Chuyện Phiếm Đạo Đời: Chúa Nhật 29 Quanh Năm
“Hôm qua đến tìm em”
Anh thấy hoa xuân rơi đầy, trước thềm
Bâng khuâng bước nhẹ êm
Sợ làm tan bao giấc mơ hoa, triền miên.”
(Hoàng Trọng – Đẹp Giấc Mơ Hoa)
(2Tm 3: 2-4)
Tôi có người yêu, giống hệt như tôi. Tôi có người yêu, rộn rã như tôi. Suốt một cuộc đời. Vẫn yêu nhiều. Yêu nhiều thứ. Chứ không chỉ, mỗi cái “tôi” của người-yêu-tôi. Hay, của chính tôi. Tính chất đẹp mà tôi nhận thấy, nơi người yêu tôi, là: “người” cũng yêu thơ. Yêu nhạc. Và yêu Chúa. Yêu cả Đức Chúa hiện diện ở thi ca/âm nhạc. Như tôi. Yêu rất nhiều. Nhưng thực hiện chẳng được bao nhiêu. Dù, thơ hay nhạc. Dù, chỉ yêu những người-thích-nhạc. Và thơ. Rất lơ mơ.
Yêu thơ và nhạc, là điều mà người-yêu-tôi, và tôi, vẫn cứ thích/cứ yêu các nhạc bản có nhịp Tango, tựa hồ như “Tango cho Em”. Cho anh. Tức, cũng trích thơ và nhạc có Tango xanh/đỏ, rất “Việt” mình, như câu “Hôm qua đến tìm em”, của Hoàng Trọng.
“Đến tìm em”, không chỉ tìm có mỗi em, người mà tôi yêu. Tìm, là tìm rất nhiều thứ. Nhiều, cả ở trong Đạo lẫn ngoài đời. Như chuyện đời. Nhiều, cả những chuyện có dáng dấp, rất Đạo. Cứ lạo xạo, như thấy “Hoa Xuân”, “ở trước thềm”. Hoa Xuân, nay còn đó vẫn chờ. Và đợi. Chờ đợi, cả người-tôi-yêu lẫn người-yêu-tôi. Ấy thế mà, tôi và người-yêu-tôi vẫn chưa tìm, đã thấy. Bởi thế nên, hoa xuân những rơi đầy, rày lại hát: “Sợ làm tan bao giấc mơ hoa triền miên”. Rất nhẹ êm. Bãng lãng.
Xuân triền miên, nay còn là tâm tình của người em ở đời, rồi sẽ hát:
“Anh yêu nét hồn nhiên
Yêu biết bao khi em ngồi khuất rèm
Đôi tay nhấp đường kim
Làn môi hé cười thần tiên.”
(Hoàng Trọng – bđd)
Nét hồn nhiên, mà bạn và tôi, ta vẫn yêu, phải chăng là như thế? Hay, vẫn như lời thánh Phaolô tông đồ lại đã diễn giải cho bạn thân mình, là đồ đệ Timôtê rất thân và rất mến, như sau:
“Quả thế,
người ta sẽ ra ích kỷ,
ham tiền bạc, khoác lác,
kiêu ngạo, nói lộng ngôn,
không vâng lời cha mẹ,
vô ân bạc nghĩa, phạm thượng,
vô tâm vô tình, tàn nhẫn, nói xấu,
thiếu tiết độ, hung dữ, ghét điều thiện, phản trắc,
nông nổi, lên mặt kiêu căng,
yêu khoái lạc hơn yêu Thiên Chúa;
hình thức của đạo thánh thì họ còn giữ,
nhưng chính cái chính yếu thì lại chối bỏ.
Anh hãy xa lánh cả những người ấy.”
(2Tm 3: 2-4)
Nên chăng, ta hãy lánh xa cả người ta yêu, lẫn điều ta mến? Có phải, điều ta yêu và người mà ta mến, là “tình tự” được diễn tả, rất như sau:
“Lòng bồi hồi mơ ước
Đường hoa thắm đôi ta cùng chung bước
Đời chẳng còn thương nhớ
Vì duyên ta đẹp tình thơ”.
(Hoàng trọng – bđd)
À thì ra, Những gì ta yêu mến, dù người hay vật. Chim khuyên, hay muông thú, vẫn là những tâm tình, rất tự sự, được “vua Tango” diễn bày bằng lời thơ rất âm vang thi tứ như lời ca, ta hát tiếp:
“Hương thơm ngát đồng xanh
Ta sống yên vui trên mảnh đất lành
Đêm đêm ngắm trời xa
Tình quê thấy lòng nở hoa.”
(Hoàng Trọng – bđd)
À thì ra, là như thế. Tình yêu, với lòng người. Và, lòng người đối với tình yêu, vẫn là tình tự rất “hương thơm ngát đồng xanh”. Rất, “sống yên vui trên mảnh đất lành”, của quê nhà. Ta yêu dấu. Là, Nước Trời dấu yêu, ở trần gian. Lan man, một trìu mến
Yêu như thế, phải chăng là yêu rất nhiều?
Hy sinh như thế, phải chăng là mất đi tình yêu? Thứ tình rất hy sinh, mà nhiều người đã tìm thấy nơi truyện kể, rất ngắn gọn. Ở bên dưới:
“Truyện rằng:
Người đọc báo bất chợt nhận ra mẩu quảng cáo nhỏ, có giòng chữ gọn nhẹ, đại để cùng mang một ý nghĩa gẫy gọn sau đây:
-“Em đây vẫn muốn chồng, bạn nào giới thiệu có được không?”
Tức tốc hôm sau, người rao vặt nhận được cả trăm thư trả lời. Rất rối bời. Như sau:
-Em đến mà nhận chồng chị đi! Đừng lo lắng chuyện tiền bạc. Hoàn toàn miễn phí.”
Truyện kể ở trên, thoạt nghe tưởng chừng như “hư cấu”. Đời này, làm gì có chuyện tặng-không/biếu-không, những ông chồng. Nói thế há bảo rằng: yêu, vẫn chỉ là miễn phí? Và, kiếm tìm người yêu lại là chuyện dễ làm? Nếu thế, kiếm tìm “Thiên-Chúa-là-Tình-Yêu”, thì sao? Hỏi ở đây, phải chăng: đã trả lời?
Có thể lắm. Nhưng, trả lời của ai đó, vẫn mang tính đa dạng. Chuyển biến. Rất không thuần. Thuần sao được, khi ý kiến của phần đông các người trẻ, vẫn đa dạng. Như người trẻ ở Úc có tên là Eng Chan, đã tự thuật về quãng ngày dài thiếu tình yêu. Thiếu những điều, như sau:
“Tất cả bắt đầu từ cái ngày mà mọi người ở quê tôi gọi là Đầu Năm niên lịch Kampuchia. Tôi sống 4 năm liền, dưới chế độ của người Khmer Cộng sản. Bấy giờ, không ai kiếm đâu được của ăn. Thức uống. Mọi người đều nhận lệnh: phải rời nhà chỉ vài ngày thôi, sẽ về lại. Chẳng có gì đáng ta ưu tư/thắc mắc, hết. Thế nhưng, sự thật thì khác. Bốn năm trời ròng rã, bọn tôi đã thiếu rất nhiều. Thiếu cả tình yêu. Điều đó, hiện rõ nơi tâm tư bé nhỏ của chúng tôi. Làm sao quên được cảnh người dân hiền lành ở Căm Bốt, cứ bị dắt ra nơi đồng không mông quạnh, mà bắn bỏ. Giữa ban ngày ban mặt. Khi ấy, mọi sự đều bị hủy hoại. Tất cả, đều nghèo đói. Thiếu tình người. Vì quá đói, bé em nào cũng phải lò mò đến từng nhà, mà xin ăn. Mỗi ngày, bọn tôi mỗi người chỉ được phép nhận chừng lưng bát cơm. Và một chút sữa đặc có đường. Thế thôi. Chẳng ai lý gì đến bọn trẻ chúng tôi. Và, cũng chẳng còn ai biết thương ai. Còn lại, chỉ là giết chóc. Bạo tàn. Bất nhân, vẫn diễn ra hằng ngày. Ở quê tôi” (x. Sophie Seuk, Australian Catholics, Spring 2010, tr. 23)
Tâm tư người Khờ-me trẻ, là như thế? Còn, tâm tư của nghệ sĩ mình, lại như sau:
“Một mái tranh nghèo, lo gì nắng mai hay mưa chiều
Mộng ngát đôi lòng trăng, hạnh phúc ta cùng soi bóng
Đồng lúa thơm lành, ta cầy cấy chung lo gia đinh
Cuộc sống thanh bình
Ôi bài hát muôn đời thắm tình.”
(Hoàng trọng – bđd)
Lúa thơm lành. Thanh bình. Là thế đó. Có là chốn ấm êm nhà Đạo, ở Nước Trời? Ở nơi ấy, người đời vẫn tha thiết với giá trị của tình thương yêu, không? Yêu đằm thắm. Lắm tình người. Nơi gia đình. Nơi mọi người vẫn cứ ăn và cứ uống. Vẫn thương yêu. Nguyện cầu. Như mọi lúc. Đó, là tâm tình được người viết mang tên Elizabeth Gilbert đưa vào phim có tựa đề, là: “Ăn uống. Nguyện cầu. Và, thương yêu”, lấy bối cảnh Ấn Độ làm nền cho truyện kể để nêu lên.
Cũng trong chiều hướng tìm hiểu về đời thường, của mọi người, vừa qua cơ quan nghiên cứu có tên là The National Marriage Report bản doanh đặt tại Đại Học Đường Virginia, Hoa Kỳ đã thực hiện một khảo sát mang tên “Hôn Nhân Cùng Nhau Nguyện Cầu: Giòng Giống, Sắc Tộc, Tôn Giáo và Phẩm Chất Tương Quan Giữa Những Người Trưởng Thành” xuất hiện trên tờ Journal of Marriage and Family số tháng 8/2010 cùng với hai nhà xã hội học mang tên Christopher G. Ellison và W Bradford Wilcox, đã bày tỏ ý kiến đúc kết về thương yêu/hạnh phúc của các cặp phối ngẫu trong đời, như sau:
“Các cặp phối ngẫu da mầu nào không cùng nhau nguyện cầu, thường dễ thực hiện nhiều điều tồi tệ hơn các cặp hôn nhân da trắng. Khảo sát, nay cho thấy tôn giáo vẫn là yếu tố làm dịu bớt sự rẽ chia mang tính sắc tộc. Đó là nói về phẩm chất của các tương quan giữa người với người. Tại Mỹ. Sức sống ở đời người Mỹ gốc Phi Châu đem đến cho họ một lợi thế hơn hẳn các người Mỹ khác, đó là nói về quan hệ bình thường. Lợi thế, mà họ thấy mình hơn hẳn các cặp phỗi ngẫu khác nói chung, ở nơi này.
Thông thường, nhiều người vẫn có thói quen bảo rằng: tôn giáo chẳng đem lại lợi lộc gì cho hôn nhân, hết. Nhưng, cặp phối ngẫu nào thấy xung khắc trong niềm tin tôn giáo; và nhất là các cặp trong đó chỉ một bên chịu đến nhà thờ sinh hoạt đều đặn, thì khảo sát cho biết: các cặp ít đi sinh hoạt, sẽ thấy hạnh phúc của mình kém cỏi hơn. Với các cặp phối ngẫu da mầu/sắc tộc, thì: khác biệt trong sinh hoạt tôn giáo là nguồn gốc dẫn đến mọi căng thẳng. Điều này chứng minh được, là: do họ ít bỏ giờ ra mà ở với nhau, để cùng nhau làm một việc gì đó có tính tập thể, như nguyện cầu. Hoặc, do họ có khác biệt trong cung cách nuôi dạy con cái, hoặc qua việc sử dụng quá nhiều rượu bia, nhiều thứ khác nữa.” (x. Carolyn Moynihan, Mercator Net 24/8/2010 )
Nói như thế, là nói về tình thương yêu có khác biệt. Về sắc tộc. Khác niềm tin, giáo dục và gì gì nữa, vẫn rất nhiều. Nhưng, có khác chăng về bản chất đạo đức? Một lần nữa, hỏi ở đây tức: đã trả lời rồi. Trả lời, theo góc độ/nhân sinh quan mình nhận xét. Theo tâm trạng mình đang có, lúc nhận định. Dù sao đi nữa, cũng nên nghe thêm nhận định khác của nghệ sĩ trích ở trên, từng vui hát:
“Hôm qua đến tìm em
Anh thấy hoa xuân rơi đầy trước thềm
Bâng khuâng bước nhẹ êm
Sợ làm tan bao giấc mơ hoa triền miên.”
(Hoàng trọng – bđd)
Nói và hát những lời như thế, tức: vẫn bảo với người-tôi-yêu, hoặc người-yêu-tôi, rằng:
“Anh yêu nét hồn nhiên,
Yêu biết bao khi em ngồi khuất rèm,
Đôi tay nhấp đường kim,
Làn môi hé cười thần tiên.”
(Hoàng trọng – bđd)
Nếu bảo rằng, với nghệ sĩ ở đời, một khi họ những đề cao/tuyên dương “tình yêu” đến như thế, thì chắc hẳn chàng và nàng là thánh nhân? Gọi họ là thánh nhân, là bởi: nếu ta chịu khó làm một thứ tam-đoạn-luận bỏ túi, bảo rằng: Thiên Chúa là Tình Yêu. Hễ ai ngợi khen/tuyên dương Tình Yêu, chắc chắn người ấy/vị ấy đã tuyên dương/ngợi khen Thiên Chúa, rồi. Và trên đời, chỉ có thánh nhân mới hiểu biết hoặc đề cao/tuyên dương Thiên Chúa đến thế, mà thôi. Có là thánh nhân, mới cảm nhận ý/từ rất Tango, mỗi khi hát câu “Làn môi hé cười thần tiên.” Và, hạnh phúc cuộc đời có là gì, nếu không biết “hé cười thần tiên” ở mọi nơi, trong mọi lúc?
Để minh hoạ cho những gì mà tôi và bạn, ta vừa đặt dấu chấm hỏi cho tam-đoạn-luận ở trên, tưởng cũng nên đưa thêm dăm ba truyện kể nhè nhẹ. Ý nhị. Nhưng không dị. Như sau:
“Ngày nọ, có nhà tỷ phú dắt người con cưng về chốn dân dã xem thiên hạ sống thế nào mà sao họ không thấy họ bị căng thẳng thần kinh, rất linh tinh, như người thị thành. Hai cha con về sống vài ngày tại nơi mà người dân thị thành cho rằng đời sống rất khó khăn. Hôm trở về, người cha bèn gọi con lại hỏi anh xem có nhận xét gì về chuyến đi ấy:
-Con thấy thế nào? Chuyến đi vừa rồi có đem đến cho con điều gì khác lạ không?
-Dạ, con thích lắm, ba.
-Thế hả? Con thấy cuộc sống của người miền quê, cũng hạnh phúc đấy chứ? Có khác dân thành thị mình hay không, thế?
-Dạ khác lắm, ba.
-Đâu khác chỗ nào, con nói cho ba nghe coi!
-Theo con thấy, thì như: ở thành thị, ta chỉ nuôi nổi một hai chó con thôi. Còn ở nơi dân dã, họ nuôi tới ba bốn con, cũng không lấy làm nhiều. Ở thành phố, ta chỉ lo nổi mỗi hồ bơi nhỏ, ở giữa vườn. Còn họ, họ có rất nhiều khúc sông, quanh năm nước chảy mút mùa lệ thủy. Ở đây, ta vẫn cứ phải nhập cảng bóng đèn điện để gắn nơi vườn, cho nó sáng. Còn họ, họ đâu cần gì đến đèn với đóm, đã có ngàn sao lấp lánh chiếu sáng ban đêm, rồi. Ngồi trước nhà, ở đây ta ta chỉ thấy những là cổng trời nho nhỏ, mà thôi. Còn họ, ngồi trong nhà, mà đã thấy đủ mọi thứ kéo đến từ chân trời rộng lớn. Ta có mỗi vuông đất rất chật bao quanh căn nhà rất nhỏ bé. Còn họ, lại có gần như cả một thửa ruộng cò bay thẳng cánh, chẳng ai ham. Ở chốn thị thành, ta luôn cần đến mấy chị “Ô-shin” để sai vặt. Còn họ, họ cứ tự lo lấy cho nhau, chẳng nhờ vả chi ai. Ta bỏ ra biết bao nhiêu là tiền của để mua sắm đồ ăn cùng thức uống, mà nuôi thân. Còn họ, họ vẫn tự túc nuôi trồng, tự lo sống. Nhà cửa ở chốn thị thành, ta vẫn phải dành cho có tường rào bao quanh, sợ mất mát thứ này thứ khác. Còn họ, họ chẳng cần gác dan hay bảo vệ mà lúc nào cũng có bạn bè tốt luôn giúp đỡ, yêu thương như người nhà…”
Yêu thương như người nhà. Chung sống an hoà, như bà con. Phải chăng, là hạnh phúc? Phải chăng ý kiến của người con là nhận định rất chính xác về hạnh phúc sống ở đời? Và một phải chăng nữa, cũng nên hỏi, là: có nên thêm đây lời của khảo-sát-gia W. Bradford Wilcox nói trên, để có một nhận định khá vững về những hiện thực trong cuộc sống rất Đạo của nhiều người? Như sau:
“Về với cơ ngơi/mái ấm tình người của nhà mình, kết quả cho ta thấy: nếu tích lũy tình thương yêu thật rõ nét, nhiều ý nghĩa, ta sẽ nhận ra rằng: nghĩ suy và thực hiện niềm tin yêu nguyện cầu, rồi ra ta sẽ đạt thành công, thôi. Trong quá khứ, có nhiều nghiên cứu/khảo sát cho thấy: tha thứ, vẫn có ảnh hưởng rất nhiều đến quan hệ vợ chồng. Đến, cả tương quan giữa người với người. Đến cuộc sống gia đình và cả những sinh hoạt lao động nơi sở làm của mình, nữa.” (x. Carolyn Moynihan, bđd).
Bởi thế nên, hỡi bạn và tôi, ta cứ vui lên mà nguyện cầu. Vui mãi, mà thương yêu trong mọi tình huống hoặc thời khắc của cuộc đời. Cứ vui đi, rồi ra ta sẽ thấy rất khá. Khá, về Đạo. Khá, cả về đời.
Trần Ngọc Mười Hai
Vẫn kêu gọi bầu bạn
và cả tôi nữa,
hãy cứ thế nhận thức.
Và hiện thực
cho đời mình.
“Dù đôi tay buông xuống”
Chúng mình vẫn tin tưởng.
Chúng mình vẫn say sưa.
Chúng mình vẫn nhìn vào mắt nhau,
để mở một chân trời rất rộng…”
(thơ Nguyên Sa)
Lc 18: 1-8
Nhà thơ, xưa nay vẫn tin tưởng. Dù, đôi tay có buông xuống. Nhà Đạo, lâu rày vẫn nhủ nhắn: hãy chuyên chăm nguyện cầu, đừng nản chí. Dù, chỉ đạo đạt lên quan àn đôi điều, như trình thuật hôm nay, rày đề cập.
Trình thuật, nay đề cập về những thỉnh cầu, chốn dân gian. Thỉnh và cầu, theo hình thức khác nhau. Từ chúc tụng, tạ ơn cho chí cầu bàu. Thỉnh và cầu, là những ý thỉnh, nhờ thần khí. Lẫn câu kinh. Thỉnh cầu, là chiêm ngắm. Tụng niệm. Là, suy tư nguyện cầu trong im ắng. Riêng tư. Quyết thực hiện cùng một động thái với người khác, ở nguyện đường. Động thái, mà Hội thánh quen gọi là nghi thức Phụng vụ.
Bài đọc hôm nay tập trung vào những thỉnh cầu ta dâng Chúa hầu khẩn nguyện cho mình có được những điều mình cần, chứ không phải cầu được những gì mình muốn.
Bài đọc 1, kể về động thái thỉnh nguyện của Môsê vẫn phấn đấu, giơ tay mà cầu khẩn mỗi khi ông giơ tay nguyện cầu, để dân con người Do Thái mỹ mãn đạt mộng ước. Cứ mỗi lần ông nản chí/rã rời, thì người người đều thất bại. Lở dở. Và khi đó, là lúc ông cần hỗ trợ. Và vì thế, ông cứ phải giơ cao, giơ cao mãi cho đến khi đạt thắng lợi, mới thôi. Diễn tả ý/lời một khẩn nguyện ra như thế, dân con Đạo Chúa không cố ý phổ biến tệ nạn dị đoan, mê tín. Nhưng, chỉ muốn đưa ra một đề xuất, là: không có Chúa phụ giúp, người người chẳng bao giờ thành đạt, dù việc nhỏ.
Trình thuật, nay kể về dụ ngôn quan trên đối xử với bà goá nghèo, rất thấp hèn, là có ý bảo: mọi người trong/ngoài Đạo vẫn cứ nên kiếm tìm sự công chính/an vui, để mà sống. Giả như các quan trên ở đời chẳng lý gì chuyện kính sợ Thiên Chúa, là Đấng Oai Nghi đầy Quyền Phép, rất trên cao; và giả như người người, ở đời, không còn biết thỉnh cầu/khấn nguyện Đức Chúa nữa, thì: Thiên-Chúa-là-Tình-Yêu có đoái hoài đến người con đáng thương/vô vọng như bà goá, nữa không? Bài học nay Chúa gửi, qua dụ ngôn, vẫn là: hãy chuyên chăm nguyện cầu. Đừng nản chí.
Hãy chuyên chăm nguyện cầu, phải chăng thánh sử bảo: Hội thánh luôn khích lệ dân con nhà Đạo hãy cứ thế mà làm, với Đức Chúa? Chuyên chăm nguyện cầu, còn là: đừng nên xin xỏ nhiều thứ rất vật chất, như: trúng số, thi đậu. Hoặc, của dư của để, hầu mua sắm xe/nhà, các thứ như nữ trang/đồ đạc, dù vẫn cần. Trái lại, chỉ nên cầu nguyện sao cho Danh Cha cả sáng. Nước Cha trị đến. Thánh ý Cha thể hiện.
Thật ra, nhân vật đóng vai “bà goá” ở dụ ngôn, chỉ muốn nguyện cầu và khẩn khoản xin thực hiện những gì Chúa muốn bà làm trong cuộc sống, mà thôi. Ở đoạn khác, Đức Giêsu đã chẳng so sánh Thiên Chúa với Người Cha Hiền ở đời vẫn lưu tâm đến người con lưu lạc khắp nơi, chốn nợ đời này sao? Có bao giờ, Ngài ban cho dân con mình những là sỏi đá, thay cơm bánh? Có bao giờ, Ngài lại ban cho đàn con mình, những bò cạp/rắn rết khi con mình cần trứng ăn? Và, Chúa kết luận: cha hiền ở trần thế mà còn biết thế, huống hồ là Cha các con ở trên Trời, lại không biết sao?
Thiên Chúa chỉ ban bố cho dân con mình những điều tốt đẹp, khi họ kêu cầu Ngài những điều cần, mà thôi. Với thánh Luca, điều cần mà Chúa phú ban, là: gửi Thần Khí Chúa đến với ai kêu cầu. Chứ, không phải cơm bánh hằng ngày.
Vấn đề đặt ra hôm nay, là hãy hỏi: điều tốt đẹp Chúa vẫn ban cho con cái Ngài ở trần gian, là những gì? Có khi nào, con cái Chúa xin Ngài ban Thần Khí đến, mà Ngài lại từ chối, không? Điều cốt yếu, là: ta có cầu và có xin Chúa ban Thần Khí Ngài đến như thế, ta mới có thể giúp đỡ, thương yêu và phục vụ Ngài, cho tốt hơn.
Có cầu khẩn Thần Khí Chúa đến với mình, người người mới hiểu ý nghĩa sâu lắng, của Lời Ngài. Có cầu và khẩn theo cách thích hợp, ta mới trở thành sợi giây liên kết chuyển đạt tình thương của Ngài đến với mọi người được. Có nguyện cầu như thế, người người mới hiểu rõ ý Chúa. Và, khi hiểu được ý định của Chúa như thế, ta mới hoà hợp vào với ý muốn của riêng ta. Và khi ấy, cả hai sẽ nên một. Một lòng muốn. Một ý định. Và như thế, ta sẽ đạt mục đích như Chúa chờ mong.
Hiểu rõ dụ ngôn hôm nay, là hiểu theo nghĩa như thế. Tuy nhiên, cũng có người hiểu dụ ngôn theo cung cách phân vai trong kịch bản, ở ngoài đời. Phân vai kịch bản ở đời, thường người chỉ phân cho Chúa vai trò quan án như dụ ngôn. Còn chính mình, lại những muốn đảm nhận vai trò của bà goá, rất khiêm nhu. Từ tốn. Đảm nhận như thế, là để không còn quấy rầy Chúa bằng những xin xỏ/cầu kinh, quyết liệt. Quyết đạt cho được, điều mình mong muốn, rất khẩn khoản.
Nữ tu Melanie Svoboda, đặt giả thiết theo cách khác. Chị hỏi rằng: chuyện gì sẽ xảy đến nếu ta đổi cách phân vai khác với điều lâu nay mọi người vẫn làm, là: thay vì trao cho Chúa vai trò của quan án, ta tặng Ngài vai trò của bà goá? Đổi vai như thế, rất có lý và thích hợp. Thích hợp, là bởi: giống như phần đông quan án ở đời vẫn bất công. Không tuởng. Bất công đến độ, chẳng ai còn biết kính sợ Chúa nữa. Bất công là ở chỗ: ta không cho phép Chúa can dự vào đời sống riêng tư, của ta.
Giống quan án đời thường, người người vẫn kiên trì từ chối. Chẳng chịu nghe. Chẳng chịu nghe biết lời kêu van/khẩn cầu của người nghèo hèn/cùng khốn, sống quanh ta. Giống quan án/đấng bậc ở đời thường, là ở chỗ: ta không còn thiết tha chuyện người khác, tức những người vẫn muốn ta ngó ngàng. Giùm giúp.
Giả như Chúa chịu đóng vai trò bà goá như dụ ngôn hôm nay, chắc chắn Ngài sẽ kiên trì chờ đợi mọi người đến cầu khẩn. Ngài cũng sẽ không bỏ đi, nếu dân con của Ngài là quan án, cũng kêu nài. Ngài vẫn chờ và vẫn đợi đàn con thân thương có quyết định quan trọng, liên quan đến cuộc sống. Ngài đợi và chờ, cả khi người người nói tiếng “KHÔNG”, trong yêu thương. “KHÔNG”, cả khi mọi người cần giùm giúp. “KHÔNG” cả vào các chuyện cần chính trực.
Trái lại, Ngài vẫn kiên trì chờ đợi cho đến khi đàn con thân thương của Ngài thực hiện điều tốt đẹp, Ngài hằng khuyên bảo. Thực hiện động thái yêu thương, Ngài từng dạy. Và giống như Ngài, đàn con thân thương, ở dưới thế, sẽ thực hiện động thái yêu thương gửi đến mọi người. Bởi, như sách Khởi nguyên từng viết: con người là thụ tạo được dựng nên theo ảnh hình của Chúa. Nhưng, làm sao trở thành ảnh hình của Chúa được, khi Ngài vẫn yêu thương mọi người, mà mọi người chẳng buồn yêu thương nhau, như Ngài muốn?
Thành thử, mỗi khi nguyện cầu/khấn vái, ta cũng nên xin Chúa là Đấng rất kiên trì/bền vững trong đợi chờ, hãy khiến cho đàn con Ngài ở dưới thế, ngày càng trở nên giống hình ảnh, của Chúa hơn.
Trong khấn nguyện như thế, ta lại sẽ hân hoan hát lên lời ca hưng phấn, rất đợi chờ, rằng:
“Con ơi, con ơi tiếng cười nở chan hòa
Nhớ tới, nhớ tới biết bao trẻ thiếu nhà
Ngoài đường trời đông giá
Một đàn chim nhỏ bé
Gọi về chia sớt miếng cơm khoanh cà.”
(Phạm Duy - Người Về)
Khấn và nguyện, là cầu sao cho ý Chúa được thực hiện, với mọi người. Nguyện và khấn, là cầu sao cho người người được lĩnh nhận tình thương yêu Chúa dạy, bằng cuộc sống rất đời thường. Rất chuyên chăm. Giùm giúp và ủi an, như Chúa đã và đang làm cho ta.
Lm Phan Đỗ Thục Linh
Mai Tá diễn dịch.
“Hôm qua đến tìm em”
Anh thấy hoa xuân rơi đầy, trước thềm
Bâng khuâng bước nhẹ êm
Sợ làm tan bao giấc mơ hoa, triền miên.”
(Hoàng Trọng – Đẹp Giấc Mơ Hoa)
(2Tm 3: 2-4)
Tôi có người yêu, giống hệt như tôi. Tôi có người yêu, rộn rã như tôi. Suốt một cuộc đời. Vẫn yêu nhiều. Yêu nhiều thứ. Chứ không chỉ, mỗi cái “tôi” của người-yêu-tôi. Hay, của chính tôi. Tính chất đẹp mà tôi nhận thấy, nơi người yêu tôi, là: “người” cũng yêu thơ. Yêu nhạc. Và yêu Chúa. Yêu cả Đức Chúa hiện diện ở thi ca/âm nhạc. Như tôi. Yêu rất nhiều. Nhưng thực hiện chẳng được bao nhiêu. Dù, thơ hay nhạc. Dù, chỉ yêu những người-thích-nhạc. Và thơ. Rất lơ mơ.
Yêu thơ và nhạc, là điều mà người-yêu-tôi, và tôi, vẫn cứ thích/cứ yêu các nhạc bản có nhịp Tango, tựa hồ như “Tango cho Em”. Cho anh. Tức, cũng trích thơ và nhạc có Tango xanh/đỏ, rất “Việt” mình, như câu “Hôm qua đến tìm em”, của Hoàng Trọng.
“Đến tìm em”, không chỉ tìm có mỗi em, người mà tôi yêu. Tìm, là tìm rất nhiều thứ. Nhiều, cả ở trong Đạo lẫn ngoài đời. Như chuyện đời. Nhiều, cả những chuyện có dáng dấp, rất Đạo. Cứ lạo xạo, như thấy “Hoa Xuân”, “ở trước thềm”. Hoa Xuân, nay còn đó vẫn chờ. Và đợi. Chờ đợi, cả người-tôi-yêu lẫn người-yêu-tôi. Ấy thế mà, tôi và người-yêu-tôi vẫn chưa tìm, đã thấy. Bởi thế nên, hoa xuân những rơi đầy, rày lại hát: “Sợ làm tan bao giấc mơ hoa triền miên”. Rất nhẹ êm. Bãng lãng.
Xuân triền miên, nay còn là tâm tình của người em ở đời, rồi sẽ hát:
“Anh yêu nét hồn nhiên
Yêu biết bao khi em ngồi khuất rèm
Đôi tay nhấp đường kim
Làn môi hé cười thần tiên.”
(Hoàng Trọng – bđd)
Nét hồn nhiên, mà bạn và tôi, ta vẫn yêu, phải chăng là như thế? Hay, vẫn như lời thánh Phaolô tông đồ lại đã diễn giải cho bạn thân mình, là đồ đệ Timôtê rất thân và rất mến, như sau:
“Quả thế,
người ta sẽ ra ích kỷ,
ham tiền bạc, khoác lác,
kiêu ngạo, nói lộng ngôn,
không vâng lời cha mẹ,
vô ân bạc nghĩa, phạm thượng,
vô tâm vô tình, tàn nhẫn, nói xấu,
thiếu tiết độ, hung dữ, ghét điều thiện, phản trắc,
nông nổi, lên mặt kiêu căng,
yêu khoái lạc hơn yêu Thiên Chúa;
hình thức của đạo thánh thì họ còn giữ,
nhưng chính cái chính yếu thì lại chối bỏ.
Anh hãy xa lánh cả những người ấy.”
(2Tm 3: 2-4)
Nên chăng, ta hãy lánh xa cả người ta yêu, lẫn điều ta mến? Có phải, điều ta yêu và người mà ta mến, là “tình tự” được diễn tả, rất như sau:
“Lòng bồi hồi mơ ước
Đường hoa thắm đôi ta cùng chung bước
Đời chẳng còn thương nhớ
Vì duyên ta đẹp tình thơ”.
(Hoàng trọng – bđd)
À thì ra, Những gì ta yêu mến, dù người hay vật. Chim khuyên, hay muông thú, vẫn là những tâm tình, rất tự sự, được “vua Tango” diễn bày bằng lời thơ rất âm vang thi tứ như lời ca, ta hát tiếp:
“Hương thơm ngát đồng xanh
Ta sống yên vui trên mảnh đất lành
Đêm đêm ngắm trời xa
Tình quê thấy lòng nở hoa.”
(Hoàng Trọng – bđd)
À thì ra, là như thế. Tình yêu, với lòng người. Và, lòng người đối với tình yêu, vẫn là tình tự rất “hương thơm ngát đồng xanh”. Rất, “sống yên vui trên mảnh đất lành”, của quê nhà. Ta yêu dấu. Là, Nước Trời dấu yêu, ở trần gian. Lan man, một trìu mến
Yêu như thế, phải chăng là yêu rất nhiều?
Hy sinh như thế, phải chăng là mất đi tình yêu? Thứ tình rất hy sinh, mà nhiều người đã tìm thấy nơi truyện kể, rất ngắn gọn. Ở bên dưới:
“Truyện rằng:
Người đọc báo bất chợt nhận ra mẩu quảng cáo nhỏ, có giòng chữ gọn nhẹ, đại để cùng mang một ý nghĩa gẫy gọn sau đây:
-“Em đây vẫn muốn chồng, bạn nào giới thiệu có được không?”
Tức tốc hôm sau, người rao vặt nhận được cả trăm thư trả lời. Rất rối bời. Như sau:
-Em đến mà nhận chồng chị đi! Đừng lo lắng chuyện tiền bạc. Hoàn toàn miễn phí.”
Truyện kể ở trên, thoạt nghe tưởng chừng như “hư cấu”. Đời này, làm gì có chuyện tặng-không/biếu-không, những ông chồng. Nói thế há bảo rằng: yêu, vẫn chỉ là miễn phí? Và, kiếm tìm người yêu lại là chuyện dễ làm? Nếu thế, kiếm tìm “Thiên-Chúa-là-Tình-Yêu”, thì sao? Hỏi ở đây, phải chăng: đã trả lời?
Có thể lắm. Nhưng, trả lời của ai đó, vẫn mang tính đa dạng. Chuyển biến. Rất không thuần. Thuần sao được, khi ý kiến của phần đông các người trẻ, vẫn đa dạng. Như người trẻ ở Úc có tên là Eng Chan, đã tự thuật về quãng ngày dài thiếu tình yêu. Thiếu những điều, như sau:
“Tất cả bắt đầu từ cái ngày mà mọi người ở quê tôi gọi là Đầu Năm niên lịch Kampuchia. Tôi sống 4 năm liền, dưới chế độ của người Khmer Cộng sản. Bấy giờ, không ai kiếm đâu được của ăn. Thức uống. Mọi người đều nhận lệnh: phải rời nhà chỉ vài ngày thôi, sẽ về lại. Chẳng có gì đáng ta ưu tư/thắc mắc, hết. Thế nhưng, sự thật thì khác. Bốn năm trời ròng rã, bọn tôi đã thiếu rất nhiều. Thiếu cả tình yêu. Điều đó, hiện rõ nơi tâm tư bé nhỏ của chúng tôi. Làm sao quên được cảnh người dân hiền lành ở Căm Bốt, cứ bị dắt ra nơi đồng không mông quạnh, mà bắn bỏ. Giữa ban ngày ban mặt. Khi ấy, mọi sự đều bị hủy hoại. Tất cả, đều nghèo đói. Thiếu tình người. Vì quá đói, bé em nào cũng phải lò mò đến từng nhà, mà xin ăn. Mỗi ngày, bọn tôi mỗi người chỉ được phép nhận chừng lưng bát cơm. Và một chút sữa đặc có đường. Thế thôi. Chẳng ai lý gì đến bọn trẻ chúng tôi. Và, cũng chẳng còn ai biết thương ai. Còn lại, chỉ là giết chóc. Bạo tàn. Bất nhân, vẫn diễn ra hằng ngày. Ở quê tôi” (x. Sophie Seuk, Australian Catholics, Spring 2010, tr. 23)
Tâm tư người Khờ-me trẻ, là như thế? Còn, tâm tư của nghệ sĩ mình, lại như sau:
“Một mái tranh nghèo, lo gì nắng mai hay mưa chiều
Mộng ngát đôi lòng trăng, hạnh phúc ta cùng soi bóng
Đồng lúa thơm lành, ta cầy cấy chung lo gia đinh
Cuộc sống thanh bình
Ôi bài hát muôn đời thắm tình.”
(Hoàng trọng – bđd)
Lúa thơm lành. Thanh bình. Là thế đó. Có là chốn ấm êm nhà Đạo, ở Nước Trời? Ở nơi ấy, người đời vẫn tha thiết với giá trị của tình thương yêu, không? Yêu đằm thắm. Lắm tình người. Nơi gia đình. Nơi mọi người vẫn cứ ăn và cứ uống. Vẫn thương yêu. Nguyện cầu. Như mọi lúc. Đó, là tâm tình được người viết mang tên Elizabeth Gilbert đưa vào phim có tựa đề, là: “Ăn uống. Nguyện cầu. Và, thương yêu”, lấy bối cảnh Ấn Độ làm nền cho truyện kể để nêu lên.
Cũng trong chiều hướng tìm hiểu về đời thường, của mọi người, vừa qua cơ quan nghiên cứu có tên là The National Marriage Report bản doanh đặt tại Đại Học Đường Virginia, Hoa Kỳ đã thực hiện một khảo sát mang tên “Hôn Nhân Cùng Nhau Nguyện Cầu: Giòng Giống, Sắc Tộc, Tôn Giáo và Phẩm Chất Tương Quan Giữa Những Người Trưởng Thành” xuất hiện trên tờ Journal of Marriage and Family số tháng 8/2010 cùng với hai nhà xã hội học mang tên Christopher G. Ellison và W Bradford Wilcox, đã bày tỏ ý kiến đúc kết về thương yêu/hạnh phúc của các cặp phối ngẫu trong đời, như sau:
“Các cặp phối ngẫu da mầu nào không cùng nhau nguyện cầu, thường dễ thực hiện nhiều điều tồi tệ hơn các cặp hôn nhân da trắng. Khảo sát, nay cho thấy tôn giáo vẫn là yếu tố làm dịu bớt sự rẽ chia mang tính sắc tộc. Đó là nói về phẩm chất của các tương quan giữa người với người. Tại Mỹ. Sức sống ở đời người Mỹ gốc Phi Châu đem đến cho họ một lợi thế hơn hẳn các người Mỹ khác, đó là nói về quan hệ bình thường. Lợi thế, mà họ thấy mình hơn hẳn các cặp phỗi ngẫu khác nói chung, ở nơi này.
Thông thường, nhiều người vẫn có thói quen bảo rằng: tôn giáo chẳng đem lại lợi lộc gì cho hôn nhân, hết. Nhưng, cặp phối ngẫu nào thấy xung khắc trong niềm tin tôn giáo; và nhất là các cặp trong đó chỉ một bên chịu đến nhà thờ sinh hoạt đều đặn, thì khảo sát cho biết: các cặp ít đi sinh hoạt, sẽ thấy hạnh phúc của mình kém cỏi hơn. Với các cặp phối ngẫu da mầu/sắc tộc, thì: khác biệt trong sinh hoạt tôn giáo là nguồn gốc dẫn đến mọi căng thẳng. Điều này chứng minh được, là: do họ ít bỏ giờ ra mà ở với nhau, để cùng nhau làm một việc gì đó có tính tập thể, như nguyện cầu. Hoặc, do họ có khác biệt trong cung cách nuôi dạy con cái, hoặc qua việc sử dụng quá nhiều rượu bia, nhiều thứ khác nữa.” (x. Carolyn Moynihan, Mercator Net 24/8/2010 )
Nói như thế, là nói về tình thương yêu có khác biệt. Về sắc tộc. Khác niềm tin, giáo dục và gì gì nữa, vẫn rất nhiều. Nhưng, có khác chăng về bản chất đạo đức? Một lần nữa, hỏi ở đây tức: đã trả lời rồi. Trả lời, theo góc độ/nhân sinh quan mình nhận xét. Theo tâm trạng mình đang có, lúc nhận định. Dù sao đi nữa, cũng nên nghe thêm nhận định khác của nghệ sĩ trích ở trên, từng vui hát:
“Hôm qua đến tìm em
Anh thấy hoa xuân rơi đầy trước thềm
Bâng khuâng bước nhẹ êm
Sợ làm tan bao giấc mơ hoa triền miên.”
(Hoàng trọng – bđd)
Nói và hát những lời như thế, tức: vẫn bảo với người-tôi-yêu, hoặc người-yêu-tôi, rằng:
“Anh yêu nét hồn nhiên,
Yêu biết bao khi em ngồi khuất rèm,
Đôi tay nhấp đường kim,
Làn môi hé cười thần tiên.”
(Hoàng trọng – bđd)
Nếu bảo rằng, với nghệ sĩ ở đời, một khi họ những đề cao/tuyên dương “tình yêu” đến như thế, thì chắc hẳn chàng và nàng là thánh nhân? Gọi họ là thánh nhân, là bởi: nếu ta chịu khó làm một thứ tam-đoạn-luận bỏ túi, bảo rằng: Thiên Chúa là Tình Yêu. Hễ ai ngợi khen/tuyên dương Tình Yêu, chắc chắn người ấy/vị ấy đã tuyên dương/ngợi khen Thiên Chúa, rồi. Và trên đời, chỉ có thánh nhân mới hiểu biết hoặc đề cao/tuyên dương Thiên Chúa đến thế, mà thôi. Có là thánh nhân, mới cảm nhận ý/từ rất Tango, mỗi khi hát câu “Làn môi hé cười thần tiên.” Và, hạnh phúc cuộc đời có là gì, nếu không biết “hé cười thần tiên” ở mọi nơi, trong mọi lúc?
Để minh hoạ cho những gì mà tôi và bạn, ta vừa đặt dấu chấm hỏi cho tam-đoạn-luận ở trên, tưởng cũng nên đưa thêm dăm ba truyện kể nhè nhẹ. Ý nhị. Nhưng không dị. Như sau:
“Ngày nọ, có nhà tỷ phú dắt người con cưng về chốn dân dã xem thiên hạ sống thế nào mà sao họ không thấy họ bị căng thẳng thần kinh, rất linh tinh, như người thị thành. Hai cha con về sống vài ngày tại nơi mà người dân thị thành cho rằng đời sống rất khó khăn. Hôm trở về, người cha bèn gọi con lại hỏi anh xem có nhận xét gì về chuyến đi ấy:
-Con thấy thế nào? Chuyến đi vừa rồi có đem đến cho con điều gì khác lạ không?
-Dạ, con thích lắm, ba.
-Thế hả? Con thấy cuộc sống của người miền quê, cũng hạnh phúc đấy chứ? Có khác dân thành thị mình hay không, thế?
-Dạ khác lắm, ba.
-Đâu khác chỗ nào, con nói cho ba nghe coi!
-Theo con thấy, thì như: ở thành thị, ta chỉ nuôi nổi một hai chó con thôi. Còn ở nơi dân dã, họ nuôi tới ba bốn con, cũng không lấy làm nhiều. Ở thành phố, ta chỉ lo nổi mỗi hồ bơi nhỏ, ở giữa vườn. Còn họ, họ có rất nhiều khúc sông, quanh năm nước chảy mút mùa lệ thủy. Ở đây, ta vẫn cứ phải nhập cảng bóng đèn điện để gắn nơi vườn, cho nó sáng. Còn họ, họ đâu cần gì đến đèn với đóm, đã có ngàn sao lấp lánh chiếu sáng ban đêm, rồi. Ngồi trước nhà, ở đây ta ta chỉ thấy những là cổng trời nho nhỏ, mà thôi. Còn họ, ngồi trong nhà, mà đã thấy đủ mọi thứ kéo đến từ chân trời rộng lớn. Ta có mỗi vuông đất rất chật bao quanh căn nhà rất nhỏ bé. Còn họ, lại có gần như cả một thửa ruộng cò bay thẳng cánh, chẳng ai ham. Ở chốn thị thành, ta luôn cần đến mấy chị “Ô-shin” để sai vặt. Còn họ, họ cứ tự lo lấy cho nhau, chẳng nhờ vả chi ai. Ta bỏ ra biết bao nhiêu là tiền của để mua sắm đồ ăn cùng thức uống, mà nuôi thân. Còn họ, họ vẫn tự túc nuôi trồng, tự lo sống. Nhà cửa ở chốn thị thành, ta vẫn phải dành cho có tường rào bao quanh, sợ mất mát thứ này thứ khác. Còn họ, họ chẳng cần gác dan hay bảo vệ mà lúc nào cũng có bạn bè tốt luôn giúp đỡ, yêu thương như người nhà…”
Yêu thương như người nhà. Chung sống an hoà, như bà con. Phải chăng, là hạnh phúc? Phải chăng ý kiến của người con là nhận định rất chính xác về hạnh phúc sống ở đời? Và một phải chăng nữa, cũng nên hỏi, là: có nên thêm đây lời của khảo-sát-gia W. Bradford Wilcox nói trên, để có một nhận định khá vững về những hiện thực trong cuộc sống rất Đạo của nhiều người? Như sau:
“Về với cơ ngơi/mái ấm tình người của nhà mình, kết quả cho ta thấy: nếu tích lũy tình thương yêu thật rõ nét, nhiều ý nghĩa, ta sẽ nhận ra rằng: nghĩ suy và thực hiện niềm tin yêu nguyện cầu, rồi ra ta sẽ đạt thành công, thôi. Trong quá khứ, có nhiều nghiên cứu/khảo sát cho thấy: tha thứ, vẫn có ảnh hưởng rất nhiều đến quan hệ vợ chồng. Đến, cả tương quan giữa người với người. Đến cuộc sống gia đình và cả những sinh hoạt lao động nơi sở làm của mình, nữa.” (x. Carolyn Moynihan, bđd).
Bởi thế nên, hỡi bạn và tôi, ta cứ vui lên mà nguyện cầu. Vui mãi, mà thương yêu trong mọi tình huống hoặc thời khắc của cuộc đời. Cứ vui đi, rồi ra ta sẽ thấy rất khá. Khá, về Đạo. Khá, cả về đời.
Trần Ngọc Mười Hai
Vẫn kêu gọi bầu bạn
và cả tôi nữa,
hãy cứ thế nhận thức.
Và hiện thực
cho đời mình.
“Dù đôi tay buông xuống”
Chúng mình vẫn tin tưởng.
Chúng mình vẫn say sưa.
Chúng mình vẫn nhìn vào mắt nhau,
để mở một chân trời rất rộng…”
(thơ Nguyên Sa)
Lc 18: 1-8
Nhà thơ, xưa nay vẫn tin tưởng. Dù, đôi tay có buông xuống. Nhà Đạo, lâu rày vẫn nhủ nhắn: hãy chuyên chăm nguyện cầu, đừng nản chí. Dù, chỉ đạo đạt lên quan àn đôi điều, như trình thuật hôm nay, rày đề cập.
Trình thuật, nay đề cập về những thỉnh cầu, chốn dân gian. Thỉnh và cầu, theo hình thức khác nhau. Từ chúc tụng, tạ ơn cho chí cầu bàu. Thỉnh và cầu, là những ý thỉnh, nhờ thần khí. Lẫn câu kinh. Thỉnh cầu, là chiêm ngắm. Tụng niệm. Là, suy tư nguyện cầu trong im ắng. Riêng tư. Quyết thực hiện cùng một động thái với người khác, ở nguyện đường. Động thái, mà Hội thánh quen gọi là nghi thức Phụng vụ.
Bài đọc hôm nay tập trung vào những thỉnh cầu ta dâng Chúa hầu khẩn nguyện cho mình có được những điều mình cần, chứ không phải cầu được những gì mình muốn.
Bài đọc 1, kể về động thái thỉnh nguyện của Môsê vẫn phấn đấu, giơ tay mà cầu khẩn mỗi khi ông giơ tay nguyện cầu, để dân con người Do Thái mỹ mãn đạt mộng ước. Cứ mỗi lần ông nản chí/rã rời, thì người người đều thất bại. Lở dở. Và khi đó, là lúc ông cần hỗ trợ. Và vì thế, ông cứ phải giơ cao, giơ cao mãi cho đến khi đạt thắng lợi, mới thôi. Diễn tả ý/lời một khẩn nguyện ra như thế, dân con Đạo Chúa không cố ý phổ biến tệ nạn dị đoan, mê tín. Nhưng, chỉ muốn đưa ra một đề xuất, là: không có Chúa phụ giúp, người người chẳng bao giờ thành đạt, dù việc nhỏ.
Trình thuật, nay kể về dụ ngôn quan trên đối xử với bà goá nghèo, rất thấp hèn, là có ý bảo: mọi người trong/ngoài Đạo vẫn cứ nên kiếm tìm sự công chính/an vui, để mà sống. Giả như các quan trên ở đời chẳng lý gì chuyện kính sợ Thiên Chúa, là Đấng Oai Nghi đầy Quyền Phép, rất trên cao; và giả như người người, ở đời, không còn biết thỉnh cầu/khấn nguyện Đức Chúa nữa, thì: Thiên-Chúa-là-Tình-Yêu có đoái hoài đến người con đáng thương/vô vọng như bà goá, nữa không? Bài học nay Chúa gửi, qua dụ ngôn, vẫn là: hãy chuyên chăm nguyện cầu. Đừng nản chí.
Hãy chuyên chăm nguyện cầu, phải chăng thánh sử bảo: Hội thánh luôn khích lệ dân con nhà Đạo hãy cứ thế mà làm, với Đức Chúa? Chuyên chăm nguyện cầu, còn là: đừng nên xin xỏ nhiều thứ rất vật chất, như: trúng số, thi đậu. Hoặc, của dư của để, hầu mua sắm xe/nhà, các thứ như nữ trang/đồ đạc, dù vẫn cần. Trái lại, chỉ nên cầu nguyện sao cho Danh Cha cả sáng. Nước Cha trị đến. Thánh ý Cha thể hiện.
Thật ra, nhân vật đóng vai “bà goá” ở dụ ngôn, chỉ muốn nguyện cầu và khẩn khoản xin thực hiện những gì Chúa muốn bà làm trong cuộc sống, mà thôi. Ở đoạn khác, Đức Giêsu đã chẳng so sánh Thiên Chúa với Người Cha Hiền ở đời vẫn lưu tâm đến người con lưu lạc khắp nơi, chốn nợ đời này sao? Có bao giờ, Ngài ban cho dân con mình những là sỏi đá, thay cơm bánh? Có bao giờ, Ngài lại ban cho đàn con mình, những bò cạp/rắn rết khi con mình cần trứng ăn? Và, Chúa kết luận: cha hiền ở trần thế mà còn biết thế, huống hồ là Cha các con ở trên Trời, lại không biết sao?
Thiên Chúa chỉ ban bố cho dân con mình những điều tốt đẹp, khi họ kêu cầu Ngài những điều cần, mà thôi. Với thánh Luca, điều cần mà Chúa phú ban, là: gửi Thần Khí Chúa đến với ai kêu cầu. Chứ, không phải cơm bánh hằng ngày.
Vấn đề đặt ra hôm nay, là hãy hỏi: điều tốt đẹp Chúa vẫn ban cho con cái Ngài ở trần gian, là những gì? Có khi nào, con cái Chúa xin Ngài ban Thần Khí đến, mà Ngài lại từ chối, không? Điều cốt yếu, là: ta có cầu và có xin Chúa ban Thần Khí Ngài đến như thế, ta mới có thể giúp đỡ, thương yêu và phục vụ Ngài, cho tốt hơn.
Có cầu khẩn Thần Khí Chúa đến với mình, người người mới hiểu ý nghĩa sâu lắng, của Lời Ngài. Có cầu và khẩn theo cách thích hợp, ta mới trở thành sợi giây liên kết chuyển đạt tình thương của Ngài đến với mọi người được. Có nguyện cầu như thế, người người mới hiểu rõ ý Chúa. Và, khi hiểu được ý định của Chúa như thế, ta mới hoà hợp vào với ý muốn của riêng ta. Và khi ấy, cả hai sẽ nên một. Một lòng muốn. Một ý định. Và như thế, ta sẽ đạt mục đích như Chúa chờ mong.
Hiểu rõ dụ ngôn hôm nay, là hiểu theo nghĩa như thế. Tuy nhiên, cũng có người hiểu dụ ngôn theo cung cách phân vai trong kịch bản, ở ngoài đời. Phân vai kịch bản ở đời, thường người chỉ phân cho Chúa vai trò quan án như dụ ngôn. Còn chính mình, lại những muốn đảm nhận vai trò của bà goá, rất khiêm nhu. Từ tốn. Đảm nhận như thế, là để không còn quấy rầy Chúa bằng những xin xỏ/cầu kinh, quyết liệt. Quyết đạt cho được, điều mình mong muốn, rất khẩn khoản.
Nữ tu Melanie Svoboda, đặt giả thiết theo cách khác. Chị hỏi rằng: chuyện gì sẽ xảy đến nếu ta đổi cách phân vai khác với điều lâu nay mọi người vẫn làm, là: thay vì trao cho Chúa vai trò của quan án, ta tặng Ngài vai trò của bà goá? Đổi vai như thế, rất có lý và thích hợp. Thích hợp, là bởi: giống như phần đông quan án ở đời vẫn bất công. Không tuởng. Bất công đến độ, chẳng ai còn biết kính sợ Chúa nữa. Bất công là ở chỗ: ta không cho phép Chúa can dự vào đời sống riêng tư, của ta.
Giống quan án đời thường, người người vẫn kiên trì từ chối. Chẳng chịu nghe. Chẳng chịu nghe biết lời kêu van/khẩn cầu của người nghèo hèn/cùng khốn, sống quanh ta. Giống quan án/đấng bậc ở đời thường, là ở chỗ: ta không còn thiết tha chuyện người khác, tức những người vẫn muốn ta ngó ngàng. Giùm giúp.
Giả như Chúa chịu đóng vai trò bà goá như dụ ngôn hôm nay, chắc chắn Ngài sẽ kiên trì chờ đợi mọi người đến cầu khẩn. Ngài cũng sẽ không bỏ đi, nếu dân con của Ngài là quan án, cũng kêu nài. Ngài vẫn chờ và vẫn đợi đàn con thân thương có quyết định quan trọng, liên quan đến cuộc sống. Ngài đợi và chờ, cả khi người người nói tiếng “KHÔNG”, trong yêu thương. “KHÔNG”, cả khi mọi người cần giùm giúp. “KHÔNG” cả vào các chuyện cần chính trực.
Trái lại, Ngài vẫn kiên trì chờ đợi cho đến khi đàn con thân thương của Ngài thực hiện điều tốt đẹp, Ngài hằng khuyên bảo. Thực hiện động thái yêu thương, Ngài từng dạy. Và giống như Ngài, đàn con thân thương, ở dưới thế, sẽ thực hiện động thái yêu thương gửi đến mọi người. Bởi, như sách Khởi nguyên từng viết: con người là thụ tạo được dựng nên theo ảnh hình của Chúa. Nhưng, làm sao trở thành ảnh hình của Chúa được, khi Ngài vẫn yêu thương mọi người, mà mọi người chẳng buồn yêu thương nhau, như Ngài muốn?
Thành thử, mỗi khi nguyện cầu/khấn vái, ta cũng nên xin Chúa là Đấng rất kiên trì/bền vững trong đợi chờ, hãy khiến cho đàn con Ngài ở dưới thế, ngày càng trở nên giống hình ảnh, của Chúa hơn.
Trong khấn nguyện như thế, ta lại sẽ hân hoan hát lên lời ca hưng phấn, rất đợi chờ, rằng:
“Con ơi, con ơi tiếng cười nở chan hòa
Nhớ tới, nhớ tới biết bao trẻ thiếu nhà
Ngoài đường trời đông giá
Một đàn chim nhỏ bé
Gọi về chia sớt miếng cơm khoanh cà.”
(Phạm Duy - Người Về)
Khấn và nguyện, là cầu sao cho ý Chúa được thực hiện, với mọi người. Nguyện và khấn, là cầu sao cho người người được lĩnh nhận tình thương yêu Chúa dạy, bằng cuộc sống rất đời thường. Rất chuyên chăm. Giùm giúp và ủi an, như Chúa đã và đang làm cho ta.
Lm Phan Đỗ Thục Linh
Mai Tá diễn dịch.