ cười, cả vào lúc loài người chủ trương sám hối, để ngóng chờ.
Nụ cười vui, Chúa đem đến cho kẻ đợi chờ Ngài, nay thấy rất rõ nơi tâm tình mừng kính Chúa Giáng Sinh, ở đời người. Tâm tình, thể hiện nơi cung cách lẫn ý nghĩa của mỗi hành xử. Trước nhất, là lẵng hoa có lá cành của cây trạng nguyên quấn vòng quanh 4 ngọn nến. Để thắp sáng suốt 4 tuần lễ mùa đợi chờ. Màu xanh của lá, là mầu truyền thống có từ thời xưa ở Yuletide, xứ Xcăng-đi-na-vi.
Người Na-Uy rất thích mầu xanh, cả trên băng tuyết. Người Ái Nhĩ Lan cũng làm thế, là để tỏ rõ một biểu tượng của lễ hội, dù người người đang ở vào mùa băng giá. Trong khi đó, cây thông Noel lại có gốc nguồn từ sử hạnh của thánh Bônifaxiô, ở bên Đức. Nến cháy ở lẵng hoa, lại xuất xứ từ Đức, vào thời Luther, người khởi xướng đạo Thệ Phản. Chí ít, là tập tục của đêm ca hát nhạc Giáng Sinh, rất linh đình như bài “Đêm Thánh Vô Cùng”, “O Tannebaum”, cũng xuất xứ từ các nền văn hoá rất đa dạng. Có khi còn kình chống nhau về chánh kiến, với thần học.
Tóm lại, lễ hội mừng ngày Chúa Giáng Hạ, rày diễn tả tình tự hài hoà, bình an. Không cần biết người mừng lễ, có gốc nguồn từ đâu tới.
Truyện kể về Ông già tuyết mà mọi người ở trời Tây có thói quen gọi là “Santa Claus”, là truyện tích kể về sử hạnh thánh Nicholas, một đấng bậc người Hoà Lan nhưng lại có nguồn gốc phát xuất từ tập tục miền Nam nước Ý. Trong khi đó, nai gạc tuần lộc chuyên chở quà giúp ông Già Tuyết phân phối lộc thánh lại thuộc giống giòng chốn Nữu Ước, nhiều năm trước.
Tóm lại, mỗi khi mừng ngày hội Chúa Giáng Trần, đa phần người các nước đều tổ chức giữa mùa Đông rất băng giá, đều là tập tục của lễ hội từ người ngoài Đạo, chỉ muốn chuyện vui tươi, hiền hoà gửi đến hết mọi người. 25 tháng Chạp, chưa hẳn là ngày Chúa chào đời. Tuy nhiên, ngày ấy vẫn đánh dấu một kỷ niệm Giáo hội thời tiên khởi vẫn muốn chung vui ngày lễ mừng thần nông Satuya, từng định vị ngày 17-19, rất tháng Chạp.
Tất cả mọi chi tiết dù có khác, vẫn chỉ muốn nói lên tính đa dạng ở văn hoá dân con Đạo Chúa, suốt từ lâu. Đa dạng, nhưng không đa tạp, cả vào lúc người Việt ở Nam Bán Cầu vẫn hát bài “Đêm Đông Lạnh Lẽo Chúa Sinh Ra Đời” của Hùng Lân. Dù, những ngày ấy thời tiết nóng cháy đến 38 độ. Hát gì thì hát. Mừng gì thì mừng. Ta vẫn cứ mừng bằng niềm tin ngày Con Thiên Chúa Giáng hạ làm người, để ở với chúng dân. Rất hài hoà. Bình an.
Biết được thế, là nhờ các đoạn Tin Mừng được thánh Mát-thêu và Luca ghi chép. Hai thánh sử đểu đã bỏ ra nguyên hai chương đầu của Sách để kể về Đức Giêsu, thuở thiếu thời. Về trình thuật thời niên thiếu của Chúa, thánh Luca viết nhiều hơn thánh Mát-thêu. Nhất thứ, là chi tiết/dữ liệu. Tuy nhiên, cả hai thánh sử đều ghi chép theo văn phong/văn bản, rất khác biệt về tình tiết. Ý niệm. Mặc dù thế, cốt lõi của trình thuật, vẫn giống nhau.
Trình thuật được hai thánh sử ghi lại, đều có kể về hạnh thánh Giuse và Đức Maria. Dù, hai đấng đã đính hôn theo tập tục Do thái, nhưng các ngài lại không sống chung. Cùng nhà. Thánh Giuse thuộc giống giòng hào kiệt, rất trâm anh. Giòng Đavít. Còn Đức Maria, lại là thiếu nữ trắng trong, một lòng một dạ giữ mình khiết tịnh. Chợt đến lúc, sứ thần thiên quốc hiện đến báo tin lành Mẹ sẽ cưu mang và hạ sinh, Đấng Cứu Thế. Rồi, đề nghị đặt tên Trẻ Bé, là Giêsu. Và, Hài nhi Giêsu đà Giáng hạ ở thôn làng Bét-Lê-Hem, xứ Đạo cùng cực thuộc vùng Giuđêa, rất nổi tiếng. Kịp đến khi Ngài khôn lớn, Thiếu Niên Giêsu mới trở về Nadarét thuộc đất miền Galilê, trở thành Giêsu Nadarét, như Kinh Sách từng báo trước.
Truyện kể ngày Chúa Giáng Hạ, mang tính chất rất “người”, là để nói lên đặc tính “có một không hai” Tình Chúa Thương, rất đặc biệt. Ngài thương yêu loài người đến độ đã tặng ban cho ta, chính Người Con Duy Nhất của Ngài. Chính đó là quà Giáng Sinh, thật chân tình. Chính đó, là quà quý giá, Ngài đem đến có đính kèm sự Bình An/hài hoà cho muôn người. Ngài chính là sự Bình An, Hài Hoà bằng xương thịt. Vì ngày xưa, loài người vẫn sử dụng tập tục Giáng Sinh để biểu trưng tính Hài hoà/Bình an, rất chân chính.
Tin Mừng mùa Vọng, còn hàm ngụ một chi tiết khiến mọi người ngạc nhiên. Đó là: vào các tuần trước đó, Tin Mừng từng đề cập đến ngày thế tận, có bạo lực, khổ đau, âu sầu mà người người đều cảm nghiệm. Tiếp theo đó, các thánh sử còn trích dẫn lời thánh Gioan Tẩy Giả, kêu gọi mọi người hãy về nơi vắng vẻ, để sdám hối/nguyện cầu, nơi hoang vắng. Tất cả, cốt ý làm nổi bật hình ảnh Đức Giêsu, Đấng Mêsia Giáng hạ mà mọi người kỳ vọng.
Dù là bà con bàng tộc với Đức Giêsu, thánh Gioan vẫn chủ trương cuộc sống nhiệm nhặt, nặng chất âm thầm, khắc khổ. Ăn, thì thánh nhân kêu gọi đoàn người theo chân ngài hãy dùng thức ăn đặc biệt của sa mạc. Tức, gồm toàn cây trái. Mật ngọt của đàn ong. Mặc, thì chỉ mặc vải áo giản đơn, rất bắt nắng. Nóng bỏng. Và, lời thánh nhân khuyên răn, lại chuyên chú những cải tân. Sám hối. Dọn lòng cho trống vắng, hầu đón rước Đức Chúa vào với đời mình. Thánh nhân chủ trương khuyên bảo mọi người hãy đón rước Đấng Cứu Độ, trong tinh thần nhiệm nhặt, giản đơn mà Cựu Ước từng đề cập.
Còn, Đức Giêsu, thì Ngài lại bảo: Thời đã đến. Thời đây, là Thời của An Bình/Hài Hoà, rất đích thật. Và, muốn được Bình An/Hài Hoà Chúa hứa ban, dân con mọi người hãy một lòng đổi thay cả tâm can, lẫn đầu óc. Thay và đổi, ngay cả động thái mình quyết sống. Thay và đổi, để rồi sẽ bỏ lại đằng sau, mọi tranh chấp. Rất bạo động. Thay và đổi, không chỉ trong phút chốc. Nhưng còn đổi và thay, như Tin Mừng Ngài mang đến.
Tin Mừng Chúa đem đến, sẽ không còn như tin về ngày thế tận, rất đáng sợ. Tin rất Mừng, Ngài chủ trương, chính là quà tặng Chúa đem đến với mọi người. Chính là Bình An, Hài hoà mà trước đây chẳng ai đem đến. An Bình/Hài hoà, không chỉ xảy đến, mỗi ngày vui. Dù, người người có gọi ngày ấy là lễ hội Giáng Sinh hay linh đình ngày Ông Già Tuyết phát quà cho em bé. An Bình/hài hoà, vẫn sẽ là và luôn là, quà đích thực Chúa gửi đến hết mọi người. Mỗi ngày, và mọi ngày. Chí ít, là những người được Chúa đoái hoài. Thương mến.
Thành thử, vào với Tiệc Thánh ta tham dự ngày Đại Lễ, hãy chuyển đến hết mọi người quà tặng Bình An/Hài Hoà Chúa vẫn ban. Để, người người không chỉ vui chơi nhận lãnh thứ quà tặng hời hợt chóng qua, dù được bao bọc bằng sắc mầu/hình thái gì đi nữa. Chuyển quà Chúa ban, còn để mọi người nhớ mà cảm tạ. Cảm tạ Chúa, vì nay mình có thể sử dụng mọi hình thức biểu tượng, đặc trưng của văn hoá đa dạng, từ ngàn xưa, như ảnh hình của Bình An và Ân Sủng. Ảnh hình ấy, đích thực là chính Đức Giêsu bằng xương bằng thịt, đã đến với thế gian. Đã trở thành người, như mọi người. Đó, chính là lý do rất thực, để ta vui chơi. Ăn mừng. Và, tưởng nhớ. Nhớ Đức Chúa đang hiện diện nơi mọi người, bằng sự kiện Giáng Sinh. Linh đình. Ngày Hội lớn.
“Tình có ghi lên đôi môi,
sầu có phai nhoà cuộc đời
Người vẫn thương yêu loài người
và yên vui cuộc sống vui.
Đời êm như tiếng hát của lứa đôi. ..”.
(Cung Tiến – Hương Xưa)
(1Ph 4: 8-10)
Phải thế không, lời em hát vẫn là quyết tâm, khi anh bảo: “Người vẫn yêu thương loài người”, và “đời êm như tiếng hát của lứa đôi”? Tiếng hát của lứa đôi, hay của những trai tài gái sắc nào đó, có chăng chỉ là: hát đó rồi quên đó? Đã nào có nhớ chi đâu loài người, mà ân ái với thương yêu?
“Người vẫn thương yêu loài người”, “và yên vui cuộc sống vui”, hỏi rằng: đó có là thực tế ở đời, thực đấy chứ? Thực ra thì, ở đời thường, vẫn có chuyện thực tế cũng rất vui như truyện tiếu lâm bần đạo vừa bắt gặp, ở đây đó. Rất “huề vốn”. Cũng mặn, cũng nhạt, như truyền tụng:
“Tục truyền rằng, thời trước các cụ thường bảo: “chém cha không bằng pha tiếng”.
Thời nay, có bạn lại nói: pha tiếng, đâu nào để chém mấy ông cha, và cụ cố! Dù có chém cha hay chém cố, thì người chém cũng chỉ để muốn cuộc đời mình vui thôi. Chứ, có chết thằng Tây con nào đâu chứ. Quyết như thế, nay ta hãy dõi theo câu chuyện pha tiếng rất “nẫu” mình, như sau:
Hôm ấy, có chàng trai trẻ thấy đời đáng chán, bèn đi lòng vòng “thăm dân cho biết sự tình”. Thăm đâu không thăm, lại chốn quán xá chiều hôm, thử ghé kinh làng có “cà phê dê ngỗng” để “lai rai ba sợi”, cho yêu đời. Chợt nghe cô chủ nói giọng “nẫu” mình, chàng bèn lân la bằng ba câu hỏi rất vắn, chỉ để nói:
-Chắc em mới đến đây nhận việc?
-Dạ!
-Em tên gì thế?
-Dạ, Tém (Tám).
-Công việc có nhàn hạ lắm không?
-Dạ nhèng!
-Em có điện thoại không? Anh hỏi, là vì có nhỏ em muốn rút kinh nghiệm làm
việc ấy mà! Số em là mấy vậy?
-Dạ, Hơ ba bữa tém tém một bữa (=237 8817)
-Không. Anh chỉ muốn điện thoại của em thôi, không xen vào chuyện đời tư đâu.
-Dạ, biết!
Ít hôm sau, có dịp trở về quán, khách lại thêm:
-Số em cho, sao gọi hoài không được?
-Dạ, em có số mới “rầu” (=rồi).
-Số mấy dzậy?
-Tém hơi, tém hơi tém hơi không? (=8282 820)
-Không! Anh chẳng thích mấy chuyện tắm rửa, lăng nhăng thế đâu!
-Dạ không …siao!
Ít bữa sau, có dịp gặp cô chủ, chàng trai lại trách móc:
-Số em gọi mãi cũng không xong. Thế nghĩa là làm sao?
-Em qua số khác nữa “rầu”! Số mới là: nem xéo bữa hông tắm hông tắm (=567 0808)
-Trời đất! Cái gì mà cứ tắm với rửa hoài vậy? Thôi đành chịu!!!
Kể cũng ngộ. Đời người, dù có tắm lâu hay lâu lâu không tắm, cũng đâu thành chuyện. Những chuyện tợ “êm vui, như tiếng hát của lứa đôi” vẫn là, nỗi nhớ mà người nghệ sĩ xưa thường vẫn hát:
“Người ơi, còn nhớ mãi trưa nào thời nào vàng bướm lên ao.
Người ơi, còn nghe mãi tiếng ru êm êm buồn trong ca dao.
Còn đó, tiếng khung quay tơ,
Còn đó, con diều vật vờ,
Còn đó, nói bao nhiêu lời thương yêu cho đến kiếp nào cho vừa.”
(Cung Tiến – bđd)
Vâng. Quả có thế. Nghệ sĩ đời thường, cứ “nhớ mãi”. “Yêu hoài”. Yêu và nhớ, vẫn một niềm nghe mãi “tiếng ru êm êm”. Của, khung tơ. Diều vật vờ. Lời thơ yêu muôn kiếp. Ở nhà Đạo, dù khờ khại, cũng vẫn thế. Vẫn yêu hoài/yêu mãi, niềm thương yêu nhung nhớ. Rất hạnh phúc. Nỗi niềm hạnh phúc Chúa vẫn ban, dù người người có gặp thử thách sao đó, như thánh Phêrô từng dặn:
“Anh em hãy hết tình yêu thương nhau,
vì lòng yêu thương che phủ muôn vàn tội lỗi.
Hãy tiếp đón nhau mà không lẩm bẩm kêu ca.
Ơn riêng Thiên Chúa đã ban,
mỗi người trong anh em phải dùng mà phục vụ kẻ khác.
Như vậy, anh em mới là những người
khéo quản lý ân huệ thiên hình vạn trạng của Thiên Chúa..”
(1Phêrô 4: 8-10)
Quản lý thiên hình vạn trạng của ân huệ, nghệ sĩ ở ngoài đời, lại vẫn hát:
“Người ơi, môt chiều nắng tơ vàng hiền hòa hồn có mơ xa?
Người ơi, đường xa lắm con đường về làng dìu mấy thuyền đò
Còn đó, tiếng tre êm ru?
Còn đó, bóng đa hẹn hò?
Còn đó, những đêm sao mờ
hồn ta mênh mông nghe sáo vi vu?
(Cung Tiến – bđd)
“Bóng đa hẹn hò”. “Nghe sáo vi vu”. Là, kinh nghiệm đời thường, bạn và tôi, ta vẫn gặp. Kinh nghiệm, là kinh qua những cảm nghiệm về chuyện đời xảy đến với ta qua cung cách cảm nhận những điều khó hiểu trong thi ca/âm nhạc, như ca từ còn viết tiếp:
“Ôi, những đêm dài hồn vẫn mơ hoài một kiếp xa xôi.
Buồn sớm đưa chân cuộc đời,
lời Đuờng Thi nghe vẫn rền trong sương mưa
dù có bao giờ lắng men đợi chờ…”
(Cung Tiến – bđd)
Đời người cũng thế. Bao giờ mà chả có “những đêm dài, hồn vẫn mơ hoài”! Để rồi, người người sẽ mơ về “Lời Đường Thi trong mưa”, với đời. Mơ, là “mơ hoài một kiếp xa xôi” ở nơi đó, có “lời Đường Thi nghe vẫn rền trong sương mưa”. Vẫn “lắng men đợi chờ” tưởng chừng không dứt. Lắng men đợi chờ lời thơ thành hiện thực. Với người. Với mình.
Đời nhà Đạo, cũng thế! Cũng có cảnh trí trong đó Lời Thầy dạy vẫn cứ “rền vang trong mưa”. Đợi chờ. Mà, dân con nhà Đạo nào biết đưa vào hiện thực, ngay lập tức! Nếu cố làm như thế, vẫn thấy gượng gạo. Miễn cưỡng. Khó khăn! Chứ đâu nào ngọt ngào như lời mình đoan quyết ở buổi Tiệc Thánh, có Chúa. Đoan quyết, là lời cam kết rất quyết tâm với người người. Để rồi, mọi người sẽ hình dung ra một nhận định: lối sống nhà Đạo, nào có khác động thái của chính khách, ở nghị trường!
Bởi sống và làm theo kiểu chính khách ở nghị trường, như nhà hùng biện vẫn thường nói một đằng, nhưng lại làm một nẻo. Bàn dân thiên hạ nghe không hết, hoặc không kịp. Ở nhà Đạo, dân con người người nghe Thầy dạy, vẫn quyết tâm sống vui/sống đẹp, để thực hiện Lời Thầy bảo ban. Dù, rất khó. Như có cái gì đó nghịch chống đời thường. Như lời thánh Mát-thêu, còn mạnh hơn:
“Thầy bảo với anh em:
hãy yêu kẻ thù
và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em.
Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em,
Đấng ngự trên trời…”
(Mt 5: 44)
“Yêu thương kẻ thù” là một trong những đòi hỏi gắt gao. Cao quý. Người người đâu muốn và có muốn cũng đâu dễ thực hiện. Thông thường, khi nói “yêu kẻ thù” là ta hiểu ngay đây là một lệnh truyền ít khi thấy. Nếu không muốn nói là nghịch ngạo. Nghịch thường. Rất thông thường ở phố chợ.
“Yêu thương kẻ thù”, có là yêu những người làm ta đau buồn? Tổn hại? Những người chẳng ưa gì ta. Hoặc, những người mà ta cũng chẳng ưa gì họ. Có thể, là người đối xử với ta không lịch lãm. Tốt đẹp. Đó là thách thức rất gay go, trong hiện thực.
Thế nhưng, “yêu thương kẻ thù” là yêu như thế nào, mới đúng?
Lời Chúa ở trên, tuyệt nhiên, không bắt ta phải “ưa thích” những người khiến ta thương đau. Tổn hại. “Yêu thương kẻ thù”, chỉ nên hiểu theo nghĩa: hãy đối xử tử tế với người thù ghét mình. Trên thực tế, chẳng mấy ai làm được như thế. Nói khác đi, thực tế ở đời, thật khó đối xử tử tế với những người làm mình đớn đau. Sầu khổ. Cả thể xác lẫn tinh thần.
Thật ra, điều Chúa dạy, chỉ có nghĩa: ta nên cầu nguyện cho những người đối xử với ta như thế. Hãy cầu và chúc cho những người như thế, được mọi sự tốt đẹp. Không gặp chuyện xấu xa. Tai hại. Như các thánh khi xưa minh định: “Thương yêu theo đúng nghĩa, là cầu chúc mọi sự tốt đẹp đến với người khác. Tốt hơn mình” (x. Thánh Tôma Akinô I-II, 26,Corp Art; GLHTCG #1766)
Xem thế, cũng nên hỏi: điều đó có buộc ta xử sự với kẻ thù, theo cung cách lịch sự và kính trọng như ta thường đối xử với những người có cảm tình hoặc thương yêu ta, không?
Để trả lời, có lẽ cũng nên trở lại với Lời Chúa qua Tin Mừng, như sau:
“Nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình,
thì anh em nào có công chi?
Cả những người thu thuế cũng chẳng làm như thế sao?
Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em mình thôi,
thì anh em có làm gì khác thường đâu?
Cả người ngoại cũng chẳng làm như thế sao?
Vậy anh em hãy nên hoàn thiện,
như Cha anh em trên trời
là Đấng hoàn thiện.”
(Mt 5: 45-48)
Về với thi ca/âm nhạc, lại có vấn nạn, hỏi rằng: sống và thực hiện điều Chúa dạy như trên, khác nào bảo rằng mình hãy hát lên lời người nghệ sĩ, vẫn từng ca và hát, đoản khúc sau đây:
“Tình Nhị Hồ vẫn yêu âm xưa.
Cung Nguyệt Cầm vẫn thương Cô-tô.
Nên hồn tôi vẫn nghe trong mơ tiếng đàn đợi chờ mơ hồ
Vẫn thương muôn đời nàng Quỳnh Như thuở đó.”
(Cung Tiến – bđd)
Đời người, sao tránh khỏi các tình tự mà nhà Phật gọi là “tham-sân-si”. Ngũ giới. Với, đủ mọi tình tiết của những đam mê. Dục vọng. Bởi, đã làm người ai lại chả buồn bã, tức giận. Hoặc, hãi sợ khi giáp mặt ác thần/sự dữ, như kẻ thù. Ngược lại, ta hẳn sẽ thấy niềm vui tươi/mến mộ khi giáp mặt điều tốt, với nét đẹp?
Sống đời đi đạo, mọi đam mê/cảm xúc vẫn giúp ích rất nhiều người. Khi có được niềm đam mê sâu lắng trong yêu thương, thì việc ấy sẽ giúp mọi người nguyện cầu/hành thiện, cũng không khó. Bởi, nếu ai có được cảm xúc mê say yêu Chúa rất đích thực, thì khi gặp cảnh khô khan nguội lạnh, lại có thể dễ rời xa Chúa hiện diện nơi người anh em mình được nhỉ?
Thành thử, muốn hiện thực cuộc sống hài hoà, trong Đạo/ngoài đời, có lẽ người người cần quyết chí/quyết tâm đi theo Ngài. Cần đến tình yêu Thiên Chúa rất mãnh liệt. Có như thế, mọi người mới có thể yêu thương người khác, theo tinh thần Phúc Âm, Chúa vẫn dạy.
Cũng thế, ai ai cũng đều thấy mình dễ nổi nóng, dễ ghét cay ghét đắng kẻ làm hại đời mình. Ai ai cũng chỉ muốn xử tốt với người mến mộ/thương yêu mình, thôi. Nói như thế, e có người sẽ phản đối, mà bảo rằng: đối xử tốt với kẻ thù, có thể chỉ là thái độ của kẻ phô trương, giả hình? Chú, nào đã yêu, đã thương thật lòng?
Để trả lời, có lẽ cũng nên bảo: không phải lúc nào cũng thế. Đôi khi, cũng nên coi thái độ ấy là động thái của người cố gắng trở thành người Công giáo, rất đích thự. Cố gắng sống hiền lành, như thánh nhân. Tức, những vị dễ ngâm nga hát câu “Đời êm như tiếng hát của lứa đôi”.
Quả thật, đời bạn/đời tôi dù có hát hay không câu “đời êm như tiếng hát của lứa đôi”, thì xin bạn/xin tôi, ta hãy để đó mọi sự, hạ hồi sẽ tính. Nay, chỉ nên tính mỗi điều, là: ta cứ nhẹ nhàng bước vào khung trời của truyện kể, có đoạn kể rất “nhẹ”, để cho qua đi, mọi hờn căm. Giận dữ.
Vậy thì, hỡi bạn và hỡi tôi, ta hãy cứ để lòng mình trùng xuống, mà thư giãn và thưởng thức truyện kể nhè nhẹ, về tình và cảnh của đôi tân hôn còn rất mới, như sau:
“Khách khứa đã ra về. Còn lại ở buồng cưới, có mỗi vợ chồng trẻ đang nâng ly hợp cẩn cùng nhau uống. Uống rồi, nhìn nhau say đắm hồi lâu, chú rể hăng hái giục:
-Thôi, ta vào việc đi em!
Cô dâu bẽn lẽn, cứ nhỏ nhẹ:
-Sao mà vội thế? Còn sớm mà anh!
Chú rể càng nôn nón:
-Sớm gì nữa, cũng đã mười giờ rồi chứ ít gì!
Cô dâu xấu hổ, cứ ôn tồn bảo:
-Nhỡ ai gọi cửa thì phiền lắm!
Nghe thế, chú rể càng nóng lòng:
-Giờ này chẳng còn ai quấy rầy mình nữa đâu. Thôi nhanh lên đi em! Anh chịu không nổi nữa rồi!
Thấy thế, cô dâu càng rụt rè, vội bảo:
-Thế thì… anh tắt đèn đi vậy. Để đèn sáng, xấu hổ lắm!
-Ơ kìa. Sao lại phải tắt đèn? Tắt đèn thì làm sao… ừ, làm sao đếm tiền được cơ chú?!?
“Tắt đèn”, dù để đếm tiền, vẫn xin anh/xin chị cũng hãy nhớ: chớ nên tắt thứ lửa ngọn yêu thương, Chúa căn dặn. Bởi, khi tắt lửa ấy, ví dù ta có ca hay hát rất nhiều lần câu yêu đương mà nghệ sĩ Cung Tiến từng viết, người người cũng chẳng thể nói: “Đời êm như tiếng hát của lứa đôi”, được nữa rồi.
Lứa đôi nào, chứ đôi lứa trên, chỉ muốn tắt thứ lửa điện với đèn đóm, chứ nào đã tắt thứ lửa “tiền”, tạo êm cuộc đời vật chất, những là tất bật?
Tắt một lời, lửa yêu thương mà người người từng nghe dặn, là nền tảng cuộc sống sáng soi mọi người. Để sống đời. Nhất là đời mình và đời người, đi Đạo. Tức, những đấng bậc chỉ muốn sống hiền hoà với mọi người. Trong yêu thương.
Trần Ngọc Mười Hai
Xin được nhớ mãi
Lời Thầy dặn,
vẫn như thế.
Suy Niệm Chúa Nhật thứ 3 mùa Vọng năm A 12.12.2010
“Gió chiều cầu nguyện đâu đây.”
“Nắng chiều cắt đoạn một ngày cuối thu”.
Mt 11: 2-11
Nguyện cầu có nắng gió ngày cuối thu, hãy cứ làm. Đợi chờ ngày Chúa đến, có vui chơi hát hò ngày Chúa đến, cứ hân hoan.
Phụng vụ tuần thứ 3 mùa Vọng, mang sắc mầu hân hoan rất vui chơi và nguyện cầu. Nguyện và cầu với sắc mầu hồng tía, vào mùa tím. Một mùa, có lời dặn “hãy vui lên, hỡi sa mạc nóng cháy. Hãy vui mừng, hỡi cỏ khô hoang địa”. Vui và mừng, có nụ cười râm ran. Chứa chan hy vọng, một buổi chiều. Dù mùa Đông lạnh lẽo. Hoặc, mùa hạ ở Nam bán cầu, rất nóng cháy.
Trình thuật, nay nhấn mạnh một điều quan trọng và mừng vui hơn những gì dân con Đạo Chúa đáng được hưởng. Đó, cũng là ý tưởng của thánh Gioan, khi thánh nhân khuyên răn mọi người hãy để lòng mình trùng xuống, mà sám hối. Với thánh Gioan, sám hối là sám hối trong nguyện cầu, chưa có nụ cười nở trên môi. Đợi tới lúc Đức Giêsu đến, Ngài mới đem theo nụ cười, cả vào lúc loài người chủ trương sám hối, để ngóng chờ.
Nụ cười vui, Chúa đem đến cho kẻ đợi chờ Ngài, nay thấy rất rõ nơi tâm tình mừng kính Chúa Giáng Sinh, ở đời người. Tâm tình, thể hiện nơi cung cách lẫn ý nghĩa của mỗi hành xử. Trước nhất, là lẵng hoa có lá cành của cây trạng nguyên quấn vòng quanh 4 ngọn nến. Để thắp sáng suốt 4 tuần lễ mùa đợi chờ. Màu xanh của lá, là mầu truyền thống có từ thời xưa ở Yuletide, xứ Xcăng-đi-na-vi.
Người Na-Uy rất thích mầu xanh, cả trên băng tuyết. Người Ái Nhĩ Lan cũng làm thế, là để tỏ rõ một biểu tượng của lễ hội, dù người người đang ở vào mùa băng giá. Trong khi đó, cây thông Noel lại có gốc nguồn từ sử hạnh của thánh Bônifaxiô, ở bên Đức. Nến cháy ở lẵng hoa, lại xuất xứ từ Đức, vào thời Luther, người khởi xướng đạo Thệ Phản. Chí ít, là tập tục của đêm ca hát nhạc Giáng Sinh, rất linh đình như bài “Đêm Thánh Vô Cùng”, “O Tannebaum”, cũng xuất xứ từ các nền văn hoá rất đa dạng. Có khi còn kình chống nhau về chánh kiến, với thần học.
Tóm lại, lễ hội mừng ngày Chúa Giáng Hạ, rày diễn tả tình tự hài hoà, bình an. Không cần biết người mừng lễ, có gốc nguồn từ đâu tới.
Truyện kể về Ông già tuyết mà mọi người ở trời Tây có thói quen gọi là “Santa Claus”, là truyện tích kể về sử hạnh thánh Nicholas, một đấng bậc người Hoà Lan nhưng lại có nguồn gốc phát xuất từ tập tục miền Nam nước Ý. Trong khi đó, nai gạc tuần lộc chuyên chở quà giúp ông Già Tuyết phân phối lộc thánh lại thuộc giống giòng chốn Nữu Ước, nhiều năm trước.
Tóm lại, mỗi khi mừng ngày hội Chúa Giáng Trần, đa phần người các nước đều tổ chức giữa mùa Đông rất băng giá, đều là tập tục của lễ hội từ người ngoài Đạo, chỉ muốn chuyện vui tươi, hiền hoà gửi đến hết mọi người. 25 tháng Chạp, chưa hẳn là ngày Chúa chào đời. Tuy nhiên, ngày ấy vẫn đánh dấu một kỷ niệm Giáo hội thời tiên khởi vẫn muốn chung vui ngày lễ mừng thần nông Satuya, từng định vị ngày 17-19, rất tháng Chạp.
Tất cả mọi chi tiết dù có khác, vẫn chỉ muốn nói lên tính đa dạng ở văn hoá dân con Đạo Chúa, suốt từ lâu. Đa dạng, nhưng không đa tạp, cả vào lúc người Việt ở Nam Bán Cầu vẫn hát bài “Đêm Đông Lạnh Lẽo Chúa Sinh Ra Đời” của Hùng Lân. Dù, những ngày ấy thời tiết nóng cháy đến 38 độ. Hát gì thì hát. Mừng gì thì mừng. Ta vẫn cứ mừng bằng niềm tin ngày Con Thiên Chúa Giáng hạ làm người, để ở với chúng dân. Rất hài hoà. Bình an.
Biết được thế, là nhờ các đoạn Tin Mừng được thánh Mát-thêu và Luca ghi chép. Hai thánh sử đểu đã bỏ ra nguyên hai chương đầu của Sách để kể về Đức Giêsu, thuở thiếu thời. Về trình thuật thời niên thiếu của Chúa, thánh Luca viết nhiều hơn thánh Mát-thêu. Nhất thứ, là chi tiết/dữ liệu. Tuy nhiên, cả hai thánh sử đều ghi chép theo văn phong/văn bản, rất khác biệt về tình tiết. Ý niệm. Mặc dù thế, cốt lõi của trình thuật, vẫn giống nhau.
Trình thuật được hai thánh sử ghi lại, đều có kể về hạnh thánh Giuse và Đức Maria. Dù, hai đấng đã đính hôn theo tập tục Do thái, nhưng các ngài lại không sống chung. Cùng nhà. Thánh Giuse thuộc giống giòng hào kiệt, rất trâm anh. Giòng Đavít. Còn Đức Maria, lại là thiếu nữ trắng trong, một lòng một dạ giữ mình khiết tịnh. Chợt đến lúc, sứ thần thiên quốc hiện đến báo tin lành Mẹ sẽ cưu mang và hạ sinh, Đấng Cứu Thế. Rồi, đề nghị đặt tên Trẻ Bé, là Giêsu. Và, Hài nhi Giêsu đà Giáng hạ ở thôn làng Bét-Lê-Hem, xứ Đạo cùng cực thuộc vùng Giuđêa, rất nổi tiếng. Kịp đến khi Ngài khôn lớn, Thiếu Niên Giêsu mới trở về Nadarét thuộc đất miền Galilê, trở thành Giêsu Nadarét, như Kinh Sách từng báo trước.
Truyện kể ngày Chúa Giáng Hạ, mang tính chất rất “người”, là để nói lên đặc tính “có một không hai” Tình Chúa Thương, rất đặc biệt. Ngài thương yêu loài người đến độ đã tặng ban cho ta, chính Người Con Duy Nhất của Ngài. Chính đó là quà Giáng Sinh, thật chân tình. Chính đó, là quà quý giá, Ngài đem đến có đính kèm sự Bình An/hài hoà cho muôn người. Ngài chính là sự Bình An, Hài Hoà bằng xương thịt. Vì ngày xưa, loài người vẫn sử dụng tập tục Giáng Sinh để biểu trưng tính Hài hoà/Bình an, rất chân chính.
Tin Mừng mùa Vọng, còn hàm ngụ một chi tiết khiến mọi người ngạc nhiên. Đó là: vào các tuần trước đó, Tin Mừng từng đề cập đến ngày thế tận, có bạo lực, khổ đau, âu sầu mà người người đều cảm nghiệm. Tiếp theo đó, các thánh sử còn trích dẫn lời thánh Gioan Tẩy Giả, kêu gọi mọi người hãy về nơi vắng vẻ, để sdám hối/nguyện cầu, nơi hoang vắng. Tất cả, cốt ý làm nổi bật hình ảnh Đức Giêsu, Đấng Mêsia Giáng hạ mà mọi người kỳ vọng.
Dù là bà con bàng tộc với Đức Giêsu, thánh Gioan vẫn chủ trương cuộc sống nhiệm nhặt, nặng chất âm thầm, khắc khổ. Ăn, thì thánh nhân kêu gọi đoàn người theo chân ngài hãy dùng thức ăn đặc biệt của sa mạc. Tức, gồm toàn cây trái. Mật ngọt của đàn ong. Mặc, thì chỉ mặc vải áo giản đơn, rất bắt nắng. Nóng bỏng. Và, lời thánh nhân khuyên răn, lại chuyên chú những cải tân. Sám hối. Dọn lòng cho trống vắng, hầu đón rước Đức Chúa vào với đời mình. Thánh nhân chủ trương khuyên bảo mọi người hãy đón rước Đấng Cứu Độ, trong tinh thần nhiệm nhặt, giản đơn mà Cựu Ước từng đề cập.
Còn, Đức Giêsu, thì Ngài lại bảo: Thời đã đến. Thời đây, là Thời của An Bình/Hài Hoà, rất đích thật. Và, muốn được Bình An/Hài Hoà Chúa hứa ban, dân con mọi người hãy một lòng đổi thay cả tâm can, lẫn đầu óc. Thay và đổi, ngay cả động thái mình quyết sống. Thay và đổi, để rồi sẽ bỏ lại đằng sau, mọi tranh chấp. Rất bạo động. Thay và đổi, không chỉ trong phút chốc. Nhưng còn đổi và thay, như Tin Mừng Ngài mang đến.
Tin Mừng Chúa đem đến, sẽ không còn như tin về ngày thế tận, rất đáng sợ. Tin rất Mừng, Ngài chủ trương, chính là quà tặng Chúa đem đến với mọi người. Chính là Bình An, Hài hoà mà trước đây chẳng ai đem đến. An Bình/Hài hoà, không chỉ xảy đến, mỗi ngày vui. Dù, người người có gọi ngày ấy là lễ hội Giáng Sinh hay linh đình ngày Ông Già Tuyết phát quà cho em bé. An Bình/hài hoà, vẫn sẽ là và luôn là, quà đích thực Chúa gửi đến hết mọi người. Mỗi ngày, và mọi ngày. Chí ít, là những người được Chúa đoái hoài. Thương mến.
Thành thử, vào với Tiệc Thánh ta tham dự ngày Đại Lễ, hãy chuyển đến hết mọi người quà tặng Bình An/Hài Hoà Chúa vẫn ban. Để, người người không chỉ vui chơi nhận lãnh thứ quà tặng hời hợt chóng qua, dù được bao bọc bằng sắc mầu/hình thái gì đi nữa. Chuyển quà Chúa ban, còn để mọi người nhớ mà cảm tạ. Cảm tạ Chúa, vì nay mình có thể sử dụng mọi hình thức biểu tượng, đặc trưng của văn hoá đa dạng, từ ngàn xưa, như ảnh hình của Bình An và Ân Sủng. Ảnh hình ấy, đích thực là chính Đức Giêsu bằng xương bằng thịt, đã đến với thế gian. Đã trở thành người, như mọi người. Đó, chính là lý do rất thực, để ta vui chơi. Ăn mừng. Và, tưởng nhớ. Nhớ Đức Chúa đang hiện diện nơi mọi người, bằng sự kiện Giáng Sinh. Linh đình. Ngày Hội lớn.